bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ thưo quy định của luật pháp Việt Nam - Pdf 27


1

LU
ẬN V
ĂN:
B
ảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đ
ối với các
d
ấu hiệu dùng
đ
ể phân biệt sản phẩm, dịch vụ
theo quy đ
2

hội chủ nghĩa. Quá trình đổi mới về kinh tế đã ngày càng chứng tỏ nền kinh tế nước ta đã
và đang vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Lúc này, các doanh nghiệp cũng dần có được quyền bình đẳng trong
hoạt động kinh doanh với môi trường cạnh tranh lành mạnh. Tình hình này cũng làm
giảm đáng kể sự độc quyền, sự độc quyền chỉ còn tồn tại đâu đó trong một số ngành cung
cấp có tính chất đặc biệt còn hầu hết là sự phong phú của hàng hóa, dịch vụ được tạo ra
bởi các thành phần kinh tế khác nhau. Do vậy, người tiêu dùng đang dần trở thành
"thượng đế" theo đúng nghĩa của nó. Hàng hóa đa dạng, dịch vụ phong phú cũng khiến
các doanh nghiệp để mời được "thượng đế" đến với mình buộc phải coi trọng và có sự
thay đổi liên mục mẫu mã, chủng loại hàng hóa của mình trên thị trường nhưng đồng thời
chữ tín ngày càng được các doanh nghiệp quan tâm xây dựng dựa vào các thương hiệu…
Bởi, một trong những cơ sở để người tiêu dùng lựa chọn chính là những dấu hiệu thể hiện
trên bao bì, nhãn mác, giấy tờ giao dịch, quảng cáo của sản phẩm, dịch vụ. Có rất nhiều
dấu hiệu để người tiêu dùng có thể nhận biết được hàng hóa sản phẩm như: nhãn hiệu, tên
thương mại, chỉ dẫn địa lý…Và những dấu hiệu này làm phát sinh trách nhiệm của chính
4
doanh nghiệp đối với người tiêu dùng, đối với xã hội, bởi chúng chính là yếu tố quan
trọng giúp người tiêu dùng xác định sản phẩm, dịch vụ mà họ mong muốn.
Tuy vậy, một mặt các nhà sản xuất, kinh doanh phải lo phục vụ cho người tiêu
dùng, đem đến cho người tiêu dùng những sản phẩm, dịch vụ với chất lượng tốt nhất, một
mặt khác để tồn tại họ buộc phải đối mặt với nạn hàng nhái, hàng giả đang tràn ngập trên
thị trường với những sự sao chép, mô phỏng, nhái theo ngày càng tinh vi. Tình trạng xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp đang ngày càng diễn ra một cách tràn lan và có quy mô,
thủ đoạn ngày càng tinh vi và rộng khắp làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường
kinh doanh lành mạnh mà pháp luật đang bảo vệ; quyền lợi của người tiêu dùng cũng vì
thế mà không được đảm bảo. Chính vì vậy, vấn đề phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung và bảo hộ quyền SHCN đối với
nhãn hiệu hàng hóa (NHHH), tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đang ngày càng trở nên bức
xúc đối với những người kinh doanh chân chính, đây cũng là đòi hỏi làm trong sạch thị
trường nhằm bảo vệ cho quyền lợi của người tiêu dùng. Khi thực hiện được các bảo hộ

được nghiên cứu rất nhiều nhưng đó có thể chỉ là các nghiên cứu của các luận văn tốt
nghiệp Đại học hoặc các nghiên cứu mang tính riêng lẻ của từng loại dấu hiệu dùng để
phân biệt sản phẩm, dịch vụ mà thôi. Còn để nghiên cứu tổng hợp thì cho đến nay, chưa
có công trình nghiên cứu nào cụ thể về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các dấu
hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ là nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận, bản chất, nội dung, của các dấu
hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ, vai trò và ý nghĩa của việc bảo hộ. Muốn vậy
chúng tôi đã có sự nghiên cứu về sự hình thành pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với
các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ trên thế giới và ở Việt Nam. Với mục
đích nghiên cứu như trên, nhiệm vụ cụ thể của luận văn là:
- Tiếp cận một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về quyền SHCN đối với
các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền SHCN đối với các dấu
hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ, so sánh với các quy định của các điều ước quốc
6
tế mà Việt Nam đã tham gia, từ đó chỉ ra những định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hộ
quyền SHCN đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ.
Những điểm mới của luận văn thể hiện ở những điểm sau:
- Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu một cách tổng hợp về bảo hộ quyền SHCN đối với
nhóm các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ gồm Tên thương mại, Chỉ dẫn
địa lý và Nhãn hiệu theo quy định của Luật SHTT 2005.
- Nghiên cứu một cách hệ thống nhóm các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ
này với tư cách là đối tượng quyền SHCN và các biện pháp bảo vệ quyền SHCN đối với
các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ theo Luật SHTT 2005.
- Dựa vào việc phân tích thực trạng bảo hộ quyền SHCN đối với các dấu hiệu dùng để phân
biệt sản phẩm, dịch vụ trong thời gian qua, Luận văn chỉ ra những kiến nghị nhằm hoàn
thiện pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm,
dịch vụ này.
4. Phạm vi nghiên cứu

riêng, ký hiệu riêng, tên gọi địa lý… "nhiều bằng chứng cho thấy, từ thời cổ đại các nhà
sản xuất đã sử dụng các dấu hiệu để chỉ ra nơi ở của mình (tức nơi xuất xứ hàng hóa) Ví
dụ: Khoảng thế kỷ thứ IV trước Công nguyên đã xuất hiện những dấu hiệu dùng để phân
biệt các loại rượu vang của Hy Lạp, mật ong Xixili…" [26] Qua khoảng thời gian lâu dài,
với những kinh nghiệm sản xuất phong phú được tích lũy, những nơi mà có thêm điều
kiện tự nhiên thuận lợi cho việc sản xuất sản phẩm được trở thành những vùng chuyên
sản xuất sản phẩm đó, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp. Tên vùng, tên khu vực đó
được nổi tiếng và khi nhắc đến chúng người ta liên tưởng ngay đến các sản phẩm đặc
trưng có chất lượng cao của vùng. Vì vậy, đã hình thành nên quy luật sử dụng các dấu
hiệu địa lý cho các sản phẩm uy tín xuất xứ từ vùng, khu vực nổi tiếng đó.
Nhãn hiệu từ lâu đã được sử dụng để nhận biết nguồn gốc của sản phẩm. Có bằng
chứng về việc từ xa xưa tới 4.000 năm về trước thợ thủ công ở Trung Quốc, ấn Độ và Ba
Tư đã sử dụng chữ ký của họ hoặc biểu tượng để phân biệt sản phẩm của họ. Thợ gốm La
Mã đã sử dụng hơn 100 nhãn hiệu khác nhau để phân biệt tác phẩm của mình, nổi tiếng
nhất là nhãn hiệu Fortis mà nhiều sản phẩm giả đã bắt chước. Người ta tin rằng các thợ
thủ công đó đã sử dụng nhãn hiệu cho nhiều mục đích, bao gồm sử dụng để quảng cáo
cho người làm ra các sản phẩm đó, làm bằng chứng để khẳng định sản phẩm thuộc về
một thương gia cụ thể nào đó khi có tranh chấp về sở hữu cũng như sử dụng làm một sự
đảm bảo về chất lượng. Rồi từ chính sự phát triển của quá trình phân công lao động và
trao đổi hàng hóa đã hình thành những xưởng thủ công, những cơ sở sản xuất thủ công…
chuyên sản xuất một số sản phẩm nhất định, nhãn hiệu được bắt đầu bằng những dấu hiệu
9
riêng rất đơn giản để phân biệt hàng hóa giữa những xưởng, cơ sở sản xuất thủ công
mang tính chất phường hội. Trong thời Trung cổ, việc sử dụng nhãn hiệu đã được gắn với
phát triển và tăng trưởng của thương mại, do đó có thuật ngữ "nhãn hiệu hàng hóa". Nhãn
hiệu đã được sử dụng để chỉ ra rằng một sản phẩm do một thành viên của một phường hội
được biết đến là có kinh nghiệm trong ngành buôn bán đó làm ra. Trong tiếng Pháp, thuật
ngữ được sử dụng là "marque deposée" trong đó deposée có nghĩa là nhãn hiệu đã được
đăng ký với một phường hội buôn bán.Thời kỳ này cũng đã có sự giao thương quốc tế,
buôn bán hàng hóa giữa các quốc gia, châu lục như con đường tơ lụa bắt đầu từ Hàng

một bước phát triển trong sự phát triển của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Tại Điều 1 Luật
SHTT 2005 quy định: "Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức và cá nhân đối
với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạng tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên
thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu quyền
chống cạnh tranh không lành mạnh".
Sử dụng phương pháp liệt kê như vậy, cũng để định nghĩa về quyền sở hữu công
nghiệp cũng là để phân biệt với quyền tác giả trong SHTT. Bởi lẽ cũng là sản phẩm trí tuệ
nhưng nếu các sản phẩm này không liên quan đến việc tạo ra của cải, vật chất cho xã hội
thì được bảo hộ bằng quyền tác giả còn nếu các sản phẩm đó gắn với sản xuất kinh
doanh, có khả năng áp dụng để tạo ra của cải vật chất cho xã hội thì sẽ được bảo hộ bằng
quyền sở hữu công nghiệp. Thuật ngữ quyền sở hữu công nghiệp xuất phát từ chỗ các đối
tượng của loại hình sở hữu này là tài sản vô hình nhưng lại áp dụng vào hoạt động công
nghiệp hoặc thủ công nghiệp để tạo ra các sản phẩm vật chất do đó có giá trị kinh tế trong
các lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Người nào là chủ sở hữu của những tài sản vô hình này
thì được khai thác lợi ích kinh tế từ chúng và có lợi thế trong sản xuất kinh doanh. Chính
vì vậy để được bảo hộ thì các đối tượng đó phải thỏa mãn những điều kiện nhất định theo
quy định của pháp luật. Có những đối tượng chỉ được bảo hộ khi được cơ quan có thẩm
quyền cấp văn bằng bảo hộ, nhưng cũng có những đối tượng không được bảo hộ thông
qua hệ thống cấp văn bằng bảo hộ. Một trong những phần không thể thiếu trong quy trình
của sở hữu công nghiệp khi mà các đối tượng vô hình của quyền sở hữu công nghiệp lại
tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm cho xã hội, lúc đó buộc các
nhà kinh doanh phải để ý đến những nhân tố như: nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa
lý… Các nhân tố đó chính là các đối tượng, là công cụ xúc tiến kinh doanh, chúng mang
giá trị kinh tế to lớn nhưng là giá trị vô hình trong sản phẩm hữu hình, chúng ta thấy
11
chúng có thể không mang tính sáng tạo cao như sáng chế hay giải pháp hữu ích, kiểu
dáng công nghiệp… nhưng chúng lại là sự thể hiện uy tín, chất lượng và phải do có
những điều kiện nhất định (ví dụ đối với chỉ dẫn địa lý, phải có những điều kiện tự nhiên
ưu đãi nhất định mà chỉ nơi vùng miền đó có, hoặc ví dụ đối với nhãn hiệu, hay tên
thương mại, cần phải có sự minh chứng về chất lượng, uy tín của sản phẩm, hay của

những đòi hỏi khắt khe của các thị trường khó tính như EU, Mỹ… Tuy nhiên, gần tới
90% hàng Việt Nam vẫn phải vào thị trường thế giới thông qua trung gian dưới dạng gia
công thô hoặc gia công cho các thương hiệu nổi tiếng thế giới của nước ngoài [60].
Chúng ta cũng đã có những bài học về việc chậm đăng ký nhãn hiệu trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế, dẫn đến những tổn thất to lớn về kinh tế, điển hình như vụ tranh
chấp nhãn hiệu của Petro Vietnam và cà phê Trung Nguyên tại thị trường Hoa Kỳ, của
thuốc lá Vinataba tại thị trường châu á, phồng tôm Sa Giang tại Pháp và châu Âu…
Sự gia tăng đáng kể các doanh nghiệp với nhiều loại hình của các thành phần
kinh tế là nguyên nhân chủ quan của sự phát triển của lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Mỗi
doanh nghiệp khi tham gia vào nền kinh tế thị trường đều muốn khẳng định tính ưu việt
của mình, vị trí của mình thông qua các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ
như tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu. Hiện nay, trong nước, một số doanh nghiệp
Việt Nam cũng đã có những chiến lược phát triển rõ ràng trong việc khai thác các thế
mạnh của mình, chúng ta thấy có sự chuyển giao khai thác nhãn hiệu nhằm phát huy tính
cạnh tranh của nhãn hiệu đó như việc Tập đoàn Unilever nổi tiếng khi đầu tư ở Việt Nam
đã mua lại nhãn hiệu kem đánh răng P/S với giá 7.5 triệu USD, và họ cũng đã chớp cơ
hội để đầu tư khai thác chỉ dẫn địa lý ‘Phú Quốc’ với sản phẩm nước mắm Knorr Phú
Quốc [48].
Chính sự phát triển không ngừng của các thành tựu khoa học công nghệ đã khẳng
định được vị trí then chốt của các tài sản vô hình - sở hữu công nghiệp. Giá trị của các
dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ không chỉ thể hiện ở lợi ích của các chủ thể
tham gia vào nền kinh tế mà còn có lợi ích chung của toàn xã hội thể hiện ở việc bảo hộ
các đối tượng này cũng khẳng định vị trí của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng, tạo ra
sự phát triển bình đẳng, lành mạnh của thị trường. Và nó càng có ý nghĩa quan trọng đặc
13
biệt khi những sản phẩm, dịch vụ của chúng ta đến tay người tiêu dùng quốc tế, nó không
chỉ góp phần phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước mà còn là sự khẳng định vị thế,
thương hiệu của quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
* Vai trò của các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ đối với các
doanh nghiệp:

nghiệp sự chủ động trong việc kinh doanh và phát triển nguồn tài sản vô hình nhưng có
giá trị to lớn của mình và hiện tại ở nhiều nước phát triển trên thế giới hoạt động cho thuê
một số đối tượng tài sản vô hình được điều chỉnh bởi các hợp đồng mang tên "franchise"
[23].
Tuy nhiên, hiện nay, do chưa nhận thức một cách đầy đủ về giá trị của các dấu
hiệu này mà các doanh nghiệp Việt Nam hầu như chưa sử dụng được hết các quyền mà
pháp luật đã dành bảo vệ cho họ, chính vì vậy mà các doanh nghiệp đã không những làm
mất đi các lợi ích kinh tế chính đáng của mình, làm mất đi lợi thế cạnh tranh của bản thân
doanh nghiệp trên thương trường. Đây không chỉ là thiệt thòi cho bản thân doanh nghiệp
mà còn là sự mất mát lớn đối với những nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, chúng
ta không chỉ mất đi thương hiệu của doanh nghiệp mà thậm chí mất đi cả thương hiệu của
cả quốc gia trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
* Vai trò của các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ đối với người
tiêu dùng:
Qua điều tra sơ bộ của Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, trong số những
người tiêu dùng ở Thành phố Hồ Chí Minh được phỏng vấn, 89% cho rằng nhãn hiệu là
yếu tố quyết định khi họ lựa chọn mua sắm [54]. Lý do chủ yếu là nhãn hiệu tạo cho họ
sự yên tâm về thông tin xuất xứ, tin tưởng vào chất lượng sản phẩm, tiết kiệm về thời
gian tìm kiếm thông tin, giảm rủi ro… Kết quả này cho thấy ngày nay nhận thức của
người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm, dịch vụ đã cao hơn rất nhiều so với trước đây và
đây cũng chính là thách thức đòi hỏi bản thân doanh nghiệp, các hiệp hội làng nghề, các
cơ quan chủ quản… phải quan tâm và đầu tư thích đáng cho việc phát triển nguồn vốn
quý giá này.
15
Hiện nay, trong xu thế mở cửa kinh tế, sự lựa chọn của người tiêu dùng được mở
rộng, không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ những hàng hóa, dịch vụ nội địa mà còn là
những sản phẩm, dịch vụ của những quốc gia khác trong đó có cả của những quốc gia đã
rất phát triển. Chúng ta vẫn cho rằng tâm lý của người tiêu dùng là sính hàng ngoại nhập,
chỉ lựa chọn những sản phẩm đã có uy tín của nước ngoài, nhưng trên thực tế không phải
hoàn toàn như vậy, chúng ta cũng đã có những nhãn hiệu có thể được xem là nhãn hiệu

pháp khuyến khích đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư sẽ yên tâm hơn nếu họ được tạo
điều kiện thuận lợi và có cơ sở pháp lý vững chắc an toàn khi đầu tư vào Việt Nam dưới
một tên thương mại được bảo hộ hay đưa vào Việt Nam hàng hoá, dịch vụ dưới một nhãn
hiệu, một chỉ dẫn địa lý được công nhận. Đặc biệt khi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ đã
có hiệu lực thì việc bảo hộ các đối tượng này sẽ càng có ý nghĩa lớn lao bởi toàn bộ các
nội dung của Hiệp định này đều có liên quan đến hoạt động SHTT nói chung và SHCN
nói riêng.
- Bảo hộ quyền sở hữu đối với các đối tượng trên còn liên quan mật thiết đến lợi ích kinh tế
của các quốc gia bởi việc bảo hộ các đối tượng này là một trong những công việc mà Việt
Nam chúng ta đang nỗ lực thực hiện, nhất là trong bối cảnh chúng ta đã là thành viên của
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
- Việc bảo hộ quyền SHCN đối với các đối tượng này còn có ý nghĩa quan trọng trong việc
bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, bởi vai trò của các đối tượng này chính là giúp cho
người tiêu dùng chọn lựa sản phẩm, dịch vụ phù hợp giữa những nhóm sản phẩm, dịch vụ
cùng loại. Chúng là những yếu tố giúp người tiêu dùng tránh bị lừa dối hoặc nhầm lẫn khi
lựa chọn sản phẩm, dịch vụ nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà hàng nhái, hàng giả
tràn lan trên thị trường và ngay cả các cơ quan chức năng cũng khó mà phát hiện ra.
1.2. Sự hình thành và phát triển của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, Dịch vụ
1.2.1. Sự hình thành và phát triển của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ trên thế giới
Pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản
17
phẩm, dịch vụ trên thế giới đã có từ rất lâu. Điều này xuất phát bởi vai trò đặc biệt quan
trọng của các dấu hiệu này đối với nền kinh tế.
Tại Pháp, năm 1857 Luật nhãn hiệu đầu tiên được ban hành. Theo luật này, quyền
đối với nhãn hiệu hàng hóa thuộc về người thực hiện sớm nhất (so với người khác) một
trong hai việc là sử dụng nhãn hiệu và đăng ký nhãn hiệu theo quy định của Luật. Nếu
một người đăng ký một nhãn hiệu nhưng thời điểm đăng ký sử dụng nhãn hiệu đó lại sau
người đăng ký thứ hai thì quyền đối với nhãn hiệu thuộc về người thứ hai (quyền thuộc

Cùng với sự phát triển hoạt động thương mại và đầu tư, việc bảo hộ quyền SHTT
đối với các hoạt động này và quyền lợi thương mại hợp pháp của chủ sở hữu khi quyền
SHTT đặt ra của họ không được bảo hộ và thực thi một cách có hiệu quả đã được đặt ra.
Vì vậy, cùng với sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới - WTO, Hiệp định về các khía
cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (gọi tắt là Hiệp định TRIPS) đã
được ký kết ngày 15/04/1994 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1995.
Khác với các điều ước quốc tế đa phương trước đây về quyền sở hữu trí tuệ, mục
đích chính của Hiệp định TRIPS là thông qua việc quy định những tiêu chuẩn, những
biện pháp và thủ tục tối thiểu mà các nước thành viên của Hiệp định phải có nghĩa vụ
tuân theo từ đó thiết lập một khung pháp lý thống nhất, có hiệu quả trong việc bảo hộ
toàn diện quyền sở hữu trí tuệ trong đó có quyền sở hữu công nghiệp.
Theo Hiệp định TRIPS, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một bộ phận của hệ thống
đa quốc gia thuộc WTO. Hiệp định này quy định vệc bảo hộ nhiều đối tượng sở hữu trí
tuệ khác nhau.
Từ năm 1995, Hiệp định TRIPS đã mang lại những thay đổi căn bản trong lĩnh
vực sở hữu trí tuệ. Hiệp định TRIPS đã khẳng định lại và mở rộng các chuẩn mực và quy
định của Công ước Paris và Công ước Berne, làm thay đổi bộ mặt của Luật sở hữu trí tuệ
vì các nước thành viên WTO phải thay đổi luật của họ để phù hợp với Hiệp định TRIPS.
Ngoài việc đồng nhất hóa về pháp luật, Hiệp định TRIPS còn tiến tới loại bỏ các quy định
về hành chính, thủ tục và về kỹ thuật bất lợi cho hoạt động SHTT quốc tế.
19
Hiệp định TRIPS quy định các tiêu chuẩn tối thiểu đối với việc bảo hộ tất cả các
đối tượng SHTT. Nhưng điều quan trọng nhất đó là Hiệp định TRIPS là điều ước quốc tế
đầu tiên quy định hệ thống các biện pháp chế tài trong đó có những biện pháp chế tài
khẩn cấp nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm và những biện pháp chế tài khẩn cấp
nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm tiếp diễn. Các biện pháp chế tài này hoàn toàn
không có trong Công ước Paris.
Mối quan hệ chặt chẽ giữa Hiệp định TRIPS và Công ước Paris được thể hiện
trong Điều 2.1. Hiệp định này bắt buộc tất cả các thành viên WTO tuân thủ các điều từ
Điều 1 đến Điều 12 và Điều 19 của Công ước Paris được sửa đổi năm 1967 tại

những bước phát triển qua từng giai đoạn.
Giai đoạn 1945-1981:
Chính sách khuyến khích sáng tạo và bảo hộ thành quả sáng tạo được chú trọng
ngay từ những ngày đầu thành lập chính quyền, thể hiện bằng các cuộc vận động thi đua
cải tiến kỹ thuật. Trong giai đoạn này, một số văn bản pháp luật về khuyến khích sáng tạo
đã được ban hành làm tiền đề cho hệ thống bảo hộ SHCN của Việt Nam như:
- Thông tư 04/LĐTT ngày 8/3/1958 của Bộ Lao động quy định về vấn đề khen
thưởng các tác giả sáng kiến cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh;
- Nghị quyết số 175/TTg ngày 3/4/1958 của Thủ tướng Chính phủ quy định về
nhãn hiệu thương phẩm; Nghị quyết này được ban hành thực chất nhằm mục đích quản lý
sản phẩm trong sản xuất và lưu thông chứ không mang tính chất bảo hộ nhãn hiệu hàng
hóa.
ở miền Bắc, thời kỳ này chưa hình thành một hệ thống bảo hộ quyền SHCN theo
đúng nghĩa. Quyền tư hữu đối với các đối tượng SHCN không được chấp nhận bảo hộ
với lập luận cho rằng các sáng tạo của trí tuệ con người thuộc sở hữu chung của toàn xã
hội. Những đối tượng đặc biệt là dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ còn chưa
được đề cập đến ngoài nhãn hiệu hàng hóa.
21
Trong khi đó, ở miền Nam, hệ thống bảo hộ SHCN được chú trọng hơn với quan
điểm thừa nhận quyền tư hữu của chủ sở hữu đối với đối tượng SHCN đặc biệt là dấu
hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ là nhãn hiệu hàng hóa. Chính quyền Sài Gòn đã
ban hành Luật 13/57 ngày 1/8/1957 bảo hộ nhãn hiệu, Luật 14/59 ngày 11/6/1959 về
chống sản xuất hàng giả.
Các vấn đề liên quan đến đăng ký xác lập quyền đã được quy định cụ thể, chi tiết
trong các văn bản pháp luật và là yêu cầu bắt buộc đối với các chủ thể nhằm chính thức
ghi nhận sự bảo hộ từ phía nhà nước đối với quyền SHCN của chủ sở hữu.
Giai đoạn từ 1981-1988:
Hệ thống bảo hộ SHCN giai đoạn này được áp dụng theo mô hình phổ biến ở các
nước xã hội chủ nghĩa có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đó là sự bảo hộ chủ yếu
nhằm vào các quyền tinh thần hơn là các quyền tài sản của người sáng tạo. Cơ chế "dùng

tạo nên một hệ thống pháp luật về SHCN tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ ở Việt Nam.
Chúng thể hiện được định hướng mới của pháp luật trong bước chuyển sang nền kinh tế
thị trường. Quyền SHCN được công nhận bảo hộ là một loại quyền tài sản và được tự do
khai thác, chuyển giao như một đối tượng của giao dịch dân sự.
Đối với các đối tượng là dấu hiệu phân biệt sản phẩm, dịch vụ, Pháp lệnh Bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đã có những quy định về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa (bao gồm
nhãn hiệu dịch vụ), tên gọi xuất xứ hàng hóa (ở đây là tên địa lý của vùng/địa phương có
sản phẩm đặc thù mà tính chất đặc thù của sản phẩm do các yếu tố địa lý quyết định)
trong giai đoạn này chưa có quy định về việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Các biện pháp
bảo hộ, về nguyên tắc có thể áp dụng trình tự dân sự nhưng thực tế không có vụ kiện nào
được xử trước tòa án; biện pháp áp dụng chủ là biện pháp hành chính.
Giai đoạn từ 1995 - nay:
23
Giai đoạn này được đánh giá là giai đoạn hệ thống SHCN Việt Nam hướng tới
một hệ thống SHCN đầy đủ, và hiệu quả theo yêu cầu của WTO. Bộ luật dân sự 1995
được ban hành trong đó có một phần độc lập quy định về SHTT và chuyển giao công
nghệ (Phần thứ VI) đã đánh dấu bước chuyển mới của hệ thống bảo hộ SHCN Việt Nam
với mục tiêu đáp ứng ngày càng tốt hơn các tiêu chuẩn về SHTT của WTO. Đối với các
việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm,
dịch vụ cũng có các nghị định hướng dẫn thi hành:
- Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 quy định chi tiết về SHCN. Nghị định này đã được sửa
đổi, bổ sung bởi Nghị định 06/2001/CP ngày 1/2/2001;
- Nghị định 45/1998/NĐ-CP ngày 1.7.1998 quy định chi tiết về chuyển giao công
nghệ;
- Nghị định 54/200/NĐ-CP ngày 3.10.2000 về bảo hộ SHCN đối với bí mật kinh doanh, chỉ
dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan
tới SHCN;
- Thông tư 3055/TT/SHCN ngày 31/12/1996 hướng dẫn thi hành các quy định về thủ tục
xác lập quyền SHCN và một số thủ tục khác trong Nghị định 63/CP;
- Thông tư 825/2000/TT-BKHCNMT ngày 3.5.2000 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi

nay chúng ta đã có một hệ thống văn bản tương đối hoàn chỉnh về vấn đề bảo hộ quyền
SHCN nói chung và bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH, tên thương mại và chỉ dẫn địa
25

Trích đoạn Biện pháp hành chính Biện pháp hình sự Thực trạng xác lập quyền sở hữu công nghiệp Thực trạng vi phạm Thực trạng xử lý vi phạm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status