A. LỜI MỞ ĐẦU.
Việt Nam đang bước vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong quá trình ấy,
việc tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò hết sức quan trọng. Một mặt, nó giúp
chúng ta tích lũy nguồn vốn cho xây dựng và phát triển kinh tế, mặt khác, tạo điều kiện để
nước ta rút ngắn khoảng cách về kinh tế với các nước khác trên thế giới. Trong cơ cấu thu
hút đầu tư quốc tế, viện trợ phát triển chính thức (ODA) có ý nghĩa khá quan trọng vì
những ưu thế không thể phủ nhận của nó.
Nhận thức được điều đó, bài tiểu luận của em sau đây xin đi sâu tìm hiểu đề tài:
Vấn đề thu hút ODA tại Việt Nam, từ đó đưa ra những cái nhìn chung nhất về nguồn vốn
đầu tư quốc tế này.
B. NỘI DUNG CHÍNH.
I. KHÁI NIỆM VỀ ODA.
1. Định nghĩa:
ODA (Offical Development Assistance - Viện trợ phát triển chính thức) là “các
khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay vốn với những điều kiện ưu đãi của các
Chính phủ hoặc tổ chức quốc tế dành cho Chính phủ các nước đang và chậm phát triển
nhằm ổn định hoặc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế bền vững của các quốc gia này”
(1)
.
2. Đặc điểm của nguồn vốn ODA:
Xét về khía cạnh kinh tế, ODA có những đặc điểm sau:
- Đây là luồng vốn có tính chất một chiều: các nước cấp vốn là các nước công
nghiệp phát triển, các nước có thu nhập cao, các tổ chức quốc tế,… còn các nước nhận
vốn là các nước đang phát triển có thu nhập thấp hay gặp khó khăn vè kinh tế.
- Chủ thể cấp vốn và vay vốn đều là Chính phủ các nước hoặc các tổ chức quốc tế.
Trong mọi trường hợp, chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng luôn là Chính phủ.
- Bao gồm 2 phần rõ rệt: phần viện trợ không hoàn lại (chiếm 25% tổng vốn ODA)
và phần cho vay với các điều kiện về lãi suất ưu đãi (chiếm 75%). Lãi suất thấp: dưới
3%/năm, trung bình thường là: 1-2%/năm. Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn
dài: 25- 40 năm mới phải hoàn trả lại, thời gian ân hạn: 8-10 năm.
1
Bất lợi:
2
- Hiệu quả sử dụng vốn thấp, dẫn đến đầu tư lãng phí, nảy sinh tham nhũng, trì trệ.
- Làm tăng dư nợ trong nước khi không có khả năng trả nợ trong thời gian dài, làm
nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nước ngoài, có thể dẫn đến vỡ nợ.
- Sử dụng ODA không có chính sách ưu tiên rõ rệt càng làm tăng sự phân hóa
thành thị nông thôn, gây bất ổn định xã hội.
II. THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ ODA TẠI VIỆT NAM.
1. Các nhà tài trợ và lĩnh vực ưu tiên cho Việt Nam.
Đối với Việt Nam, trước năm 1993, nguồn viện trợ chủ yếu là từ Liên Xô cũ và các
nước thành viên Đông Âu. Nhưng kể từ khi nối lại quan hệ với cộng đồng các nhà tài trợ
quốc tế năm 1993 thì cho đến nay, Việt Nam có trên 45 tổ chức tài trợ chính thức đang
hoạt động với khoảng 1500 dự án ODA và trên 350 tổ chức phi chính phủ đang có tài trợ
cho Việt Nam. Sau đây là bảng một số nhà tài trợ và các lĩnh vực ưu tiên ở Việt Nam
(2)
:
Nhà tài trợ Ưu tiên toàn cầu Ưu tiên ở Việt Nam
Nhật Hạ tầng kinh tế và dịch vụ Hạ tầng kinh tế và dịch vụ
Đức
Phát triển kinh tế, cải thiện điều
kiện sống
Hỗ trợ cải cách kinh tế, phát
triển hệ thống giao thông.
Mỹ
Tăng cường kinh tế, ổn định dân
số và sức khỏe
Cứu trợ nạn nhân chiến tranh và
trẻ em mồ côi.
Pháp
luôn coi trọng và quan tâm đến việc huy động các nguồn ODA. Trước hết, để duy trì lòng
tin đối với các nhà tài trợ nhằm duy trì các nguồn cung cấp ODA đang khai thác, chính
phủ Việt Nam đã tạo ra khung phát lý cho việc khai thác và sử dụng nguồn vốn ODA
thông qua việc ban hành các chính sách và văn bản pháp lý cụ thể điều tiết các hoạt động
liên quan đến ODA. Bên cạnh đó, để tăng khối lượng nhận viện trợ Việt Nam cũng đã
chủ động tìm kiếm các nguồn cung cấp ODA, tăng cường mở rộng các mối quan hệ với
các quốc gia, tổ chức quốc tế, chủ động đưa ra những khó khăn, những lĩnh vực cần được
sự hỗ trợ và đưa ra những cam kết trong việc quản lý và sử dụng vỗn của các nhà tài trợ.
3. Tình hình thu hút vốn ODA tại Việt Nam.
a. Giai đoạn 1993 – 2000:
Giai đoạn này đã đánh dấu sự quay trở lại Việt Nam của các nhà tài trợ song
phương và đa phương sau một thời gian ngừng cung cấp các chương trình, dự án viện trợ
(trừ một số nước Bắc Âu). Nó bắt đầu bằng sự kiện quan trọng 10/1993 khi quan hệ của
ta với quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), ngân hàng thế giới (WB), ngân hàng Châu Á (ADB)
được khai thông. Hội nghị các nhà tài trợ vào tháng 11/1993 ở Pari mở ra giai đoạn hợp
tác phát triển mới giữ nước ta và cộng đồng các nhà tài trợ. Từ đó Việt Nam đã tranh thủ
được sự viện trợ từ phía quốc tế thông qua những cam kết về ODA cho Việt Nam. Thêm
vào đó, năm 1994, Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm vận và mặt khác, nước ta tiến hành cải cách kinh
tế theo cơ chế thị trường đã mang lại những thành công bước đầu, mà cụ thể là luồng vốn
ODA cho Việt Nam đã tăng nhanh chóng. Cụ thể theo bảng số liệu ODA
(3)
dưới đây:
Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Vốn ODA
cam kết
1,81 1,94 2,26 2,43 2,40 2,26 2,15 2,40
Tổng cộng 17,65
(đơn vị: tỷ
USD)
b. Giai đoạn 2001 – 2005:
tác xoá đói giảm nghèo đạt được những kết quả rõ rệt; nhiều vấn đề phát triển xã hội đạt
được những tiến bộ khích lệ. Việc chủ động hội nhập quốc tế được triển khai tích cực đã
Năm 2001 2002 2003 2004 2005
Vốn ODA
cam kết
2,40 2,46 2,84 3,40 3,75
Tổng cộng 14,85
5
(4) Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
tạo ra một môi trường rất thuận lợi để vận động ODA hỗ trợ cho sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội trong 5 năm 2001 - 2005.
c. Giai đoạn 2006 – 2010:
Có thể nói, giai đoạn này đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình thu hút vốn
đầu tư ODA của Việt Nam. Tổng giá trị vốn ODA của giai đoạn 2006 – 2010 gần gấp đôi
so với giai đoạn 5 năm trước đó. Điều này thể hiện ở bảng số liệu ODA
(5)
sau:
Năm 2006 2007 2008 2009 2010
Vốn ODA
cam kết
4,44 4,45 5,43 5,01 8,06
Tổng cộng 27,39
(đơn vị: tỷ USD)
Riêng năm 2010, mức ODA đã đạt kỷ lục từ trước đến nay khi hội nghị CG
(6)
cho
Việt Nam bế mạc chiều ngày 4/12/2009 với mức cam kết viện trợ phát triển chính thức
(ODA) dành cho Việt Nam là hơn 8 tỉ USD, vượt xa kỷ lục 5,4 tỉ USD trước đó tại Hội
nghị CG 2007. Trong đó, mức cam kết của các nhà tài trợ đa phương là hơn 4,51 tỉ USD,
của các nhà tài trợ song phương đạt hơn 3,29 tỉ USD, các tổ chức phi chính phủ cam kết
Sau hơn 20 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế
và tiến bộ xã hội vượt bậc, được dư luận trong nước và quốc tế thừa nhận rộng rãi. Nền
kinh tế nước ta tăng trưởng liên tục với tốc độ bình quân 7,5%/năm. Mức đói nghèo giảm
từ trên 50% vào đầu những năm 90 xuống còn khoảng 24% năm 2004 và chỉ còn trên
10% vào năm 2008. Cho đến năm 2009, cả nước Việt Nam hiện có khoảng 2 triệu hộ
nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số
(7)
.
Việt Nam là một nước đang phát triển, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất
nước gặp không ít khó khăn do cơ sở hạ tầng, vật chất yếu kém. Nguồn vốn ODA đã tạo
điều kiện không nhỏ để chúng ta xây dựng cơ sở vật chất nhằm phục vụ cho quá trình
phát triển kinh tế. Những dự án lớn, những công trình trong lĩnh vực trọng yếu như giao
thông và điện đã hoàn thành và đưa vào sử dụng góp phần tạo điều kiện cho Việt Nam
mở rộng tái sản xuất, tạo môi trường thuận lợi thu hút nguồn vốn trong nước và vốn đầu
tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Bên cạnh việc cung ứng về vốn, các dự án ODA còn mang lại công nghệ, kỹ thuật
hiện đại, nghiệp vụ chuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến. Ngoài ra, việc thu hút
nguồn vốn ODA nói chung còn khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách của Nhà nước.
Đối với một số lĩnh vực xã hội khác:
7
(7) Nguồn: www.vi.wikipedia.org
Các chương trình, dự án ODA đã đóng góp trực tiếp vào những tiến bộ này thông
qua việc hỗ trợ đầu tư vào hạ tầng cơ sở, y tế, giáo dục, phát triển công nghệ và cải cách
hành chính. Những tiến bộ khác trong việc đạt được các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ
(MDGs) của Việt Nam và thế giới cũng rất ấn tượng như phổ cập giáo dục tiểu học, giảm
tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi từ 58/1000 vào năm 1990 xuống còn 31/1000 năm 2004.
Thêm vào đó, việc thu hút ODA trong thời gian qua góp phần quan trọng trong việc
thực hiện thành công chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá, giữ
vững độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia. Biểu hiện của điều này chính là việc nước ta
đoạn sau năm 2010, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt trên 1.050 USD. Do
vậy, tỷ trọng nguồn vốn ODA có điều kiện ưu đãi cao trong tổng vốn ODA thời gian tới
sẽ giảm xuống, đồng thời vốn vay ODA có điều kiện gần với điều kiện vốn vay thương
mại có thể sẽ tăng lên. Vì lẽ đó, chúng ta phải biết được xu hướng ấy để trong giai đoạn
trước mắt, tranh thủ vận động, thu hút và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn ODA
mà nước ta đang có được.
Ở đây, các giải pháp tập trung ở các điểm sau:
Hoàn thiện chiến lược thu hút và sử dụng ODA.
Nâng cao chất lượng công tác, lập danh mục dự án kêu gọi đầu tư.
Đa dạng hóa các phương thức vận động ODA: đẩy mạnh thu hút vào những
ngành, những địa phương còn chậm phát triển, tạo động lực lớn giúp những ngành, địa
phương đó theo kịp sự phát triển chung.
Hoàn thiện các quy định pháp lý về ODA:
- Chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng.
- Cơ chế vốn đối ứng: vốn đối ứng là giá trị các nguồn lực, tiền mặt huy động trong
nước để chuẩn bị và thực hiện các chương trình, dự án ODA theo yêu cầu.
Chuẩn bị cho thời kỳ "hậu ODA'': Sau năm 2010, Việt Nam không còn là nước
được ưu đãi ODA nữa. Do vậy, chúng ta cần chuẩn bị để đối phó được với vấn đề này:
- Đánh giá đúng mức độ tăng trưởng GDP:
Việc xác định đúng mức độ tăng trưởng GDP trong những năm sắp tới là hết sức
cần thiết. Không thể vì thành tích mà tự nhận mình là quốc gia có thu nhập đầu người đạt
ngưỡng 1.000 đô la. Thậm chí cũng nên chấp nhận thực tế nếu kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội giai đoạn 2006-2010 có nhiều chỉ tiêu không đạt, trong đó có chỉ tiêu về GDP.
9
(8) MPI: Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
(9) IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế.
Như vậy, không những chúng ta tự đánh giá đúng về bản thân mà còn có thể kéo dài thời
hạn ưu đãi ODA từ các nhà tài trợ.
- Đẩy mạnh công tác quản lý ODA:
Tính từ thời điểm này, chỉ còn gần một năm nữa để thực hiện kế hoạch phát triển
- www.mof.gov.vn
- www.vnexpress.com
- www.tailieu.vn
- www.google.com.vn
- Cổng thông tin Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
5. Một số bài báo, bài tiểu luận khác.
11
12