Lêi nãi ®Çu
Hàng năm các nhà tài trợ lớn trên thế giới lại tổ chức Hội nghị viện trợ quốc tế để
vận động tài trợ cho các nước đang phát triển. Đối với Việt Nam, Hội nghị viện trợ diễn
ra vào tháng 11 năm 1993 tại Paris – thủ đô nước Pháp dưới sự chủ trì của Ngân hàng
thế giới (WB) đã đánh dấu một bước đi mới trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và
cộng đồng tài trợ quốc tế, đây cũng chính là điểm khởi đầu cho quá trình thu hút ODA
vào Việt Nam.
Cùng với Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Viện trợ phát triển chính thức (ODA)
là nguồn vốn nước ngoài có vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá của nước ta. Sau hơn hai mươi năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều
thành tựu tiến bộ như: nền kinh tế tăng trưởng liên tục, tốc độ tăng trưởng bình quân là
7,5%/năm; mức đói nghèo giảm; trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại
thế giới (WTO); được bầu là Uỷ viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp
quốc và nhiều thành tựu khác trong các lĩnh vực văn hoá giáo dục, y tế. Những thành
tựu trên đều có phần đóng góp không nhỏ của các nguồn ODA.
Tuy nhiên để đạt được mục tiêu trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020,
Việt Nam cần thu hút nhiều hơn nữa nguồn vốn ODA trong những năm sắp tới. Bên
cạnh đó cũng cần nâng cao và cải thiện công tác quản lí và sử dụng nguồn vốn này sao
cho phù hợp và hiệu quả nhất.
Bài tiểu luận dưới đây xin trình bày về vấn đề thu hút ODA tại Việt Nam những
năm qua và biện pháp cải thiện trong tương lai.
Néi dung
PhÇn mét
Tổng quan về ODA
I. Quá trình hình thành và phát triển của ODA
1, Quá trình hình thành
Sau chiến tranh thế giới II, các nước công nghiệp phát triển đã thoả thuận về việc
trợ giúp cho các nước đang phát triển thông qua viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay
với điều kiện ưu đãi. Sự thoả thuận này được cụ thể hoá bằng sự kiện thành lập Tổ chức
hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) (tháng 12 năm 1960) với một trong những nhiệm
vụ quan trọng nhất là cung cấp ODA song phương cũng như đa phương cho các nước
- Hỗ trợ kĩ thuật: chủ yếu tập trung vào chuyển giao tri thức như chuyển giao
công nghệ, đào tạo về kĩ thuật, kinh tế, quản lí, thống kê, thương mại, hành
chính nhà nước và các vấn đề xã hội; hoặc cố vấn cho các chương trình
nghiên cứu, đầu tư.
- Hỗ trợ theo dự án: loại hỗ trợ này thường chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng
vốn ODA và chủ yếu là về xây dựng cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống.
Điều kiện để nhận hỗ trợ dự án là phải có dự án cụ thể về các hạng mục sẽ sử
dụng ODA.
- Ngoài ra còn có tín dụng thương mại, tương tự như viện trợ hàng hoá nhưng
có kèm theo điều kiện.
3, Phân loại
a) Phân loại theo nguồn cung cấp
- ODA song phương: là ODA của nước này dành cho nước kia thông qua hiệp
định kí kết giữa hai Chính phủ.
- ODA đa phương: là ODA của một tổ chức quốc tế (IMF, WB) hay tổ chức khu
vực (EU) hoặc của một nước dành cho một nước nào đó, nhưng được thực
hiện thông qua các tổ chức đa phương như UNDP, UNICEF…
b) Phân loại theo tính chất nguồn vốn
- Viên trợ không hoàn lại: cung cấp ODA mà không cần hoàn trả lại. Viện trợ
không hoàn lại thường được thực hiện dưới các dạng hỗ trợ kĩ thuật và viện
trợ nhân đạo.
- Viện trợ có hoàn lại: cho vay với mức lãi suất ưu đãi và thời hạn vay nợ dài, có
thời gian ân hạn.
- ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA kết hợp một phần không hoàn lại và
một phần tín dụng thương mại theo các điều kiện của OECD.
PhÇn hai
Thực trạng thu hút và sử dụng ODA tại Việt Nam trong thời
gian qua và các biện pháp
I. Thực trạng thu hút và sử dụng ODA ở Việt Nam