Nội dung quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay - Pdf 33

PHỤ LỤC


BÀI LÀM
A.

MỞ BÀI
Hiện nay, cùng với quá trình xã hội hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cũng

đang dần có sự chuyển đổi và phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội. Trong những năm
gần đây, vấn đề bình đẳng giới luôn được Đảng - Nhà nước quan tâm và coi đó là mục tiêu
mang tính chiến lược nhằm đảm bảo quyền con người nói chung và quyền bình đẳng giữa các
thành viên trong gia đình nói riêng. Đặc biệt là sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong lĩnh vực
hôn nhân và gia đình. Quyền bình đẳng giữa vợ chồng, đặc biệt là quyền bình đẳng đối với tài
sản chung hợp nhất giữa vợ chồng đã được đề cập khá cụ thể và chi tiết trong các quy định của
pháp luật. Vậy, cụ thể nội dung của quyền này như thế nào? Nó được thực hiện trên thực tế có
tốt không? Chúng ta cùng tìm hiểu qua nội dung sau nhé!
B.

NỘI DUNG

I.

Một số vấn đề lý luận về quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản

chung hợp nhất.
1.

Khái niện quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất.

Theo từ điển Tiếng Việt thì: “bình” có nghĩa là: đều nhau; “đẳng” nghĩa là: thứ bậc. “ Bình

Việt của pháp luật Việt Nam đối với những cặp vợ chồng trong xã hội. Việc quy định như vậy
sẽ giúp họ hiểu và làm theo các quy định của Pháp luật, giữa vợ và chồng luôn có sự bàn bạc,
thống nhất và quyết đinh về các vấn đền có liên quan tới sản chung hợp nhất của vợ chồng...
Điều đó sẽ giúp họ tránh được những mâu thuẫn, bất đồng trong đời sống... để cùng nhau làm
ăn, xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc.
II.

Nội dung quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất theo

quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay.
Việc xác định tài sản chung của vợ chồng phải dựa vào nguồn gốc phát sinh tài

1.

sản.
Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định rất chi tiết về Tài sản chung của vợ
chồng. Theo quy định này, tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
Thứ nhất: Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh
doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Thu nhập hợp
pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể là: tiền lương, tiền thưởng, tiền trợ cấp,
tiền trúng xổ số mà vợ chồng có được hoặc tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu
theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 như: Xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật
không xác định được ai là chủ sở hữu ( Điều 239); Xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn
giấu, bị chìm đắm được tìm thấy ( Điều 240); xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dưới nước
( Điều 244)...
Thứ hai: Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài
sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết
hôn hoặc những tài sản mà vợ chồng được thừa kế riêng hay được tặng riêng trong thời kỳ hôn
nhân nhưng vợ chồng đã thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung hoặc theo quy định của pháp


vợ chồng thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định. Cơ sở pháp lý để xác định những tài sản phải
đăng ký quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng chính là giấy chứng nhận quyền sở hữu tài
sản có ghi tên của cả vợ và chồng.

4


2.

Vợ, chồng có nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt

tài sản chung.
Khoản 2 Điều 219 BLDS quy định: “ Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản
chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản chung”. Như vậy, theo quy định này thì trong quá trình phát triển, duy trì
khối tài sản chung thì vợ chồng cùng nhau tạo lập bằng công sức của mỗi người. Và trong quá
trình tạo lập để hình thành nên khối tài sản chung đó thì vợ chồng có quyền ngang nhau trong
việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản. Ngoài ra, việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài
sản chung của vợ chồng thì họ cũng phải có quyền và nghĩa vụ ngang nhau và nó được quy
định rất rõ tại Khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “ vợ, chồng có quyền và
nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung”.
3.

Vợ chồng có quyền bình đẳng đối với khối tài sản chung trong việc xác lập, thực

hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung.
Trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung dù
lớn hay nhỏ thì vợ chồng cũng có quyền bình đẳng ngang nhau, trong việc dùng tài sản chung
để đầu tư kinh doanh thì vợ chồng phải được bàn bạc, thảo luận. Tại Khoản 3 Điều 28 Luật
Hôn nhân và gia đình 2000 quy định rất rõ điều này: “ Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt

Điều 24 Luật hôn nhân và gia đình thì trong trường hợp vợ, chồng ủy quyền cho nhau, người
được ủy quyền có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung trong phạm vi được
ủy quyền. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản có cả chữ ký của vợ và chồng. Việc
pháp luật quy định vợ chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng đối với tài sản chung hợp nhất là
rất hợp lý. Bởi lẽ, pháp luật đã bảo vệ khối tài sản chung cho vợ chồng, tránh những trường
hợp một trong hai vợ chồng có hành vi phá tán tài sản chung, hủy hoại tài sản chung hoặc tự
mình thực hiện những giao dịch dân sự làm tổn thất khối tài sản chung, ảnh hưởng tới quyền
lợi của gia đình. Đồng thời, quy định này còn khẳng định quyền bình đẳng về mọi mặt của vợ
chồng trong quan hệ gia đình.
5.

Vợ chồng có quyền chia tài sản chung.

Xuất phát từ thực tế các quan hệ hôn nhân và gia đình, đồng thời nhằm bảo vệ lợi ích chính
đáng của vợ chồng về vấn đề tài sản, luật hôn nhân và gia đình cũng quy định các trường hợp
chia tài sản chung của vợ chồng. Bao gồm những trường hợp sau:
-

Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;

-

Chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ, chồng chết;

6


-

Chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn;



chồng ly hôn thì họ phải tuân thủ các nguyên tắc chia tài sản như: - việc chia tài sản khi ly hôn
thì do các bên thỏa thuận; nếu họ không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết; - Tài
sản chung của vợ, chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi
bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài
sản này; - Tài sản chung của vợ, chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị... ( Điều 95
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000).
III.

Thực trạng việc thực hiện quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài

sản chung hợp nhất.
Trong những năm qua, việc thực hiện quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản
chung hợp nhất được triển khai trên thực tế có nhiều chuyển biến tích cực, đạt nhiều kết
quả tốt đẹp, đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng, đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên vợ
và chồng. Tuy nhiên trên thực tế cũng đã gặp không ít khó khăn, bất cập như:
Thứ nhất: Vướng mắc khi xác định và phân chia tài sản chung của vợ chồng. Các
tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn rất đa dạng, phong phú và
có nhiều diễn biến hết sức phức tạp. Có nhiều trường hợp tranh chấp thực tế không phụ
thuộc vào giá trị của tài sản nhiều hay ít nhưng các đương sự tranh giành nhau quyết liệt,
bất chấp cả đạo lý, bất chấp cả thời gian chung sống của quá khứ là vợ chồng của nhau....
Khi giải quyết các tranh chấp về tài sản trong các vụ án ly hôn, có rất nhiều Tòa án,
nhất là các Tòa án ở địa phương còn xác định tài sản chung của vợ chồng còn bị sai.
Nhiều bản án đã bị hủy vì xác định chưa chính xác, không hợp lý, chưa đảm bảo thực sự
công bằng cho vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất… Ví dụ như gần đây chánh án
TAND Tối cao đã kháng nghị giám đốc thẩm yêu cầu hủy hai bản án sơ, phúc thẩm để
giải quyết lại việc phân chia tài sản trong vụ ly hôn của vợ chồng chị NTBT tại thị xã
Rạch Giá (Kiên Giang)2.
Tài sản tranh chấp của vợ chồng chị là một mảnh đất diện tích hơn 360 m 2. Năm 1998,

đưa 90 triệu đồng nhờ con trai mua giùm lô đất trên.
Xử sơ thẩm, TAND TP Tam Kỳ không công nhận lô đất là tài sản chung của vợ
chồng ông N. Xử phúc thẩm, TAND tỉnh Quảng Nam đã sửa án sơ thẩm, công nhận lô đất
này là tài sản chung.
Như vậy, trong vụ việc trên lời khai của các đương sự rất khác nhau về nguồn tiền
mua đất nhưng không bên nào xuất trình được đầy đủ chứng cứ chứng minh. Lẽ ra, các cấp
tòa cần phải thu thập thêm chứng cứ để làm rõ thời điểm mua đất, mua của ai, quá trình sử
dụng, đăng ký, kê khai. Về nguồn tiền mua, các cấp tòa cũng cần phải xác minh công việc,

9


nguồn thu nhập của các bên cũng như độ chính xác trong lời khai của mẹ ông N. Do không
thu thập chứng cứ để làm rõ, mỗi cấp tòa có một quyết định khác nhau nhưng đều chưa đủ
căn cứ và thiếu tính thuyết phục. Làm cho các đương sự không đảm bảo được quyền lợi của
mình.
Thứ ba: Luật Hôn nhân và Gia đình đưa ra nguyên tắc về chia tài sản chung của
vợ chồng khi ly hôn còn chưa rõ ràng. Thực tế nhiều vấn đề chưa được hướng dẫn thống
nhất. Có những trường hợp phần đất là do cha mẹ bên vợ hoặc bên chồng cho riêng, sau đó
xây nhà hợp thức hóa đứng tên hai vợ chồng hoặc đất được cơ quan cấp riêng cho chồng
hoặc vợ, sau đó kết hôn xây nhà hợp thức hóa đứng tên chung. Có tòa xác định đất là tài sản
riêng, nhà là tài sản chung. Tuy nhiên có tòa thì cả đất và nhà đều là tài sản chung. Ngoài ra
còn có những trường hợp bán căn nhà trước đó lấy tiền cùng nhau tạo lập nhà mới. Việc xác
định căn nhà mới là tài sản chung, riêng hay công sức đóng góp thế nào cũng khiến các tòa
lúng túng. Có tòa thì cho rằng tài sản chung, có tòa thì lại là tài sản chung có một phần riêng,
có tòa buộc đương sự phải chứng minh phần đóng góp…
IV.

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các quy định của pháp


hợp nhất là rất quan trọng. Có thể nâng cao nhận thức của cộng đồng qua nhiều phương
tiện thông tin đại chúng, sách, báo... phù hợp với từng vùng miền và từng dân tộc.
C.

KẾT BÀI

Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp
dụng chúng ta có thể thấy quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất là
quyền rất cơ bản, có nhiều ý nghĩa quan trọng đối với các cặp vợ chồng ở nước ta hiện nay.
Đồng thời, thể hiện sự tiến bộ của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng chế độ hôn nhân
và gia đình ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời gian tới, Đảng – Nhà nước cần có những giải
pháp tích cực hơn nữa về văn hóa, phổ biến, giáo dục pháp luật sâu rộng cho người dân, nhất
là các cặp vợ chồng về quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất để
quyền này được thực hiện trên thực tế đạt nhiều hiệu quả cao hơn.

11


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB CAND
– 2011.
2. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
3. Nghị định của Chính phủ số 70/2001/ NĐ – CP ngày 03 tháng 10 năm 2001 Quy
định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình.
4. Bình luận khoa học hôn nhân và gia đình Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia –
2000.
5. Tài liệu tham khảo khác: WWW. Google.com.vn.

12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status