Download miễn phí Đề tài Các công cụ của chính sách tiền tệ tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Khái niệm, vị trí của CSTT
1.2. Mục tiêu của CSTT
1.3. Các công cụ của CSTT
1.3.1 Nghiệp vụ thị trường Mở
1.3.2 Dự trữ bắt buộc
1.3.3 Chính sách tái chiết khấu
1.3.4 Quản lý hạn mức tín dụng
1.3.5 Quản lý lãi suất
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ
CỦA CSTT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
2.1. Sự đổi mới trong việc thực hiện CSTT
2.2. Việc sử dụng các công cụ của CSTT những năm qua
2.2.1. Công cụ lãi suất
2.2.2. Công cụ hạn mức tín dụng
2.2.3. Công cụ dự trữ bắt buộc
2.2.4. Công cụ cho vay tái chiết khấu
2.2.5. Công cụ nghiệp vụ thị trường Mở
2.3. Đánh giá qúa trình thực hiện các công cụ của CSTT những năm vừa qua.
2.3.1 Những thành tựu trong việc ổn định kinh tế vĩ mô.
2.3.2 Những vấn đề tồn tại trong quá trình thực hiện các công cụ của CSTT những năm qua.
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC CÔNG CỤ CỦA CSTT Ở VIỆT NAM
3.1. Định hướng
3.1.1 Bối cảnh trong nước và Quốc tế
3.1.2 Một số định hướng cơ bản
3.2 Giải pháp
3.2.1 Nhóm giải pháp về việc tạo môi trường, điều kiện thuận lơị
3.2.2 Nhóm giải pháp về việc hoàn thiện các công cụ của CSTT.
KẾT LUẬN
http://s1.liketly.com/flash/edoc/web-viewer.html?file=jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-demo-2017-08-02-de_tai_cac_cong_cu_cua_chinh_sach_tien_te_tai_viet_nam_thuc_wOfiEVhW0P.png /tai-lieu/de-tai-cac-cong-cu-cua-chinh-sach-tien-te-tai-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap-hoan-thien-93660/ Để tải tài liệu này, vui lòng Trả lời bài viết, Mods sẽ gửi Link download cho bạn ngay qua hòm tin nhắn. Ket-noi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn
Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ket-noi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
95 đến 1997, NHNN vẫn tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ “thắt chặt” để kiểm soát lạm phát từ đó đưa ra rỉ lệ hạn mức tín dụng ở mức vừa phải cho các NHTM. Song kết quả thực tế cho thấy hiện tượng phổ biến là hầu hết các NHTM đều có xu hướng vượt qúa chỉ tiêu hạn mức tín dụng được giao, cụ thể .
Biểu 2: Tình hình thực hiện hạn mức T Dtín dụng (1995-1998).
Năm
Danh mục
1995
1996
1997
Quỹ T D /1998
KH giao
Thực hiện
KH giao
Thực hiện
KH giao
Thực hiện
KH giao
Thực hiện
Tăng so với
năm trước
21%
37,8%
25%
29%
21%
26,4%
4%
4,8%S
Hiện tượng trên xuất phát từ hai nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất, trong giai đoạn nay tốc độọ huy động vốn nhàn rỗi bình quân hàng năm của các NHTM tăng nhanh (khoảng 26% đến 37% năm) vì vậy các NHTM tất yếu phải thực hiện đầu tư tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế vì con đường để đầu tư qua thị trường tiền tệ, thị trường vốn là khó khăn trong điều kiện nước ta lúc bấy giờ.
Thứ hai, Do diễn biến lãi suất đang có xu hướng giảm trần lãi suất cho vay trong khi đó để huy động nguồn vốn nhàn rỗi các NHTM phải tăng lãi suất huy động (do tâm lý người dân không muốn gửi), đĐiều đó làm cho chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động giao động ở mức 0,15% - 0,25% tháng, thấp hơn so với trước đây 0,3%-0,45% tháng. Với chênh lệch như vậy để đảm bảo hoạt động kinh doanh đủ bù đắp chi phí hoạt động thì buộc các NHTM phải tăng dư nợ đối với nền kinh tế.
Hiện tượng trên cũng góp phần giải thích tại sao trong những năm 1995- 1997 mặc dù lạm phát được kiểm chế ở mức thấp (bình quân 6,9% năm) nhưng nền kinh tế vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao 9,28% năm.
Tuy nhiên, từ năm 1998 đến nay, công cụ hạn mức tín dụng đã mất dần vai trò của nó trong việc hạn chế sự gia tăng của tổng phương tiện thanh toán vì lạm phát có xu hướng giảm và thấp dần ; mặt khác nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày càng tăng và cần mở rộng tín dụng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Do đó từ quý II/1998, NHNN đã không áp dụng công cụ này như một công cụ thường xuyên để điều hành chính sách tiền tệ (mặc dùụ có thể coi nó như một giải phóng tình thế khi cần thiết).
Công cụ này sẽ được xoá bỏ hoàn toàn khi thị trường tiền tệ ổn định , thị trường vốn phát triển và thị hoàn thiện khi thị trường tiền tệ ổn định, thị trường vốn phát triển và thị trường mở đi vào hoạt động có hiệu quả.
2.2.3 Công cụ dDự trữ bắt buộc
Đây là công cụ gián tiếp điều chỉnh mức cung tiễn được sử dụng sớm nhất ở Việt Nam (từ 1991), theo pháp lệnh Ngân hàng (1990), tỷ lệ DTBB có thể ở mức từ 10% đến 30% tổng nguồn vốn huy động của các NHTM.
Song trong điều kiện thực tế lúc bấy giờ khi tiềm lực của các NHTM Việt Nam còn nhỏ bé và lạm phát đã được kiềm chế ở mức đáng kể, nên NHNN đã quy định tỉ lệ DTBB là 10%; được áp dụng cho các NHTMQD, NHTM cổ phần ,chi nhánh NH nước ngoài,NH liên doanh và các công ty tài chính.
Qua quá trình thực hiện ban đầu cho thấy rất ít NHTM dự trữ đủ 10% nhất là các NHTM cổ phần, do vậy để nâng cao hiệu quả của công cụ này, trong năm 1994, NHNN đã hai lần điều chỉnh tỉ lệ DTBB; quy định mức DTBB thống nhất đối với tất cả các NHTM(có phân biệt với các loại tiền gửi khác nhau :quỹ IV/199 4 tiền gửi, tiền tiết kiệm ổng kết không kì hạn: 13%;
tiết kiện Tổng kết kì hạn 3,6 tháng, kì phiếu mục đích, trái phiếu: 8%) ; đồng thời đẩy mạnh việc áp dụng quy chế phạt đối với các TCTD không thực hiện đúng quy chế DTBB.
Năm 1995, NHNN quy định (CT10/1995) DTBB chỉ được tính đối với loại tiền gửi có kì hạn từ 12 tháng trở xuống, thống nhất ở mức 10% được áp dụng cho tất cả các NHTMC( trừ NHTMCP nông thôn, HTX tín dụng, quỹ TDND tạm thời chưa phải thực hiện). Số lần tính DTBB hàng tháng tăng lên, lại bỏ dần tín phiếu kho bạc trong cơ cấu tiền gửi DTBB; tiễn gửi DTBB được hợp nhất với tiền gửi thanh toán của các NHTM vào một tài khoản chung là tài khoản tiền gửi không kì hạn tại NHNN. Tiền gửi dự trữ vượt được trả lãi 0,1% tháng (Năm 1996). Điều này đã tạo sự linh hoạt hơn cho việc điều chỉnh dự trữ của các NHTM tại NHNN, góp phần gián tiếp khống chế lãi suất thị trường và khối lượng tín dụng cung ứng để thực hiện tốt mục tiêu kiềm chế lạm phát.
Đến T12/97, Quy chế DTBB có sự thay đổi để đảm bảo tính cụ thể, rõ ràng hơn: Tiền gửi DTBB tại NHNN được tính bình quân trong cả kì duy trì, tỷ lệ DTBB vẫn là 10%, tiền dự trữ vượt được hưởng lãi suất 0,2%2 tháng (bằng VND) và 4,86% năm (đối với USD). Đồng thời NHTM nào thiếu tiền gửi DTBB troọng kì duy trì sẽ bị phạt theo mức 200% lãi suất cho vay tái cấp vốn của NHNN (VND), từ đó khuyến khích các NHTM thực hiện đúng quy chế DTBB.
Để luật NHNN có hiệu lực (từ 1/10/1998) ,Ttừ cuối 1998 và trong năm 1999, quy chế DTBB có những thay đổi đáng kể: Đối tượng áp dụngếm được mở rộng thêm (quỹ TDND, NH hợp tác);số tiền DTBB phải gửi tại NHNN để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia thay cho quy định về cơ cấu tiền DTBB trước đây: 70% gửi tại NHNN và 30% tiền mặt, ngân phiếu còn thời hạn thanh toán;, việc trả lãi tiền DTVBB do chính phủ quy định.
Để tạo đà khôi phục, phát triển kinh tế trong năm 1999 tỉ lệ DTBB được điều chỉnh nhiều lần theo xu hướng gỉam nhằm nới lỏng tiền tệ, kích thíh đầu tư, tiêu dùng.
Tỷ lệ DTBB đối với các TCTD năm 1999
Tính tiền tổng số dư tiền gửi huy động (VND, ngoại tệ) kì hạn dưới 12 tháng. Biểu 3: Tỷ lệ DTBB đối với các TCTD năm 1999
TCTD
Tỉ lệ DTBB (%)
1/1/99
1/3/99
1/6/99
1/7/99
1/10/99
1. NHTMQD, NHTM của đô thị, chi nhánh NH nước ngoài, NH liên doanh & Công ty TC
10
7
6
5
5
- NH nông nghiệp và PTNT
10
7
6
5
3
2. NHTMCP nông thôn, NH hợp tác, Quỹ TDNDTW, khu vực.
0
5
4
1
1
3. TCTD có số dư tiền gửi phải ân tícnh DTBB dưới 500trđ quỹ TDND cơ sở, HTX tín dụng, NH phục vụ người nghèo.
0
0
0
0
0
Việc giảm tỷ lệ DTBB trên đã đóng góp phần nhất định vào việc mở rộng tín dụng, giảm chi phí hoạt động và góp phần làm dịu đi những khó khăn của các NHTM do lãi suất giảm.
Như vậy, công cụ DTBB ngày càng được hoàn thiện và trở thành công cụ đắc lực của NHNN Việt Nam trong điều hành chính sách tiền tệ.
Trong năm 2000, NHNN tiếp tục áp dụng tỷ lệ DTBB bằng VND như năm 1999. Riêng về tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi bằng ngoại tệ để tạo tín hiệu hạn chế việc các TCTD huy động tiền gửi USD ( qua việc nâng lãi suất huy động) để gửi ra nước ngoài hưởng chênh lệch lãi suất, khuyến khích các TCTD cho vay trong nước , ngày 10/10/2000 NHNN đã điều chỉnh tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 8% kể từ kỳ duy trì DTBB tháng 11/2000. Sau đó nhằm tiếp tục thực hiện chủ trương trên ,ngày 1/12/2000 NHNN tiếp tục nâng tỷ lệ DTBB lên 12% áp dụng từ kỳ duy trì DTBB 12/2000.
Như vậy, công cụ DTBB ngày càng được hoàn thiện và trở thành công cụ đắc lực của NHNN Việt Nam trong điều hành chính sách tiền tệ.
2.2.4 Công cụ cCho vay tái chiết khấu
ở Việt Nam, cho vay tái chiết khấu đã được sử dụng như là một công cụ của CSTT ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Tuy vậy, vìdo chưa hội đủ những điều kiện nên việc áp dụng nó còn giản đơn do vậy làm chomà hiệu quả của nó còn nhiều hạn chế. Mặc dù vậy trong những năm gần đây nó đã trở thành công cụ đắc lực góp phần thực hiện tốt các mục tiêu của CSTT quốc gia.
Thời kỳ đầu, cho vay chiết khấu được thực hiện qua việc NHNN cho NHTM vay ngắn hạn khế ước căn cứ vào khế ước tín dụng ( có chất lượng ) do NHTM đem thế chấp tại NHNN, lãi suất tái cấp vốn được xác định dựa theo lãi suất cho vay (cao nhất ) của các NHTM và được điều chỉnh linh hoạt theo mục tiêu CSTT, quốc gia ở mỗi thời kỳ. Năm 1994 với mục tiêu kiềm chế lạm phát, NHNN hạn chế tới mức thấp nhất mức tái cấp vốn cho các NHTM qua việc nâng lãi suất tái cấp vốn từ 85% -100% lãi suất cho vay các NHTM, riêng NH nông nghiệpTM là 95%. Năm 1995 để đẩy mạnh mục tiêu trên, NHNN đã ngưng tái cấp vốn cho các NHTM nhằm đẩy mạnh công tác thu hồi nợ và giảm cho vay tín dụng của các NHTM. Nhờ đó, đến cuối 1995 dư nợ cho vay chiết khấu của NHNN đã giảm xuống 13% so với 1994. Năm 1996 ,để giải quyết tình trạng khó khăn trong thanh toán của các NHTM, NHTW đã thực hiện việc cho vay ngắn hạn đối với các NHTM trong trường hợp tạm thời thiếu khả năng thanh toán (qua các phiên thanh toán , bù trừ trên từng địa bàn). Nhưng áp dụng lãaĩ suất tái chiết khấu ở mức tối đa. Điều này một mặt bảo đảm được sự ổn định của hệ thống ngân hàng, mặt khác hạn chế được khả năng cung ứng vượt qúa về tín dụng của các NHTM đồng thời khuyến khích việc huy động vốn của các NHTM, cũng hạn chế bớt việc các NHTM vay tiền của NHNN, vì vậy cuối năm 1996, dư nợ cho vay tái chiết khấu ứng khoán chỉ tăng 3,5% so với 1995.
Trong năm 1997 NHNN đã sử dụng cách tái cấp vốn có thế chấp (bằng chứng từ, tiền gửi ngoại tệ tại NHNN) nhằm bù đắp khó khăn tạm thời trong thanh toán cho các NHTM. Lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh từ quy định 100% lãi suất cho vay của các NHTM đối với nền kinh tế sang quy định mức lãi suất cụ thể (từ tháng 3-tháng 7năm 1997). Mức lãi suất tái cấp vốn quy định là 1,1% tháng, từ T8/1997là 0,9% ). Do trong năm 1997 các NHTM ...