Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Bảo Hường
Lớp: CH 17Q
BÀI KIỂM TRA
Môn: Kinh tế đầu tư
Đề bài: Đánh giá khái quát về tình hình thu hút FDI tại Việt Nam. Anh
(chị) hãy trình bày các giải pháp nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn này tại Việt
Nam.
Bài làm:
1. Đánh giá khái quát về tình hình thu hút FDI tại Việt Nam.
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam và
Chính phủ đã đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế trong những năm tới của Việt
Nam là 9 - 10% năm và phấn đấu đến năm 2020 mức GDP bình quân đầu người
tăng lên gấp 8 - 10 lần so với hiện nay, tương đương mức 2 - 3 nghìn USD/người.
Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế đó, yêu cầu về thu hút và dùng vốn là
một trong những thách thức lớn nhất và khó giải quyết với nền kinh tế Việt Nam.
Theo tính toán sơ bộ, để duy trì tốc độ tăng trưởng GDP như mục tiêu đề ra, Việt
Nam cần đầu tư khoảng lớn hơn 40 tỷ USD. So với năng lực tiết kiệm nội địa hiện
tại của Việt Nam thì con số này thực sự là khổng lồ, vì vậy chúng ta phải tính đến
khả năng huy động các nguồn vốn từ bên ngoài để đáp ứng nhu cầu vật tư.
1.1. Thực trạng về tình hình thu hút FDI tại Việt Nam
Nhìn lại năm 1986, nền kinh tế Việt Nam với tỷ lệ đói nghèo lên đến 60%,
thuần túy nông nghiệp và thu hút đầu tư FDI gần như bằng không thì sau hơn 20
năm, kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn bùng nổ, tăng trưởng kinh tế nhanh,
ngày càng đa dạng hóa lĩnh vực và nguồn lực, tỷ lệ đói nghèo xuống dưới 20%.
Đặc biệt ngay sau khi gia nhập WTO, thu hút vốn FDI tại Việt Nam đạt số vốn
đăng ký FDI kỷ lục 64 tỷ USD năm 2008.Tính đến tháng 10/2009, cả nước có
10.805 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 174,7 tỷ USD.
Nguyên nhân của dòng vốn FDI tăng mạnh tại Việt Nam là do Việt Nam
chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO
với những điều kiện thuận lợi cho thu hút FDI như: cam kết mở cửa thị trường
1
công nghiệp lắp ráp nhằm tận dụng lao động rẻ, giá trị gia tăng thấp. Trong khi
đó, đầu tư vào khai thác tài nguyên và vào bất động sản (cũng là một dạng khai
thác tài nguyên đất đai) tăng lên. Đầu tư vào khai thác mỏ từ 0,8% năm 2005 lên
1,2% năm 2006 và lên tới 18,5% năm 2008, đầu tư vào khách sạn, nhà hàng, khu
nghỉ dưỡng từ 0,9% năm 2005 tăng đến 15,1% năm 2008. Đó là chưa kể đến hiệu
2
ứng sân golf làm một diện tích không ít đất đai (trong đó có đất nông nghiệp) và
có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Theo các chuyên gia kinh tế, có hai nguyên
nhân quan trọng hạn chế đầu tư vào công nghiệp chế biến và công nghệ cao là do
chất lượng nguồn nhân lực thấp và công nghiệp hỗ trợ không phát triển. Cơ cấu
đầu tư như vậy không đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nhìn lại hai năm gia nhập WTO, vẫn còn những tồn tại cần phải giải quyết
trong môi trường đầu tư. Trước hết là về cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng về giao
thông còn yếu kém. Sự phát triển của cơ sở hạ tầng giao thông chưa theo kịp sự
phát triển của kinh tế và dòng đầu tư của nước ngoài. Về môi trường pháp lý, hệ
thống toà án và thực thi luật pháp còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân do các thủ tục
còn rườm rà và chi phí cao, thiếu tính minh bạch. Đặc biệt là các công ty luật, đa
số hoạt động kém hiệu quả và chi phí lớn đã làm giảm lòng tin đối với nhà đầu tư.
Một lợi thế của Việt Nam là nguồn nhân lực, nhưng nguồn nhân lực có
trình độ quản lý và tay nghề cao còn rất thiếu. Theo thống kê chỉ có gần 30% lực
lượng lao động là đã qua đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực cũng chưa cao,
chưa đồng đều và sử dụng chưa hiệu quả. Ngoài ra, dịch vụ hành chính, hệ thống
thuế, hải quan... cũng còn nhiều bất cập và chưa đồng bộ.
1.2. Những khó khăn vướng mắc trong việc thu hút FDI
1.2.1. Những vướng mắc về mặt pháp luật
Vấn đề chuyển lỗ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Theo
qui định của Luật đầu tư nước ngoài, chỉ có các doanh nghiệp liên doanh mới
được chuỷen lỗ của bất kỳ năm tính thuế nào sang năm có lãi tiếp theo thời gian
chuyển lỗ không quá 5 năm. Nhưng cũng theo luật này, chỉ có doanh nghiệp liên
điểm, phải giảm đáng kể diện tích dẫn đến dự án kém khả thi.
Việc quy hoạch gọi vốn FDI vào 1 số ngành quá yếu kém và các nhà đầu tư
nước ngoài cũng đã tin vaò những dự báo khả quan của ta, vì vậy, chúng ta phải
chịu trách nhiệm về tình trạng thừa công suấtcủa một số ngành như: Khách sạn,
nhà ở, thuê văn phòng.
1.2.4. Lực lượng lao động của chúng ta còn nhiều yếu kém. Chúng ta rất
hiếm công nhân lành nghề, hiện nay việc tuyển 1 công nhân lành nghề cao khó
khăn hơn việc tuyển 1 sinh viên tốt nghiệp đại học. Thêm vào nữa hệ thống các
trường đại học của ta chưa đảm bảo chất lượng về đào tạo ngoại ngữ, lẫn chuyên
môn, hầu hết lao động trực tiếp của các doanh nghiệp FDI đều tuyển chưa qua đào
tạo hoặc đào tạo chưa đầy đủ chưa đạt chất lượng, chính vì vậy chi phí cho dạy
nghề rất tốn kém. Lao động của ta được các chuyên gia đánh giá là chịu khó, cần
cù nhưng vì ít kinh nghiệm nghề nghiệp, không có tác phong công nghiệp cho nên
năng suất thấp.
4
1.2.5. Khó khăn về cân đối ngoại tệ cho các doanh nghiệp nhà nước.
Theo luật đầu tư và các văn bản dưới luật, ngân hàng nhà nước chỉ cân đối
ngoại tệ cho các doanh nghiệp FDI hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và kinh
doanh các công trình kết cấu hạ tầng hoặc sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu
thiết yếu. Trong điều kiện nhà nước và doanh nghiệp đều thiếu ngoại tệ thì quy
định trên là phù hợp với tình hình thực tiễn. Tuy nhiên trong điều kiện 70% các
doanh nghiệp tiêu thụ hàng hoá tại thị trường Việt Nam và nguyên liệu chủ yếu
dựa vào nguồn nhập khẩu (linh kiện điện tử, ô tô...) việc không có 1 chính sách và
biện pháp giúp đỡ tất cả các doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp FDI cân đối
ngoại tệ để nhập khẩu nguyên liệu (chưa nói đến nguồn ngoại tệ để trả nợ gốc, lãi
vay nước ngoài...) sẽ không đảm bảo cho các doanh nghiệp hoạt động bình
thường và cản trở việc tiếp tục huy động nguồn vốn FDI.
1.2.6. Thủ tục hành chính trong lĩnh vực FDI còn quá rườm rà nhiêu khê.
Các nhà đầu tư nước ngoài kêu ca phàn nàn nhiều về việc xin giấy phép
đầu tư, thủ tục thuê đất, xin giấy phép xây dựng cũng như các thủ tục triển khai