Các biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay - Pdf 25



MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH
CHÍNH KHÁC TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
8
1.1.
Quan niệm về các biện pháp xử lý hành chính
8
1.1.1.
Khái niệm biện pháp xử lí hành chính
8
1.1.2.
Khái niệm biện pháp xử lí hành chính khác

2.1.1.
Hệ thống các biện pháp xử lí hành chính khác
31
2.1.2.
Đối tượng áp dụng các biện pháp xử lí hành chính khác
33
2.1.3.
Thẩm quyền xem xét áp dụng các biện pháp xử lí hành chính khác
38 2.1.4.
Thủ tục áp dụng các biện pháp xử lí hành chính khác
41
2.2.
Thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác ở
Việt Nam
45
2.2.1.
Thực tiễn về việc áp dụng pháp luật các biện pháp xử lí hành
chính khác
45
2.2.2.
Thực tiễn tổ chức và thực hiện quyết định áp dụng các biện
pháp xử lí hành chính khác
48
2.2.3.
Những tồn tại, bất cập và nguyên nhân
50


63
3.2.5.
Về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác
64
3.3.
Các kiến nghị đối với việc áp dụng các biện pháp xử lý hành
chính khác ở Việt Nam
66

KẾT LUẬN
71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
72
1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới đất nước với ưu tiên cốt lõi là xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã từng bước đưa đất nước ta thoát
khỏi sự khủng hoảng kinh tế và từng bước cải thiện được đời sống vật chất
cho nhân dân. Những thành tựu của quá trình đổi mới không chỉ dừng lại ở
tốc độ phát triển kinh tế, sự ổn định của đời sống xã hội và đảm bảo an ninh
quốc gia, độc lập chủ quyền của dân tộc mà còn được thể hiện trong các thành
tựu về văn hóa, xã hội, công tác giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ và
bảo đảm an sinh xã hội v.v
Tuy nhiên, song song với những thành tựu đạt được thì những biểu

thạc sĩ của tác giả Nguyễn Trọng Bình (2002): "Hoàn thiện quy định pháp luật
về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính"; luận văn thạc sĩ luật học của
Nguyễn Ngọc Bích (2003): "Hoàn thiện pháp luật về xử lí hành chính với người
chưa thành niên"; luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Đình Thảo: "Trách
nhiệm hành chính trong lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội"; luận
văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thị Thủy: "Thẩm quyền xử lí vi phạm hành chính".
Các công trình khoa học trên hoặc đã cũ hoặc chỉ đặt các biện pháp xử
lý hành chính khác trong tổng thể của các biện pháp xử lý hành chính hoặc
nghiên cứu chúng trong mối quan hệ nhất định với một số loại chủ thể đặc
biệt bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Chính vì thế, việc nghiên cứu một cách tổng thể các phương diện của các
biện pháp xử lý hành chính khác nhằm cung cấp hệ thống cơ sở lý luận cũng như
xác định các nguyên nhân trực tiếp tác động tiêu cực đến hiệu quả áp dụng các biện
pháp hành chính khác phục vụ cho nhiệm vụ hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm
hành chính là hoạt động khoa học có tính cấp bách và có ý nghĩa thiết thực đối
với hoạt động xây dựng pháp luật cũng như yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả mạnh dạn chọn đề tài
"Các biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật Việt
Nam hiện nay" làm luận văn thạc sĩ của mình. 3
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Pháp luật Việt Nam về các biện pháp xử lí hành chính khác là một nội
dung của pháp luật về xử lí vi phạm hành chính, khi nghiên cứu cần đặt nó
trong tổng thể các quy định pháp luật về xử lí vi phạm hành chính. Liên quan
đến lĩnh vực này có thể kể đến một số tác giả cùng với các công trình khoa
học của họ như sau: Luận án phó tiến sĩ Luật học của tác giả Vũ Thư: "Chế
tài hành chính- Lí luận và thực tiễn", bàn về những vấn đề lí luận và thực tiễn
của chế tài hành chính nói chung; Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Trọng

Hoàng Thị Kim Quế, đăng trên Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội;
"Hoàn thiện các biện pháp xử lý hành chính khác theo Pháp luật Việt Nam",
của Lê Ngọc Thạch, đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 1/2006;
"Những vấn đề đổi mới pháp luật về vi phạm hành chính ở nước ta", của
Nguyễn Cửu Việt, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1/2009); "Quyền công
dân, quyền con người và chỗ đứng của các biện pháp xử lí hành chính khác
trong pháp luật về vi phạm hành chính", của Trần Thanh Hương, Tạp chí Dân
chủ và pháp luật, số 11/2005… Các công trình này phần nào đã đi vào đề cập
đến một số điểm hạn chế, bất cập của pháp luật về các biện pháp xử lí hành
chính khác song bàn đến với dung lượng không đáng kể và chưa toàn diện,
triệt để về cả vấn đề lí luận và thực tiễn áp dụng của nhóm biện pháp này.
Đề tài "Các biện pháp xử lí hành chính khác theo quy định của
pháp luật Việt Nam hiện nay" ở cấp độ luận văn thạc sĩ sẽ được nghiên cứu
chuyên sâu, đầy đủ và có tính hệ thống. Bên cạnh đó, tác giả có ý thức kế thừa
kết quả khoa học của những công trình đã công bố và kinh nghiệm thực tiễn
có liên quan.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng của pháp luật hiện hành về
các biện pháp xử lý hành chính khác trong mối quan hệ với hệ thống lý luận
định hướng hoàn thiện pháp luật trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
công trình nghiên cứu đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật về các biện pháp xử lí hành chính khác trong điều kiện xây dựng 5
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải hoàn thành các nhiệm vụ:

hành chính khác - những biện pháp ngoài biện pháp xử phạt hành chính được
quy định tại Điều 22 Pháp lệnh Xử lí vi phạm hành chính năm 2002; phân tích,
đánh giá một cách toàn diện về quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp
dụng pháp luật Việt Nam về các biện pháp xử lý hành chính khác để từ đó tìm
ra những điểm tích cực, hạn chế, đề xuất phương hướng và giải pháp cho việc
hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về nhóm các biện pháp này.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lê nin, vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử để thấy sự hình thành, phát triển của pháp luật về các biện pháp xử
lí hành chính ở Việt Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp, so sánh
đối chiếu, suy luận lôgic được sử dụng nhằm lí giải các vấn đề lí luận, giúp
cho mỗi vấn đề được nhìn nhận từ nhiều góc độ, thấy được những điểm hợp lí
và chưa hợp lí của các quan điểm, quan niệm đưa ra trong luận văn, từ đó đưa
ra được kết luận có tính khoa học và nổi bật về vấn đề.
Phương pháp thống kê, phương pháp tổng kết thực tiễn cũng được sử
dụng có hiệu quả để từ những số liệu, tình hình thực tế cụ thể thống kê được
có thể phân tích, tổng kết thấy được bức tranh toàn diện về thực trạng pháp
luật và thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lí hành chính khác, đó là cơ sở
chính xác nhất cho việc đề xuất các giải pháp hợp lí, khả thi. 7
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn là một đề tài nghiên cứu trực tiếp và tương đối toàn diện về
các biện pháp xử lý hành chính khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Luận văn xác định được những yếu tố cơ bản tác động đến quy định

pháp cưỡng chế của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội, các hành vi
vi phạm hết sức đa dạng, phức tạp. Bên cạnh các biện pháp cưỡng chế hình
sự, dân sự và kỉ luật, các biện pháp cưỡng chế hành chính có vai trò quan
trọng trong việc đấu tranh, phòng ngừa vi phạm pháp luật, duy trì ổn định xã
hội, đảm bảo an ninh trật tự, tăng cường hiệu quả quản lí nhà nước. Cưỡng
chế hành chính gồm nhiều nhóm biện pháp cưỡng chế khác nhau. Dựa vào cơ
sở áp dụng, cưỡng chế hành chính có thể chia thành hai nhóm lớn, gồm: nhóm
biện pháp cưỡng chế hành chính được áp dụng khi có vi phạm hành chính xảy
ra và nhóm biện pháp cưỡng chế hành chính được áp dụng trong trường hợp
không có vi phạm hành chính nhằm mục đích ngăn chặn, phòng ngừa vi phạm
hành chính hoặc vì mục đích an ninh quốc gia; bảo vệ cộng đồng, phòng tránh
thiên tai Các hình thức xử lý hành chính thuộc nhóm biện pháp cưỡng chế
hành chính áp dụng trên cơ sở có vi phạm hành chính.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, khái niệm "xử phạt vi phạm
hành chính" cùng với các biện pháp xử lý hành chính khác được gọi chung là
"xử lý vi phạm hành chính". Điều 1 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm
2002 quy định: "Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành
chính và các biện pháp xử lý hành chính khác" [39]. Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính năm 1995 và năm 2002 đều không đưa ra định nghĩa mang tính 9
khoa học về xử phạt hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác mà
chỉ quy định trực tiếp những hình thức, biện pháp thuộc nội hàm của các chế
định này.
Lâu nay chúng ta vẫn hay quan niệm "Xử lí vi phạm hành chính bao
gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lí hành chính khác".
Quan niệm này được hình thành xuất phát từ quy định của pháp luật hiện
hành. Có lẽ nên hiểu, xử lí hành chính là một quá trình trong đó bao gồm
nhiều hoạt động cụ thể của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền nhằm xem xét

Tính cưỡng chế của các biện pháp xử lí hành chính được thể hiện ở
chỗ cơ quan, người có thẩm quyền sẽ áp dụng những biện pháp có tính chất
nghiêm khắc, buộc người vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi hạn
chế quyền tự do cá nhân trong một thời gian nhất định hoặc lên án, giáo dục
về mặt tinh thần, nhân cách. Khi bị áp dụng các biện pháp xử lí hành chính
khác, cá nhân đó sẽ buộc phải học tập, lao động, chữa bệnh… dưới sự giám
sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong một thời hạn nhất định hoặc bị
tước bỏ một phần nhất định quyền sở hữu tài sản của người vi phạm hành
chính (trong trường hợp bị phạt hành chính). Việc áp dụng các biện pháp xử lí
hành chính do các chủ thể có thẩm quyền áp dụng. Các chủ thể có thẩm quyền
ở đây phải được trao quyền lực nhà nước, nhân danh Nhà nước để thực hiện
việc tổ chức và áp dụng các biện pháp xử lí hành chính đối với người vi phạm
hành chính. Quyết định áp dụng các biện pháp xử lí hành chính được ban
hành đơn phương, nhưng có tính bắt buộc thi hành đối với người bị áp dụng
và được Nhà nước bảo đảm thi hành. Với tư cách là một biện pháp cưỡng chế
hành chính, biện pháp xử lí hành chính được phân biệt với các biện pháp
cưỡng chế pháp lý khác chủ yếu ở các phương diện nội dung cưỡng chế, mục
đích cưỡng chế, chủ thể bị cưỡng chế, thủ tục và thẩm quyền áp dụng.
1.1.2. Khái niệm biện pháp xử lí hành chính khác
Các biện pháp xử lý hành chính khác của Pháp lệnh hiện hành có
nguồn gốc ban đầu là biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt, xuất phát từ 11
Nghị quyết 49 năm 1961 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghị quyết này
quy định việc đưa vào các trung tâm giáo dục cải tạo đối với người có hành
động nguy hại cho xã hội, được giáo dục nhiều lần, nhưng không hối cải, Chủ
tịch tỉnh ra quyết định và Bộ trưởng Công an duyệt với thời hạn 3 năm mà
không cần thông qua việc xét xử của cơ quan tư pháp - Tòa án. Những biện
pháp này giành cho những người chống đối chế độ biểu hiện qua những hành

- Các biện pháp xử lí hành chính khác có các đặc điểm chung của
biện pháp cưỡng chế hành chính Nhà nước:
+ Tính pháp lí: Các biện pháp xử lí hành chính khác cũng như các
biện pháp cưỡng chế hành chính được pháp luật hành chính quy định cụ thể
về loại biện pháp, thẩm quyền, trường hợp, đối tượng, thủ tục và phạm vi áp
dụng. Hiện nay, thẩm quyền quy định về các biện pháp này thuộc về Quốc
hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ. Trong đó, Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định những căn cứ chung để áp dụng các biện pháp
xử lí hành chính khác làm khung pháp luật; Chính phủ không thể đặt ra các
biện pháp mới mà chỉ quy định một cách cụ thể cách thức áp dụng đối với
mỗi loại biện pháp. Đặc điểm này chủ yếu được phân biệt với các biện pháp
cưỡng chế hình sự (được pháp luật hình sự và tố tụng hình sự quy định) và
cưỡng chế dân sự (được pháp luật dân sự và tố tụng dân sự quy định).
+ Các biện pháp xử lí hành chính do các cơ quan quản lí nhà nước có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật áp dụng. Nghĩa là, không phải bất kì
cơ quan quản lí nhà nước nào cũng có thẩm quyền áp dụng mà chỉ những chủ
thể nhất định được Nhà nước trao quyền.
+ Các biện pháp xử lí hành chính áp dụng trong cả trường hợp có vi
phạm hành chính hoặc chưa đủ dấu hiệu cấu thành vi phạm hành chính nhưng
vì mục đích ngăn chặn, phòng ngừa, giáo dục. Nhóm biện pháp cưỡng chế
hành chính bao gồm nhiều loại biện pháp khác nhau như nhóm biện pháp
phòng ngừa hành chính, nhóm các biện pháp ngăn chặn hành chính và các
biện pháp trách nhiệm hành chính…áp dụng khi có vi phạm pháp luật hoặc vì 13
lí do ngăn chặn, phòng ngừa, vì lí do an ninh quốc phòng, vì lợi ích quốc gia,
nhằm bảo đảm pháp chế và kỉ luật trong lĩnh vực quản lí nhà nước.
+ Các biện pháp xử lí hành chính khác được áp dụng theo thủ tục hành
chính chặt chẽ, công khai, minh bạch do các quy phạm thủ tục hành chính quy

khác biệt so với thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính
khác. Ví dụ: Thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính
được pháp luật quy định cho rất nhiều nhóm chủ thể khác nhau trong quản lí
hành chính nhà nước. Trong khi đó, thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lí
hành chính khác được pháp luật quy định chỉ cho chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh, huyện hoặc cấp xã. Quy định như vậy là nhằm đảm bảo việc áp dụng
thống nhất và yêu cầu quản lí, tổ chức, giáo dục các đối tượng bị áp dụng các
biện pháp xử lí hành chính khác.
Thứ ba: Các biện pháp xử lí hành chính khác được áp dụng theo thủ
tục hành chính. Khác với các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính được
pháp luật quy định đơn giản, nhanh chóng, biện pháp xử lí hành chính khác
tiến hành một cách chặt chẽ, qua nhiều khâu xét duyệt với sự tham gia của
nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khác nhau. Bởi việc áp dụng
các biện pháp xử lí hành chính khác đối với các đối tượng vi phạm pháp luật
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, tự do của mỗi cá nhân. Vì vậy, pháp luật cần
phải quy định chính xác, minh bạch trong quá trình xử lí để vừa đảm bảo xử lí
nghiêm những hành vi phạm pháp luật, đồng thời đảm bảo được quyền tự do
dân chủ của công dân.
Thứ tư: Kết quả áp dụng các biện pháp xử lí hành chính khác được thể
hiện bằng quyết định áp dụng các biện pháp xử lí và đối tượng bị áp dụng
chịu sự quản lí và hạn chế trực tiếp một số quyền tự do nhất định. Thực chất
việc áp dụng các biện pháp xử lí hành chính khác là quá trình xem xét, truy
cứu trách nhiệm hành chính nhằm xác định những hậu quả pháp lí bất lợi mà
các cá nhân vi phạm phải gánh chịu trước Nhà nước. Những hậu quả pháp lí
này cần ghi nhận một cách chính thức, rõ ràng trong một quyết định xử lí, và 15
không dừng tại đó, quyết định này phải được tổ chức thực hiện một cách
nghiêm túc trên thực tế. Kết quả, các đối tượng vi phạm phải chịu sự quản lí,

chúng ta phải xác định một cách rõ ràng, thống nhất đó là những hành vi vi
phạm gì.
Hành vi vi phạm pháp luật là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hành
chính. Chính vì thế, nhằm đảm bảo việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế
hành chính nói chung, các biện pháp xử lý hành chính khác nói riêng, cần
phải được dựa trên cơ sở khoa học về cấu thành của hành vi vi phạm pháp
luật. Vi phạm pháp luật được hiểu là hành vi trái pháp luật do cá nhân hoặc tổ
chức có năng lực chủ thể thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý xâm hại đến các
quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Một vi phạm pháp luật khi bị truy cứu
các dạng trách nhiệm pháp lí đòi hỏi phải hội tụ đầy đủ các yếu tố cấu thành
hành vi vi phạm pháp luật tương ứng về mặt khách quan, mặt chủ quan, khách
thể, chủ thể. Có bốn loại vi phạm pháp luật cơ bản: vi phạm hình sự (tội
phạm), vi phạm hành chính, vi phạm dân sự và vi phạm kỉ luật. Ở đây, hành
vi vi phạm pháp luật bị áp dụng các biện pháp xử lí hành chính khác không
phải là vi phạm dân sự và vi phạm kỉ luật, đồng thời ta thấy hành vi bị áp
dụng các biện pháp xử lí hành chính không phải là vi phạm hình sự, bởi các
hành vi đó chưa đủ yếu tố cấu thành vi phạm hình sự về mặt chủ thể họ thực
hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nhưng chưa đến tuổi truy cứu trách
nhiệm hình sự - chưa đủ năng lực trách nhiệm hình sự hoặc hành vi đó chưa
đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vậy, hành vi bị áp dụng biện pháp xử lí hành chính khác có phải là vi
phạm hành chính hay không. Có hai trường hợp xảy ra: Thứ nhất, những hành
vi đó là hành vi vi phạm hành chính, nhưng do vi phạm quá nhiều lần, các
biện pháp xử phạt không phát huy tác dụng, cần phải áp dụng các biện pháp
xử lí hành chính khác nhằm răn đe và giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật ở họ.
thứ hai, hành vi vi phạm pháp luật của những đối tượng này chưa đủ dấu hiệu
để cấu thành vi phạm hành chính (về chủ thể thực hiện hành vi vi phạm dưới 17

hội đồng thời thể hiện được nội dung dân chủ, công bằng và nhân đạo của
pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh đó, về mặt bản chất, các biện pháp xử lý hành chính khác
luôn mang trong mình ý chí của giai cấp thống trị xã hội. Khi xã hội có sự
thay đổi về giai cấp thống trị xã hội thì tất yếu dẫn đến quan niệm, nội dung,
mục đích áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác sẽ được thay đổi theo.
Quan niệm của các giai cấp trong xã hội đối với các đối tượng bị áp dụng các
biện pháp, về các tệ nạn, hiện tượng trong xã hội sẽ quy định nội dung các
biện pháp khác nhau, trình tự, thủ tục và thẩm quyền áp dụng cũng khác nhau.
Lấy ví dụ, sự nhìn nhận của xã hội về các đối tượng nghiện ma túy là người vi
phạm pháp luật bị áp dụng các biện pháp xử lí hành chính hay họ là nạn nhân
của xã hội cần phải được hỗ trợ biện pháp chữa bệnh. Từ đó sẽ hình thành
quy định pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh có phải là biện pháp
xử lí hành chính hay là biện pháp hỗ trợ chữa bệnh. Như vậy, ta có thể khẳng
định rằng mối quan hệ giữa các giai cấp và quan niệm các giai cấp trong xã
hội quy định đến bản chất các biện pháp cũng như trình tự, thủ tục, thẩm
quyền áp dụng các biện pháp xử lí hành chính khác.
Cách thức tổ chức quyền lực nhà nước cũng có ảnh hưởng đến pháp
luật về các biện pháp xử lí hành chính khác. Điều 2 Hiến pháp 1992 quy định:
"Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp" [29].
Khác với các nước tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền,
quyền lực nhà nước ta tập trung thống nhất vào Quốc Hội. Tuy nhiên, giữa
các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp có sự phân công, phối hợp hài hòa
với nhau. Các biện pháp hạn chế quyền tự do công dân quy định tại Điều 22
Pháp lệnh Xử lí vi phạm hành chính 2002 đều là những biện pháp hành chính,
thuộc thẩm quyền xử lí của các cơ quan hành chính nhà nước. Nhưng việc
quy định cơ sở pháp lí về các biện pháp xử lí hành chính khác thuộc về Quốc
20
trường tạo ra những biến động nhất định đối với vi phạm pháp luật cả về
phạm vi, số lượng, tính chất đa dạng, phức tạp và mức độ cũng nghiêm trọng
hơn. Ngoài ra nhiều hiện tượng tiêu cực nảy sinh từ nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường như ma túy, mại dâm, cờ
bạc tăng lên một cách đáng kể, tình hình gây rối trật tự, an ninh trật tự an toàn
xã hội Đáng nói là đối tượng vi phạm những hiện tượng này chủ yếu là
người chưa thành niên nhưng sớm bị ảnh hưởng và làm quen với những tệ
nạn trên. Trước tình hình đó, pháp luật cần phải có những quy định phù hợp
và kịp thời, đúng đắn để nhanh chóng xử lí có hiệu quả và ngăn ngừa vi phạm
ngày càng đa dạng, phức tạp. Việc quy định các biện pháp xử lí hành chính
khác có ý nghĩa quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay để đấu tranh
có hiệu quả hơn nữa các vi phạm pháp luật, giáo dục ý thức chấp hành
nghiêm minh pháp luật, ngăn ngừa tội phạm, đảm bảo ổn định nền kinh tế - xã
hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh, đúng hướng.
Nền kinh tế mở cửa theo xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập cũng tác động
sâu sắc đến quy định của pháp luật nói chung, pháp luật về các biện pháp xử lí
hành chính khác nói riêng. Yêu cầu hội nhập toàn cầu hóa đòi hỏi pháp luật phải
không ngừng hoàn thiện để phù hợp với lộ trình hội nhập quốc tế, sẵn sàng các
điều kiện chủ động hội nhập. Nền kinh tế mở cửa đòi hỏi pháp luật nước ta không
chỉ quy định về các biện pháp xử lí hành chính khác phù hợp với nền kinh tế-
xã hội của đất nước mà còn quan tâm những điều kiện, ảnh hưởng bên ngoài.
* Các yếu tố khác từ bên ngoài
 Pháp luật quốc tế
Việt Nam ta đã và đang hòa cùng quá trình hội nhập Quốc tế, là thành
viên của các Công ước quốc tế về quyền con người, nghiêm chỉnh tuân thủ
các Điều ước quốc tế đã kí kết. Chính vì vậy, pháp luật quốc tế mà đặc biệt là
các quy định của các Điều ước quốc tế có liên quan như Tuyên ngôn thế giới
về nhân quyền, các Công ước quốc tế về quyền con người, Công ước quốc tế



22
biện pháp xử lí hành chính khác, bắt nguồn từ bản chất nhân đạo sâu sắc của
xã hội ta luôn tạo điều kiện hoàn thiện nhân cách con người, biết tôn trọng và
tuân thủ pháp luật. Mục đích giáo dục ở đây không chỉ giáo dục ý thức chấp
hành pháp luật của đối tượng vi phạm mà còn cảm hóa, giáo dục cả về đạo
đức, lối sống, cũng như phục hồi sức khỏe tạo điều kiện cho người vi phạm
pháp luật trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội, sớm hòa nhập
cộng đồng. Đó là mục đích quan trọng và có ý nghĩa to lớn nhất của các biện
pháp xử lí hành chính khác.
Thứ hai: Các biện pháp xử lí hành chính khác được áp dụng nhằm
mục đích trừng phạt đối với người vi phạm. Tính trừng phạt được xem là một
thuộc tính vốn có của các biện pháp cưỡng chế. Mục đích trừng phạt của các
biện pháp xử lí hành chính khác được hiểu theo nghĩa là tác động sâu sắc về
mặt xã hội hoặc sự hạn chế một phần quyền tự do cá nhân của đối tượng bị áp
dụng. Đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lí hành chính khác thường là
những đối tượng thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội, thường
xuyên vi phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy,
tính trừng phạt của các biện pháp xử lí hành chính khác thể hiện rất nghiêm
khắc, buộc họ phải gánh chịu hậu quả bất lợi là hạn chế một phần quyền tự do
và chịu sự quản lí, giám sát của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Thứ ba: Các biện pháp xử lí hành chính khác được áp dụng nhằm mục
đích phòng ngừa, ngăn ngừa khả năng tái phạm ở họ. Mục đích phòng ngừa ở
đây bao gồm cả phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng, chú ý loại trừ
nguyên nhân thực hiện hành vi trái pháp luật và tạo điều kiện cho người bị áp
dụng tái hòa nhập cộng đồng. Như đã nói ở trên, các đối tượng bị áp dụng các
biện pháp xử lí hành chính thường là những đối tượng nguy hiểm, mức độ tái
phạm thường xuyên, cần phải hạn chế quyền tự do đối với họ, cần sự giám sát
và quản lí chặt chẽ để ngăn ngừa khả năng vi phạm trở lại của họ. Mục đích
phòng ngừa được thực hiện thông qua sự kết hợp giữa giáo dục và trừng trị,

Trích đoạn Phƣơng hƣớng hoàn thiện Xây dựng luật riêng về các biện pháp xử lý vi phạm hành chính khác Về hệ thống các biện pháp xử lý hành chính khác Về đối tƣợng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác Về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status