Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH PHAN QUỲNH

XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 9.38.01.02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN CỬU VIỆT

HÀ NỘI – 2018


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1
1.1
1.2
1.3
Chương 2
2.1
2.2
2.3
2.4


1
8
8
23
27
31
31
36
55
61
66
77
77
97

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH 116
VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT NAM

Phương hướng nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính
116
trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở Việt Nam
Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
4.2
124
vực giao thông đường bộ
KẾT LUẬN
155
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ


GTĐB

: Giao thông đường bộ

GTVT

: Giao thông vận tải

GPLX

: Giấy phép lái xe

GTTT

: Giao thông trật tự

NCS

: Nghiên cứu sinh

PC08

: Phòng Cảnh sát giao thông

VPHC

: Vi phạm hành chính

VPPL

đường bộ
Bảng 3.5: Phương tiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Bảng 3.6: Kết quả áp dụng xử phạt vi phạm hành chính trên các lĩnh vực giao
thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giao thông đường bộ (GTĐB) ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề nhận được
sự quan tâm và quan ngại sâu sắc của toàn xã hội, theo số liệu của Tổ chức Y tế
Thế giới (WHO) hiện nay tỷ lệ tử vong tính trên 100.000 dân do tai nạn giao thông
(TNGT) gây ra tại Việt Nam là cao hơn mức trung bình của thế giới (24,5/17)
[145]. Tuy nhiên đây mới là số tử vong theo thống kê trên hiện trường do lực
lượng Cảnh sát giao thông (CSGT) thực hiện. Bên cạnh đó bình quân mỗi năm
Việt Nam mất 3 tỷ USD (tương đương 2,5% GDP) để khắc phục các hậu quả do
TNGT đường bộ gây ra [129], trong khi đó tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam
đang ở mức khoảng 6%. Phân tích nguyên nhân dẫn đến TNGT ở nước ta phần
lớn là xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật (VPPL) về GTĐB của người điều
khiển phương tiện cũng như người tham gia giao thông gây ra. Có thể nhận thấy
tình trạng VPPL trong lĩnh vực GTĐB ở nước ta là một trong rất nhiều nguyên
nhân cản trở sự phát triển của đất nước. Xuất phát từ thực tiễn đó, ngày
24/10/2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược quốc gia bảo đảm trật
tự, an toàn giao thông đường bộ (ATGTĐB) đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm
2030, khẳng định việc thực hiện chiến lược ATGTĐB nhằm thiết lập và duy trì
trật tự xã hội trong lĩnh vực giao thông vận tải (GTVT) nhằm bảo đảm an toàn cho
người, phương tiện khi tham gia giao thông; bảo đảm hệ thống GTVT hoạt động
thông suốt phục vụ mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an
ninh, hội nhập kinh tế quốc tế. Như vậy bảo đảm trật tự an toàn giao thông
(TTATGT) và hạn chế TNGT là góp phần vào sự phát triển của đất nước và là
trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, toàn xã hội, trước hết là của

tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm; hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa lực lượng
chức năng được xác định là những nhiệm vụ trọng tâm.
Vì vậy tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện về xử lý VPHC trong lĩnh
vực GTĐB, từ đó chỉ ra những tồn tại, vướng mắc, bất cập của hoạt động này là
một vấn đề có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn, với mục tiêu kéo giảm tình hình
VPHC về trật tự, ATGTĐB là một yêu cầu cấp thiết.
2


Với những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm luận án
tiến sĩ luật học, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Mã số
9.38.01.02
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, luận giải những vấn đề có liên quan đến xử lý VPHC trong
lĩnh vực GTĐB, luận án làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận cũng như pháp lý về xử lý
VPHC trong lĩnh vực GTĐB. Bên cạnh đó luận án tiến hành đánh giá thực trạng hoạt
động xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng như những yếu tố tác động tới hoạt
động này, để từ đó tìm ra các nguyên nhân và đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành được mục đích nghiên cứu như vừa trình bày, luận án sẽ thực
hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất: Luận án tiến hành phân tích, đánh tình hình nghiên cứu có liên
quan đến xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB qua các công trình nghiên cứu, bài
báo khoa học của các tác giả trong và ngoài nước, từ đó chỉ ra những vấn đề đã
được làm rõ; những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ.
Thứ hai: Trên cơ sở phân tích các khái niệm, đặc điểm, nội dung cũng như
vai trò của xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, luận án sẽ tiến hành bổ sung và

2017), vì vậy luận án chỉ tập trung nghiên cứu, đánh giá về những vấn đề có liên
quan đến xử lý VPHC đối với những vi phạm về quy tắc GTĐB; vi phạm quy định
về phương tiện tham gia GTĐB; vi phạm quy định về người điều khiển phương
tiện tham gia GTĐB..., mà không nghiên cứu những VPHC về kết cấu GTĐB.
Mặc dù thẩm quyền xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB thuộc về nhiều chủ
thể khác nhau như: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, lực lượng Công an nhân
dân; lực lượng Thanh tra ngành GTVT; nhưng trên thực tế hoạt động này chủ yếu
được tiến hành bởi lực lượng đó là CSGT đường bộ và Thanh tra ngành GTVT.
4


Vì vậy luận án chỉ tập trung nghiên cứu và đánh giá họat động xử lý của lực lượng
CSGT đường bộ và Thanh tra ngành GTVT.
4. Phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lê Nin khi nghiên cứu các vấn đề có liên quan
đến xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB.
4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Chương 1: Trong chương tổng quan tình hình nghiên cứu, luận án dùng các
phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng
hợp, phương pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp để khái quát
các vấn đề liên quan đến luận án đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước
nghiên cứu và công bố trong các công trình khoa học của mình. Từ đó chỉ ra những
nội dung mà luận án sẽ kế thừa, phát triển cũng các vấn đề mà luận án sẽ tiếp tục
nghiên cứu, làm rõ.
Chương 2: Là chương nghiên cứu những vấn đề lý luận về VPHC và xử lý
VPHC trong lĩnh vực GTĐB, vì vậy luận án sử dụng chủ yếu phương pháp phân
tích, phương pháp tổng hợp để từ đó làm rõ các khái niệm có liên quan đến VPHC,
xử lý VPHC nói chung và trong lĩnh vực GTĐB nói riêng.

kết luận khoa học về vấn đề này.
Thứ tư, trên cơ sở đánh giá nhưng tồn tại, hạn chế của pháp luật về xử lý VPHC
trong lĩnh vực GTĐB hiện nay ở Việt Nam; những khó khăn, hạn chế của hoạt động
xử lý các VPHC trong lĩnh vực GTĐB của các chủ thể có thẩm quyền trên thực tế;
trên cơ sở những dự báo về diễn biến tình hình VPHC trong lĩnh vực GTĐB trong
thời gian tới tại Việt Nam; Luận án đề xuất các giải pháp hướng tới sự hoàn thiện các
quy định của pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý VPHC trong
lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6


6.1. Ý nghĩa lý luận
Là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về xử lý
VPHC trong lĩnh vực GTĐB, luận án góp phần làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận
xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng như góp phần hoàn thiện pháp luật về xử lý
VPHC trong lĩnh vực GTĐB. Luận án có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, học
tập tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành Luật, Cảnh sát.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết luận trong luận án cũng như những đề xuất, kiến nghị và giải pháp
mà luận án trình bày là kết quả của hoạt động nghiên cứu lý luận về xử lý VPHC
trong lĩnh vực GTĐB, cũng như thông qua đánh giá, phân tích từ thực tiễn áp dụng
pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB của các lực lượng chức năng. Bởi
vậy, những đề xuất, kiến nghị cũng như giải pháp được luận án trình bày có thể giúp
cho các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu để từ đó vận dụng vào hoạt động xử lý
các VPHC trong lĩnh vực GTĐB của các lực lượng chức năng, góp phần tạo lập một
xã hội giao thông an toàn, văn minh và thân thiện.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận án được kết cấu thành 4 chương:

cập đến khái niệm VPHC (Từ Nghị định 143/CP ngày 27/5/1977 đến Luật xử lý
VPHC năm 2012); giáo trình đã nêu lại các định nghĩa về VPHC được thể hiện
trong các văn bản pháp luật này và giáo trình kết luận: Tuy có sự khác nhau về
cách diễn đạt, các văn bản pháp luật nêu trên đều thống nhất với nhau về những
dấu hiệu bản chất của loại vi phạm này [60, tr 337]. Và sau đó đưa ra khái niệm
VPHC như được quy định tại Khoản 1, Điều 2, Luật xử lý VPHC năm 2012.
Trong khi đó giáo trình Luật Hành chính Việt Nam do GS.TS Phạm Hồng
Thái và TS Nguyễn Thị Minh Hà đồng chủ biên, nhà xuất bản Đại học quốc gia
Hà Nội, 2017; Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của PGS.TS Nguyễn Cửu
Việt, nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2013..., khi trình bày về khái
8


niệm VPHC lại không thuần túy đi theo cách trình bày và diễn giải lại theo các
quy định của pháp luật có liên quan đến khái niệm này. Ví dụ, tại giáo trình Luật
Hành chính Việt Nam của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, khi luận giải về khái niệm
VPHC, tác giả cũng đã hệ thống lại các quy định được ghi nhận trong các văn bản
pháp luật có liên quan đến khái niệm VPHC (từ Pháp lệnh xử phạt VPHC 1989
đến Luật xử lý VPHC năm 2012) và kết luận: Các khái niệm được thể hiện trong
các văn bản pháp luật này đã thể hiện được các dấu hiệu pháp lý cơ bản của VPHC
như: Hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, có lỗi, được pháp luật quy định là
VPHC và phải chịu trách nhiệm hành chính (TNHC). Tuy nhiên, theo tác giả, mặc
dù khái niệm VPHC được thể hiện trong các văn bản pháp luật đã thể hiện được
một số dấu hiệu pháp lý cơ bản như đã nêu, nhưng để đảm bảo tính chính xác,
khoa học của khái niệm, thì cần chính xác thêm ở một số khía cạnh như: Cần phải
xác định chính xác khách thể của hành vi vi phạm; cần loại bỏ cụm từ mà không
phải là tội phạm ra khỏi khái niệm bởi theo tác giả quy định như vậy dễ làm cho
chủ thể có thẩm quyền xử lý lầm tưởng mình có quyền đánh giá hành vi VPPL
nào là VPHC hay tội phạm [107, tr 496].
Thứ hai, về nguyên tắc xử lý VPHC

chỉ rõ các loạt phạt hành chính hiện đang áp dụng ở thời điểm đó như: Cảnh cáo;
phạt tiền; tước quyền được sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang
vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện VPHC; phạt lao động công ích; biện
pháp phạt lao động cải tạo; giam hành chính… Qua việc phân tích các biện pháp
xử phạt, các tác giả đã chỉ ra những cơ sở lý luận cũng như thực tiễn để giúp người
đọc có thể phân biệt được các hình thức xử phạt hiện hành, mục đích, nội dung
cũng như hậu quả pháp lý của từng hình thức xử phạt để từ đó tránh những sự
nhầm lẫn trong quá trình áp dụng hình thức xử phạt. Các tác giả đã chỉ rõ trong
giai đoạn này, vẫn có sự nhầm lẫn cho rằng cảnh cáo miệng cũng là hình thức xử
phạt, vì cảnh cáo miệng “không có tính chất đánh giá nhà nước đối với vi phạm
và không tạo ra một hậu quả pháp lý nào cả” [50, tr 25]. Bên cạnh việc nêu thẩm
quyền ban hành các văn bản quy định TNHC theo quy định của pháp luật, các tác
10


giả đã phân tích và nêu ra những chồng chéo, bất cập trong việc quy định thẩm
quyền ban hành các quy định về xử phạt; việc quy định Hội đồng nhân dân được
phép ban hành các quy định về phạt hành chính, nhưng lại không có hướng dẫn
cụ thể cho hoạt động này dẫn đến tình trạng ban hành tràn lan, đặc biệt ở cấp cơ
sở (xã, phường), điều này dễ làm ảnh hưởng đến các quyền tự do, dân chủ của
nhân dân. Xuất phát từ thực tiễn trên, các tác giả đã đưa ra kiến nghị cần phải quy
định rõ nội dung ban hành quy định về phạt hành chính của Hội đồng nhân dân
theo các tiêu chí như: Các quy định đó chưa được quy định trong các văn bản của
cơ quan trung ương; các điều kiện cụ thể của địa phương phải được thể hiện để
ban hành các quy định đó; hay nói một cách khác giao cho địa phương quyền ban
hành văn bản về TNHC là cần thiết, tuy nhiên sự cần thiết đó phải được xem xét
một cách toàn diện trên cơ sở yếu tố đặc thù của chính địa phương đó chứ không
quy định một cách chung chung như hiện nay. Kết luận này cho đến nay vẫn là
một lưu ý quan trọng cho các chủ thể có thẩm quyền khi ban hành các quy định
về hình thức, mức, cũng như thẩm quyền xử phạt đối với từng vi phạm cụ thể.

vực GTĐB của lực lượng CSGT như sau:
Xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB là công tác của nghiệp vụ lực lượng
CSGT, được tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật và quy trình công tác
của ngành Công an áp dụng đối với những cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm
Luật GTĐB mà không phải là tội phạm, theo quy định của pháp luật phải bị xử
phạt hành chính, góp phần đảm bảo TTATGT, trật tự an toàn xã hội. [69, tr.29]
Là luận án tiến sĩ chuyên ngành An ninh và trật tự xã hội, vì vậy trong chương
thứ ba của luận án, tác giả đã đề xuất một số giải pháp mang tính nghiệp vụ nhằm
nâng cao hiệu quả xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB của lực lượng CSGT
đường bộ.
Luận án tiến sĩ Quản lý công “Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn GTĐB ở
Việt Nam hiện nay” của Trần Sơn Hà, thực hiện năm 2016 tại Học viện Hành
chính Quốc gia. Là luận án tiến sĩ Quản lý công về nội dung quản lý nhà nước
trong lĩnh vực trật tự, ATGTĐB, vì vậy tác giả luận án cũng đã dành tương đối
12


nhiều dung lượng để trình bày về các vấn đề có liên quan đến xử lý VPHC trong
lĩnh vực GTĐB; cụ thể trong nội dung quản lý nhà nước về GTĐB được trình bày
tại mục 2.2 của luận án từ trang 49 đến trang 60, tác giả khẳng định xử lý VPHC
trong lĩnh vực GTĐB là một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà
nước về GTĐB. Theo đó:
Tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm về TTATGT đường bộ chủ yếu là
áp dụng các biện pháp nghiệp vụ nhằm phát hiện các hành vi vi phạm về
TTATGT đường bộ để xử phạt VPHC đối với cá nhân và tổ chức có hành vi
cố ý hoặc vô ý vi phạm quy định về TTATGT đường bộ, các điều kiện đảm
bảo ATGT của kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, phương tiện và người
tham gia GTĐB, hoạt động vận tải đường bộ và các hành vi vi phạm khác về
TTATGT đường bộ mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp
luật phải bị xử phạt VPHC [51, tr 59].

xây dựng các khái niệm có liên quan trong luận án của mình.
Ngoài giáo trình, sách, chuyên đề, luận văn, luận án như vừa trình bày ở trên
vấn đề xử lý VPHC và xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB còn được đề cập đến
qua các bài viết được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành hay tại kỷ yếu của
các kỳ hội thảo. Cụ thể như sau:
Bài viết “Về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính” của Th.S Nguyễn Mạnh
Hùng tại Toạ đàm khoa học về Luật xử lý VPHC do Bộ Tư pháp tổ chức năm
2011 và bài viết “Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính” đăng trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp năm 2011 đã tập trung
phân tích về thẩm quyền xử phạt VPHC. Theo tác giả, pháp luật hiện hành sử dụng
phương pháp liệt kê khá cứng nhắc khi quy định về các chức danh có thẩm quyền
xử phạt VPHC, vì vậy sẽ luôn dẫn đến tình trạng “thiếu”, “thừa” người có thẩm
quyền xử phạt VPHC. Để khắc phục những hạn chế nêu trên, tác giả kiến nghị
trong Luật xử lý VPHC, ngoài việc quy định có tính liệt kê những người có thẩm
quyền xử phạt như trong Pháp lệnh xử lý VPHC, cần phải có quy định: “Những
người khác có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Chính
14


phủ” và quy định về vấn đề kế thừa thẩm quyền xử phạt VPHC. Theo tác giả việc
Pháp lệnh xử lý VPHC quy định một số người không giữ chức danh lãnh đạo,
quản lý trong cơ quan nhà nước chỉ có thẩm quyền xử phạt VPHC trong khi thi
hành công vụ là không cần thiết. Đồng thời, quy định những người là cấp trưởng
trong một số cơ quan nhà nước có thể ủy quyền bằng văn bản cho cấp phó thực
hiện thẩm quyền xử phạt VPHC là không hợp lý bởi theo tác giả thì ủy quyền xử
phạt VPHC có nguy cơ làm kéo dài thời gian ra quyết định xử phạt VPHC; hay
như trong một số trường hợp cá biệt, ở một số cơ quan, tổ chức chưa có cấp trưởng
(chỉ là phó phụ trách), thì vấn đề xử phạt sẽ không có cơ sở để thực hiện. Việc chỉ
giao thẩm quyền xử phạt cho cấp trưởng, sau đó cấp trưởng ủy quyền lại cho cấp
phó cũng dễ dẫn đến tính thiếu khách quan trong việc ra các quyết định xử phạt

pháp nâng cao hiệu quả xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB, tác giả đã phân tích
hoạt động xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB của lực lượng CSGT trong thời
gian 10 năm (từ năm 2005 đến hết năm 2014); tác giả luận án đã chỉ ra những ưu
điểm, hạn chế và các yếu tố ảnh hưởng tới tính hiệu quả của hoạt động xử phạt.
Từ những phân tích đó, tác giả đã nêu ra những giải pháp để khắc phục những tồn
tại trong công tác xử phạt của lực lượng CSGT như: Hoàn thiện các quy định của
pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, tăng cường biên chế, trang bị cho
lực lượng CSGT...[69, tr.136 – 158].
Luận án tiến sĩ Quản lý công “Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao
thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay” của Trần Sơn Hà, thực hiện năm 2016 tại
Học viện Hành chính Quốc gia. Là một luận án chuyên ngành Quản lý công, những
vấn đề mà luận án nghiên cứu có liên quan trực diện về trật tự, ATGTĐB, vì vậy
trong chương thứ 4 của luận án, khi trình bày về các giải pháp nâng cao hiệu quả
của quản lý nhà nước về GTĐB, tác giả đã dành hai mục (mục 4.2.3 và 4.2.7),
trình bày về nhóm giải pháp “Tổ chức thực hiện pháp luật về giao thông đường
bộ” và “Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, tuần tra, kiểm soát và xử lý vi
phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ”. Theo tác giả muốn nâng cao hiệu
quả của quản lý nhà nước về trật tự, ATGTĐB, thì việc tăng cường công tác thanh,
16


kiểm tra, cũng như vấn đề tuần tra, kiểm soát cần phải được tăng cường, đặc biệt
là cần phải có những thay đổi từ khâu lập kế hoạch cho đến tổ chức thực hiện cần
phải có sự thay đổi mạnh mẽ..., Các giải pháp này là một kênh tham khảo quan
trọng cho NCS khi xây dựng các giải pháp cho hoạt động xử lý VPHC trong lĩnh
vực GTĐB theo nội dung của luận án.[51, tr.130 – 150]
Bên cạnh đó trong một số luận văn thạc sĩ luật học như - Luận văn thạc sĩ
luật học “Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ hiện nay – Một số vấn đề lí luận, thực tiễn và phương hướng hoàn thiện” của
Vũ Thị Thanh Nhàn, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2010; Luận văn thạc

đối với CSGT. Theo tác giả ngoài kiến thức chuyên môn cần thiết, thì các trường
Công an nhân dân cần phải chủ động lồng ghép chương trình rèn luyện kỹ năng;
xây dựng nếp sống, phong cách làm việc, ứng xử có văn hóa trong quan hệ giao
tiếp (đặc biệt đối với các học viên chuyên ngành CSGT) để thuận lợi cho quá trình
công tác sau này [53].
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Tóm tắt bài giảng Luật Hành chính của V.T.Batychko (В.Т.Батычко), nhà
xuất bản ТТИ ЮФУ, năm 2008 (Bản tiếng Nga). Đây là một tài liệu phục vụ cho
sinh viên và nghiên cứu sinh ngành luật trong quá trình học tập. Cuốn sách được
chia thành 9 phần lớn, trong đó phần thứ tám trình bày về TNHC.
Trong nội dung này tác giả đã trình bày rất nhiều vấn đề liên quan đến TNHC,
từ vấn đề khái niệm, các dấu hiệu, các yếu tố cấu thành của VPHC cho đến những
nội dung liên quan đến chủ thể của VPHC, nguyên tắc xử phạt VPHC…; trong đó
có một số nội dung có ý nghĩa quan trọng đối với luận án trong việc phân tích
những vấn đề mang tính khái niệm có liên quan đến hoạt động xử lý VPHC, cũng
như trong việc nêu các quan điểm về hoàn thiện lý luận về xử lý VPHC và VPHC
trong lĩnh vực GTĐB ở nước ta. Ví dụ như trong các nguyên tắc trong xử phạt
VPHC, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của nguyên tắc “thận trọng”, coi đây
như là một nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình xử phạt VPHC của các chủ thể
có thẩm quyền. Hay khi phân tích về yếu tố chủ thể trong VPHC, ngoài các chủ
18


thể thông thường, tác giả nhấn mạnh vấn đề “chủ thể đặc biệt” thực hiện hành vi
VPHC, việc phân loại các chủ thể này theo tác giả là cần thiết, nó sẽ hạn chế được
việc áp dụng TNHC một cách máy móc…. Bên cạnh đó trong nội dung này, tác
giả cũng đã phân tích cơ sở của các hình thức xử phạt VPHC theo quy định của
pháp luật hiện hành (Bộ luật hành chính của Cộng hòa liên bang Nga 2001). [115]
Sách chuyên khảo: “Hoạt động cưỡng chế GTĐB” của tác giả Sai TôKenchini và các cộng sự, thuộc Cơ quan Cảnh sát quốc gia Nhật Bản, năm 2008.
Nội dung cuốn sách đề cập phân tích những nội dung cơ bản của hoạt động cưỡng

với dòng vốn này có thể phải chịu sự trừng phạt theo pháp luật của quốc gia sở tại
và cũng phải bị xử phạt từ phía WB, và đây chính là khó khăn mà WB đang phải
đối mặt. Chính vì vậy WB đã khuyến cáo các quốc gia khi xây dựng các chế tài
xử phạt cần tiếp cận với các quy tắc của luật hành chính toàn cầu (Global
Administrative Law “GAL”), để phát huy tốt nhất tính hiệu quả, giảm thiểu sự
xung đột trong áp dụng các biện pháp trừng phạt của WB và pháp luật của quốc
gia sở tại.[111]
Đây là một gợi mở rất quan trọng cho Việt Nam trong quá trình xây dựng,
hoàn thiện pháp luật nói chung, pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB
nói riêng; đặc biệt bắt đầu từ ngày 20/08/2014, Việt Nam đã chính thức trở thành
thành viên của Công ước Quốc tế về GTĐB (Convention on Road Traffic) và
Công ước về Biển báo và Tín hiệu Đường bộ (Convention on Road Signs and
Signals). Trên tinh thần thực hiện các quy định của Công ước, bắt đầu từ tháng
8/2015, Việt Nam đã chính thức cấp giấy phép lái xe quốc tế (International Driving
Permit – “IDP”) có giá trị tại 85 quốc gia là thành viên của công ước Vienna
(1968), vì vậy cũng sẽ có nhiều giấy phép lái xe quốc tế cấp tại nước ngoài được
phép sử dụng tại Việt Nam, cho nên xây dựng một hệ thống pháp luật về GTĐB
cũng như xử lý những VPPL (đặc biệt là VPHC) trong lĩnh vực này cần phải tuân
thủ những nguyên tắc chung của GAL là vô cùng quan trọng, nó không những góp
phần nâng cao tính hiệu quả trong áp dụng pháp luật tại Việt Nam, mà còn giúp
chúng ta có nhiều thuận lợi hơn trong quá trình hội nhập và phát triển.
20


Bài viết “Traffic laws in Nigeria: Fact or myth?” (Luật giao thông tại
Nigeria: Thực tế hay cổ tích) của Sokomba Alolade đăng trên Tạp chí Luật sư
Châu phi (The Magazine for the African lawyer)
Bài viết giới thiệu khái quát về tình hình pháp luật và việc thực thi pháp luật
về giao thông tại Nigeria, một quốc gia có số lượng người chết vì TNGT cao trên
thế giới. Thông qua bài viết của mình, tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân cơ bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status