VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH PHAN QUỲNH
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 9.38.01.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN CỬU VIỆT
HÀ NỘI – 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi.
Các số liệu và tư liệu được sử dụng trong luận án đảm bảo độ chính xác, trung
thực và tin cậy. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu
của mình.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
ĐINH PHAN QUỲNH
Thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ
Các yếu tố tác động đến xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ
THỰC TRẠNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
Thực trạng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ
Thực trạng hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay
1
8
8
23
27
31
31
36
55
61
66
77
77
97
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH 116
VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT NAM
CAND
: Công an nhân dân
C08
: Cục Cảnh sát giao thông
CSGT
: Cảnh sát giao thông
GTĐB
: Giao thông đường bộ
GTVT
: Giao thông vận tải
GPLX
: Giấy phép lái xe
GTTT
: Giao thông trật tự
NCS
TTKS
: Tuần tra kiểm soát
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Hệ thống đường bộ Việt Nam
Bảng 3.2: Đăng ký phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Việt Nam
Bảng 3.3: Kết quả xử phạt vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông đường
bộ
Bảng 3.4: Phân tích các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ
Bảng 3.5: Phương tiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Bảng 3.6: Kết quả áp dụng xử phạt vi phạm hành chính trên các lĩnh vực giao
thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giao thông đường bộ (GTĐB) ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề nhận được
sự quan tâm và quan ngại sâu sắc của toàn xã hội, theo số liệu của Tổ chức Y tế
Thế giới (WHO) hiện nay tỷ lệ tử vong tính trên 100.000 dân do tai nạn giao thông
(TNGT) gây ra tại Việt Nam là cao hơn mức trung bình của thế giới (24,5/17)
[145]. Tuy nhiên đây mới là số tử vong theo thống kê trên hiện trường do lực
lượng Cảnh sát giao thông (CSGT) thực hiện. Bên cạnh đó bình quân mỗi năm
Việt Nam mất 3 tỷ USD (tương đương 2,5% GDP) để khắc phục các hậu quả do
TNGT đường bộ gây ra [129], trong khi đó tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam
đang ở mức khoảng 6%. Phân tích nguyên nhân dẫn đến TNGT ở nước ta phần
lớn là xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật (VPPL) về GTĐB của người điều
khiển phương tiện cũng như người tham gia giao thông gây ra. Có thể nhận thấy
đánh giá của các cơ quan chức năng, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình hình
TNGT đường bộ chính là việc không tuân thủ các quy định của pháp luật về trật
tự, ATGTĐB của các chủ thể khi tham gia giao thông [14]. Chính vì vậy bên cạnh
việc phải thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm giảm thiểu các hành vi VPPL về
trật tự, ATGTĐB, cũng như tăng cường năng lực vận tải công cộng, cải thiện hạ
tầng GTĐB..., thì các vấn đề liên quan đến xử lý vi phạm hành chính (VPHC)
trong lĩnh vực GTĐB như: Giáo dục, tuyên truyền về ATGTĐB; hoàn thiện tổ
chức bộ máy quản lý nhà nước về an toàn giao thông (ATGT) từ trung ương đến
địa phương; hoàn thiện các cơ chế, chính sách về bảo đảm trật tự ATGTĐB; nâng
cao năng lực cưỡng chế của lực lượng CSGT, Thanh tra ngành GTVT, và các lực
lượng thực thi công vụ khác; hiện đại hóa phương tiện, trang thiết bị phục vụ công
tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm; hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa lực lượng
chức năng được xác định là những nhiệm vụ trọng tâm.
Vì vậy tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện về xử lý VPHC trong lĩnh
vực GTĐB, từ đó chỉ ra những tồn tại, vướng mắc, bất cập của hoạt động này là
một vấn đề có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn, với mục tiêu kéo giảm tình hình
VPHC về trật tự, ATGTĐB là một yêu cầu cấp thiết.
2
Với những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm luận án
tiến sĩ luật học, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Mã số
9.38.01.02
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, luận giải những vấn đề có liên quan đến xử lý VPHC trong
lĩnh vực GTĐB, luận án làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận cũng như pháp lý về xử lý
VPHC trong lĩnh vực GTĐB. Bên cạnh đó luận án tiến hành đánh giá thực trạng hoạt
động xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng như những yếu tố tác động tới hoạt
Về không gian, luận án tiến hành nghiên cứu hoạt động xử lý VPHC trong lĩnh
vực GTĐB trong phạm vi cả nước.
Về thời gian, luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến xử lý
VPHC trong lĩnh vực GTĐB và thực trạng xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB trong
10 năm (từ năm 2007 đến hết năm 2016).
Xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB được thực hiện đối với các VPHC trong lĩnh
vực GTĐB như: Vi phạm quy tắc GTĐB; vi phạm quy định về kết cấu hạ tầng
GTĐB; vi phạm quy định về phương tiện tham gia GTĐB; vi phạm quy định về
người điều khiển phương tiện tham gia GTĐB.... Tuy nhiên vì những khó khăn
trong công tác thu thập các số liệu liên quan đến hoạt động xử lý các vi phạm về
kết cấu GTĐB (thực tế các vi phạm này mới bắt đầu được quan tâm xử lý từ đầu
2017), vì vậy luận án chỉ tập trung nghiên cứu, đánh giá về những vấn đề có liên
quan đến xử lý VPHC đối với những vi phạm về quy tắc GTĐB; vi phạm quy định
về phương tiện tham gia GTĐB; vi phạm quy định về người điều khiển phương
tiện tham gia GTĐB..., mà không nghiên cứu những VPHC về kết cấu GTĐB.
Mặc dù thẩm quyền xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB thuộc về nhiều chủ
thể khác nhau như: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, lực lượng Công an nhân
dân; lực lượng Thanh tra ngành GTVT; nhưng trên thực tế hoạt động này chủ yếu
được tiến hành bởi lực lượng đó là CSGT đường bộ và Thanh tra ngành GTVT.
4
Vì vậy luận án chỉ tập trung nghiên cứu và đánh giá họat động xử lý của lực lượng
CSGT đường bộ và Thanh tra ngành GTVT.
4. Phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lê Nin khi nghiên cứu các vấn đề có liên quan
đến xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB.
4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
đã và đang tồn tại về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, trên cơ sở đó luận án xây
dựng khái niệm xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, dồng thời đã chỉ ra các đặc
điểm, vai trò cũng như nguyên tắc của xử lý VPHC trong GTĐB.
Thứ hai, trên cơ sở tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới góc độ khoa học Luật
hành chính đối với những vấn đề đã được đặt ra trong phần câu hỏi nghiên cứu và
giả thuyết nghiên cứu của luận án, luận án xác định những yếu tố ảnh hưởng tới
xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay.
Thứ ba, trên cơ sở phân tích một cách toàn diện về thực trạng pháp luật xử
lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng như thực trạng hoạt động xử lý VPHC trong
lĩnh vực này, luận án đưa ra những đánh giá về những kết quả đã đạt được cũng
như những tồn tại, yếu kém và nguyên nhân của những tồn tại để từ đó rút ra những
kết luận khoa học về vấn đề này.
Thứ tư, trên cơ sở đánh giá nhưng tồn tại, hạn chế của pháp luật về xử lý VPHC
trong lĩnh vực GTĐB hiện nay ở Việt Nam; những khó khăn, hạn chế của hoạt động
xử lý các VPHC trong lĩnh vực GTĐB của các chủ thể có thẩm quyền trên thực tế;
trên cơ sở những dự báo về diễn biến tình hình VPHC trong lĩnh vực GTĐB trong
thời gian tới tại Việt Nam; Luận án đề xuất các giải pháp hướng tới sự hoàn thiện các
quy định của pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý VPHC trong
lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6
6.1. Ý nghĩa lý luận
Là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về xử lý
VPHC trong lĩnh vực GTĐB, luận án góp phần làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận
xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng như góp phần hoàn thiện pháp luật về xử lý
VPHC trong lĩnh vực GTĐB. Luận án có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, học
tập tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành Luật, Cảnh sát.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Khoa Luật thuộc Đại học quốc gia Hà Nội;
Đại học Cảnh sát Nhân dân..., đều dành một nội dung để trình bày, luận giải về
vấn đề này.
Tuy nhiên, khi trình bày, luận giải về khái niệm xử lý VPHC, do cách tiếp
cận không hoàn toàn giống nhau, vì vậy sự luận giải về khái niệm cũng có những
điểm không đồng nhất. Ví dụ, trong giáo trình Luật hành chính Việt Nam của
Trường Đại học Luật Hà Nội; Đại học Cảnh sát nhân dân chủ yếu phân tích theo
hướng giải thích khái niệm đã được luật định. Cụ thể, trong giáo trình Luật Hành
chính Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 2017 đã dành một
nội dung lớn tại chương XI trình bày về VPHC; Trong nội dung trình bày về khái
niệm VPHC, giáo trình đã điểm lại các văn bản pháp luật có những quy định đề
cập đến khái niệm VPHC (Từ Nghị định 143/CP ngày 27/5/1977 đến Luật xử lý
VPHC năm 2012); giáo trình đã nêu lại các định nghĩa về VPHC được thể hiện
trong các văn bản pháp luật này và giáo trình kết luận: Tuy có sự khác nhau về
cách diễn đạt, các văn bản pháp luật nêu trên đều thống nhất với nhau về những
dấu hiệu bản chất của loại vi phạm này [60, tr 337]. Và sau đó đưa ra khái niệm
VPHC như được quy định tại Khoản 1, Điều 2, Luật xử lý VPHC năm 2012.
Trong khi đó giáo trình Luật Hành chính Việt Nam do GS.TS Phạm Hồng
Thái và TS Nguyễn Thị Minh Hà đồng chủ biên, nhà xuất bản Đại học quốc gia
Hà Nội, 2017; Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của PGS.TS Nguyễn Cửu
Việt, nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2013..., khi trình bày về khái
8
niệm VPHC lại không thuần túy đi theo cách trình bày và diễn giải lại theo các
quy định của pháp luật có liên quan đến khái niệm này. Ví dụ, tại giáo trình Luật
Hành chính Việt Nam của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, khi luận giải về khái niệm
VPHC, tác giả cũng đã hệ thống lại các quy định được ghi nhận trong các văn bản
pháp luật có liên quan đến khái niệm VPHC (từ Pháp lệnh xử phạt VPHC 1989
đến Luật xử lý VPHC năm 2012) và kết luận: Các khái niệm được thể hiện trong
Thứ ba, về các hình thức xử phạt VPHC
Đối với nội dung này về cơ bản các quan điểm khoa học là tương đối giống
nhau, điều này được thể hiện qua phần nội dung luận giải về hình thức xử phạt
VPHC, các giáo trình chỉ lưu ý cần có sự phân biệt chính xác giữa hình thức phạt
chính và hình thức phạt bổ sung. Bên cạnh hình thức xử phạt được trình bày, các
giáo trình còn dành một dung lượng lớn để trình bày về các biện pháp khắc phục
hậu quả do VPHC gây ra cũng như những biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc
xử phạt VPHC....
Cuốn sách “Một số vấn đề về phạt hành chính” của hai tác giả Phạm Dũng
và Hoàng Sao, nhà xuất bản Pháp lý, Hà Nội, 1986. Trong công trình này, các tác
giả đã đưa ra những nhận thức ban đầu về cơ sở lý luận của phạt hành chính và
chỉ rõ các loạt phạt hành chính hiện đang áp dụng ở thời điểm đó như: Cảnh cáo;
phạt tiền; tước quyền được sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang
vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện VPHC; phạt lao động công ích; biện
pháp phạt lao động cải tạo; giam hành chính… Qua việc phân tích các biện pháp
xử phạt, các tác giả đã chỉ ra những cơ sở lý luận cũng như thực tiễn để giúp người
đọc có thể phân biệt được các hình thức xử phạt hiện hành, mục đích, nội dung
cũng như hậu quả pháp lý của từng hình thức xử phạt để từ đó tránh những sự
nhầm lẫn trong quá trình áp dụng hình thức xử phạt. Các tác giả đã chỉ rõ trong
giai đoạn này, vẫn có sự nhầm lẫn cho rằng cảnh cáo miệng cũng là hình thức xử
phạt, vì cảnh cáo miệng “không có tính chất đánh giá nhà nước đối với vi phạm
và không tạo ra một hậu quả pháp lý nào cả” [50, tr 25]. Bên cạnh việc nêu thẩm
quyền ban hành các văn bản quy định TNHC theo quy định của pháp luật, các tác
10
giả đã phân tích và nêu ra những chồng chéo, bất cập trong việc quy định thẩm
quyền ban hành các quy định về xử phạt; việc quy định Hội đồng nhân dân được
phép ban hành các quy định về phạt hành chính, nhưng lại không có hướng dẫn
cụ thể cho hoạt động này dẫn đến tình trạng ban hành tràn lan, đặc biệt ở cấp cơ
cá nhân, tổ chức có hành vi VPHC” [31, tr.37]. Trên cơ sở khái niệm này, tác giả
luận án đã phân tích các đặc điểm cũng như vai trò của xử lý VPHC đối với việc
duy trì các hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước nói chung, trong lĩnh vực
hải quan nói riêng.
Luận án tiến sĩ An ninh và trật tự xã hội “Giải pháp nâng cao hiệu quả xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB theo chức năng của lực lượng Cảnh
sát giao thông” của Trương Diệu Loan thực hiện năm 2015 tại Học Viện Cảnh sát
Nhân dân. Đối với nội dung về xử lý VPHC và xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB,
luận án đã tập trung nghiên cứu và làm rõ khái niệm cũng như các đặc điểm của
xử lý VPHC nói chung, VPHC trong lĩnh vực GTĐB trên cơ sở pháp luật thực
định và từ đó tác giả luận án đã xây dựng khái niệm về xử phạt VPHC trong lĩnh
vực GTĐB của lực lượng CSGT như sau:
Xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB là công tác của nghiệp vụ lực lượng
CSGT, được tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật và quy trình công tác
của ngành Công an áp dụng đối với những cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm
Luật GTĐB mà không phải là tội phạm, theo quy định của pháp luật phải bị xử
phạt hành chính, góp phần đảm bảo TTATGT, trật tự an toàn xã hội. [69, tr.29]
Là luận án tiến sĩ chuyên ngành An ninh và trật tự xã hội, vì vậy trong chương
thứ ba của luận án, tác giả đã đề xuất một số giải pháp mang tính nghiệp vụ nhằm
nâng cao hiệu quả xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB của lực lượng CSGT
đường bộ.
Luận án tiến sĩ Quản lý công “Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn GTĐB ở
Việt Nam hiện nay” của Trần Sơn Hà, thực hiện năm 2016 tại Học viện Hành
chính Quốc gia. Là luận án tiến sĩ Quản lý công về nội dung quản lý nhà nước
trong lĩnh vực trật tự, ATGTĐB, vì vậy tác giả luận án cũng đã dành tương đối
12
nhiều dung lượng để trình bày về các vấn đề có liên quan đến xử lý VPHC trong
lĩnh vực GTĐB; cụ thể trong nội dung quản lý nhà nước về GTĐB được trình bày
Luật Hà Nội, Hà Nội, 2010; Luận văn thạc sĩ luật học “Xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực GTĐB trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa” của Nguyễn Văn Minh, Khoa
luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2012; Luận văn thạc sĩ luật học“Pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB” của Ngô Thị Hồng Loan,
Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2014...
Các công trình nghiên cứu nêu trên tập trung vào một số vấn đề như lý luận
cơ bản về VPHC và xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, cũng như phân tích những
vấn đề có tính khái quát, điển hình về thực trạng pháp luật xử lý VPHC trong lĩnh
vực GTĐB ở Việt Nam. Từ đó tác giả đã đưa ra một số kiến nghị với mục đích
hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này (Luận văn của Vũ Thị Thanh Nhàn). Các kết
luận được đề cập trong các công trình nêu trên sẽ tiếp tục được NCS kế thừa trong
xây dựng các khái niệm có liên quan trong luận án của mình.
Ngoài giáo trình, sách, chuyên đề, luận văn, luận án như vừa trình bày ở trên
vấn đề xử lý VPHC và xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB còn được đề cập đến
qua các bài viết được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành hay tại kỷ yếu của
các kỳ hội thảo. Cụ thể như sau:
Bài viết “Về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính” của Th.S Nguyễn Mạnh
Hùng tại Toạ đàm khoa học về Luật xử lý VPHC do Bộ Tư pháp tổ chức năm
2011 và bài viết “Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính” đăng trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp năm 2011 đã tập trung
phân tích về thẩm quyền xử phạt VPHC. Theo tác giả, pháp luật hiện hành sử dụng
phương pháp liệt kê khá cứng nhắc khi quy định về các chức danh có thẩm quyền
xử phạt VPHC, vì vậy sẽ luôn dẫn đến tình trạng “thiếu”, “thừa” người có thẩm
quyền xử phạt VPHC. Để khắc phục những hạn chế nêu trên, tác giả kiến nghị
trong Luật xử lý VPHC, ngoài việc quy định có tính liệt kê những người có thẩm
quyền xử phạt như trong Pháp lệnh xử lý VPHC, cần phải có quy định: “Những
người khác có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Chính
14
được xử lý, trong khi đó với tính chất của hành vi vi phạm thực sự chưa cần đến
mức phải có sự quyết định của cấp cao hơn. Chính vì vậy theo TS Trần Thị Hiền
cần có sự điều chỉnh phù hợp về thẩm quyền xử lý để hạn chế (tránh) hoạt động
xử phạt bị đẩy lên cơ quan cấp trên.
1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Luận án tiến sĩ An ninh và trật tự xã hội “Giải pháp nâng cao hiệu quả xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo chức năng của
lực lượng Cảnh sát giao thông” của Trương Diệu Loan thực hiện năm 2015 tại
Học Viện Cảnh sát nhân dân. Trong phần trình bày về thực trạng cũng như giải
pháp nâng cao hiệu quả xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB, tác giả đã phân tích
hoạt động xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB của lực lượng CSGT trong thời
gian 10 năm (từ năm 2005 đến hết năm 2014); tác giả luận án đã chỉ ra những ưu
điểm, hạn chế và các yếu tố ảnh hưởng tới tính hiệu quả của hoạt động xử phạt.
Từ những phân tích đó, tác giả đã nêu ra những giải pháp để khắc phục những tồn
tại trong công tác xử phạt của lực lượng CSGT như: Hoàn thiện các quy định của
pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, tăng cường biên chế, trang bị cho
lực lượng CSGT...[69, tr.136 – 158].
Luận án tiến sĩ Quản lý công “Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao
thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay” của Trần Sơn Hà, thực hiện năm 2016 tại
Học viện Hành chính Quốc gia. Là một luận án chuyên ngành Quản lý công, những
vấn đề mà luận án nghiên cứu có liên quan trực diện về trật tự, ATGTĐB, vì vậy
trong chương thứ 4 của luận án, khi trình bày về các giải pháp nâng cao hiệu quả
của quản lý nhà nước về GTĐB, tác giả đã dành hai mục (mục 4.2.3 và 4.2.7),
trình bày về nhóm giải pháp “Tổ chức thực hiện pháp luật về giao thông đường
bộ” và “Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, tuần tra, kiểm soát và xử lý vi
phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ”. Theo tác giả muốn nâng cao hiệu
quả của quản lý nhà nước về trật tự, ATGTĐB, thì việc tăng cường công tác thanh,
16
17
Bài viết “Nâng cao văn hóa ứng xử trong giao tiếp của Cảnh sát giao thông
đáp ứng yêu cầu đảm bảo trật tự an toàn giao thông” của TS Phạm Trung Hòa,
Chuyên viên cao cấp, Học viện CSND, đăng trên tạp chí Cảnh sát Nhân dân, số
2/2014, tập trung vào trình bày vai trò của văn hóa ứng xử của chiến sĩ CSGT đối
với công tác xử phạt. Theo quan điểm của tác giả, nếu trong quá trình xử lý hành
vi vi phạm, mà chiến sĩ CSGT hành xử một cách có “văn hóa”, thì hiệu quả của
xử lý sẽ được nâng lên rõ rệt. Từ đó tác giả đã đề ra một số giải pháp để xây dựng,
rèn luyện cũng như trang bị những kỹ năng giao tiếp ứng xử có văn hóa cần thiết
đối với CSGT. Theo tác giả ngoài kiến thức chuyên môn cần thiết, thì các trường
Công an nhân dân cần phải chủ động lồng ghép chương trình rèn luyện kỹ năng;
xây dựng nếp sống, phong cách làm việc, ứng xử có văn hóa trong quan hệ giao
tiếp (đặc biệt đối với các học viên chuyên ngành CSGT) để thuận lợi cho quá trình
công tác sau này [53].
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Tóm tắt bài giảng Luật Hành chính của V.T.Batychko (В.Т.Батычко), nhà
xuất bản ТТИ ЮФУ, năm 2008 (Bản tiếng Nga). Đây là một tài liệu phục vụ cho
sinh viên và nghiên cứu sinh ngành luật trong quá trình học tập. Cuốn sách được
chia thành 9 phần lớn, trong đó phần thứ tám trình bày về TNHC.
Trong nội dung này tác giả đã trình bày rất nhiều vấn đề liên quan đến TNHC,
từ vấn đề khái niệm, các dấu hiệu, các yếu tố cấu thành của VPHC cho đến những
nội dung liên quan đến chủ thể của VPHC, nguyên tắc xử phạt VPHC…; trong đó
có một số nội dung có ý nghĩa quan trọng đối với luận án trong việc phân tích
những vấn đề mang tính khái niệm có liên quan đến hoạt động xử lý VPHC, cũng
như trong việc nêu các quan điểm về hoàn thiện lý luận về xử lý VPHC và VPHC
trong lĩnh vực GTĐB ở nước ta. Ví dụ như trong các nguyên tắc trong xử phạt
VPHC, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của nguyên tắc “thận trọng”, coi đây
như là một nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình xử phạt VPHC của các chủ thể
19
cơ chế xử phạt trong Luật quốc tế) của Elizabeth Nowlan đăng trên tạp chí của
Đại học luật Yale (Yale Law School, J.D. expected 2012).
Bài viết đề cập đến một vấn đề là cần phải có một hệ thống quy định về xử
phạt VPHC mang tính chuẩn mực chung cho các quốc gia trên thế giới, bởi xuất
phát từ thực tiễn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thế giới (Word bank
“WB”) tại các quốc gia khác nhau trên thế giới, thì vấn nạn tham nhũng là một
vấn đề cần được xử lý triệt để. Cá nhân, tổ chức khi có hành vi tham nhũng đối
với dòng vốn này có thể phải chịu sự trừng phạt theo pháp luật của quốc gia sở tại
và cũng phải bị xử phạt từ phía WB, và đây chính là khó khăn mà WB đang phải
đối mặt. Chính vì vậy WB đã khuyến cáo các quốc gia khi xây dựng các chế tài
xử phạt cần tiếp cận với các quy tắc của luật hành chính toàn cầu (Global
Administrative Law “GAL”), để phát huy tốt nhất tính hiệu quả, giảm thiểu sự
xung đột trong áp dụng các biện pháp trừng phạt của WB và pháp luật của quốc
gia sở tại.[111]
Đây là một gợi mở rất quan trọng cho Việt Nam trong quá trình xây dựng,
hoàn thiện pháp luật nói chung, pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB
nói riêng; đặc biệt bắt đầu từ ngày 20/08/2014, Việt Nam đã chính thức trở thành
thành viên của Công ước Quốc tế về GTĐB (Convention on Road Traffic) và
Công ước về Biển báo và Tín hiệu Đường bộ (Convention on Road Signs and
Signals). Trên tinh thần thực hiện các quy định của Công ước, bắt đầu từ tháng
8/2015, Việt Nam đã chính thức cấp giấy phép lái xe quốc tế (International Driving
Permit – “IDP”) có giá trị tại 85 quốc gia là thành viên của công ước Vienna
(1968), vì vậy cũng sẽ có nhiều giấy phép lái xe quốc tế cấp tại nước ngoài được
phép sử dụng tại Việt Nam, cho nên xây dựng một hệ thống pháp luật về GTĐB
cũng như xử lý những VPPL (đặc biệt là VPHC) trong lĩnh vực này cần phải tuân
thủ những nguyên tắc chung của GAL là vô cùng quan trọng, nó không những góp