VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH PHAN QUỲNH
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 9.38.01.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN CỬU VIỆT
HÀ NỘI – 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
tôi. Các số liệu và tư liệu được sử dụng trong luận án đảm bảo độ chính
xác, trung thực và tin cậy. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình
nghiên cứu của mình.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
ĐINH PHAN QUỲNH
thông đường bộ
Khái niệm, nguyên tắc, vai trò xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ
Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ
Thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ
Các yếu tố tác động đến xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ
THỰC TRẠNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
Thực trạng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ
Thực trạng hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay
1
8
8
23
27
31
31
36
55
61
66
77
77
: An toàn giao thông đường bộ
BCA
: Bộ Công an
CAND
: Công an nhân dân
C08
: Cục Cảnh sát giao thông
CSGT
: Cảnh sát giao thông
GTĐB
: Giao thông đường bộ
GTVT
: Giao thông vận tải
GPLX
: Giấy phép lái xe
: Trách nhiệm pháp lý
TTATGT
: Trật tự an toàn giao thông
TTKS
: Tuần tra kiểm soát
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Hệ thống đường bộ Việt Nam
Bảng 3.2: Đăng ký phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Việt Nam
Bảng 3.3: Kết quả xử phạt vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông đường
bộ
Bảng 3.4: Phân tích các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ
Bảng 3.5: Phương tiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Bảng 3.6: Kết quả áp dụng xử phạt vi phạm hành chính trên các lĩnh vực giao
thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giao thông đường bộ (GTĐB) ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề nhận
được sự quan tâm và quan ngại sâu sắc của toàn xã hội, theo số liệu của Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO) hiện nay tỷ lệ tử vong tính trên 100.000 dân do tai nạn giao
thông (TNGT) gây ra tại Việt Nam là cao hơn mức trung bình của thế giới
tô và 560.418 xe mô tô. Cũng trong năm 2016 tình hình ùn tắc giao thông vẫn
diễn ra ở mức độ nghiêm trọng (đặc biệt là ở hai thành phố lớn là Thành phố Hồ
Chí Minh và Hà Nội), với 41 vụ ùn tắc kéo dài gây thiệt hại về kinh tế cũng như
sức khỏe của cộng đồng. Cũng trong năm 2016, tình hình TNGT đường bộ vẫn
còn ở mức cao, đáng báo động với 21.589 vụ, làm chết 8.685 người và bị thương
19.280 người [13].
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng TNGT đường bộ, tuy nhiên theo
đánh giá của các cơ quan chức năng, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình hình
TNGT đường bộ chính là việc không tuân thủ các quy định của pháp luật về trật
tự, ATGTĐB của các chủ thể khi tham gia giao thông [14]. Chính vì vậy bên
cạnh việc phải thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm giảm thiểu các hành vi
VPPL về trật tự, ATGTĐB, cũng như tăng cường năng lực vận tải công cộng, cải
thiện hạ tầng GTĐB..., thì các vấn đề liên quan đến xử lý vi phạm hành chính
(VPHC) trong lĩnh vực GTĐB như: Giáo dục, tuyên truyền về ATGTĐB; hoàn
thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về an toàn giao thông (ATGT) từ trung
ương đến địa phương; hoàn thiện các cơ chế, chính sách về bảo đảm trật tự
ATGTĐB; nâng cao năng lực cưỡng chế của lực lượng CSGT, Thanh tra ngành
GTVT, và các lực lượng thực thi công vụ khác; hiện đại hóa phương tiện, trang
thiết bị phục vụ công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm; hoàn thiện cơ chế
phối hợp giữa lực lượng chức năng được xác định là những nhiệm vụ trọng tâm.
Vì vậy tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện về xử lý VPHC trong lĩnh
vực GTĐB, từ đó chỉ ra những tồn tại, vướng mắc, bất cập của hoạt động này là
một vấn đề có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn, với mục tiêu kéo giảm tình hình
VPHC về trật tự, ATGTĐB là một yêu cầu cấp thiết.
2
Với những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm luận án
tiến sĩ luật học, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Mã số
nghị cũng như đềxuất giải pháp, các nhóm giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả
công tác xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB của các lực lượng chức năng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án được xác định là những vấn đề có liên
quan đến xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, luận án tiến hành nghiên cứu hoạt động xử lý VPHC trong
lĩnh vực GTĐB trong phạm vi cả nước.
Về thời gian, luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến xử lý
VPHC trong lĩnh vực GTĐB và thực trạng xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB
trong 10 năm (từ năm 2007 đến hết năm 2016).
Xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB được thực hiện đối với các VPHC trong
lĩnh vực GTĐB như: Vi phạm quy tắc GTĐB; vi phạm quy định về kết cấu hạ tầng
GTĐB; vi phạm quy định về phương tiện tham gia GTĐB; vi phạm quy định về
người điều khiển phương tiện tham gia GTĐB.... Tuy nhiên vì những khó khăn
trong công tác thu thập các số liệu liên quan đến hoạt động xử lý các vi phạm về kết
cấu GTĐB (thực tế các vi phạm này mới bắt đầu được quan tâm xử lý từ đầu 2017),
vì vậy luận án chỉ tập trung nghiên cứu, đánh giá về những vấn đề có liên quan đến
xử lý VPHC đối với những vi phạm về quy tắc GTĐB; vi phạm quy định về phương
tiện tham gia GTĐB; vi phạm quy định về người điều khiển phương tiện tham gia
GTĐB..., mà không nghiên cứu những VPHC về kết cấu GTĐB.
Mặc dù thẩm quyền xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB thuộc về nhiều chủ thể
khác nhau như: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, lực lượng Công an nhân dân; lực
lượng Thanh tra ngành GTVT; nhưng trên thực tế hoạt động này chủ yếu được tiến
hành bởi lực lượng đó là CSGT đường bộ và Thanh tra ngành GTVT.
4
Chương 4: Là chương trình bày về phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu
quả xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, vì vậy luận án sử dụng phương pháp
phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp logic, phương pháp tiếp cận đa
ngành - liên ngành để từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả, hiệu lực của
hoạt động xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB với mục đích xây dựng một xã hội
giao thông an toàn, văn minh và thân thiện.
5. Những đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, luận án tiến hành nghiên cứu tổng quan, phân tích các quan điểm
đã và đang tồn tại về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, trên cơ sở đó luận án
xây dựng khái niệm xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, dồng thời đã chỉ ra các
đặc điểm, vai trò cũng như nguyên tắc của xử lý VPHC trong GTĐB.
Thứ hai, trên cơ sở tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới góc độ khoa học Luật
hành chính đối với những vấn đề đã được đặt ra trong phần câu hỏi nghiên cứu
và giả thuyết nghiên cứu của luận án, luận án xác định những yếu tố ảnh hưởng
tới xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam hiện nay.
Thứ ba, trên cơ sở phân tích một cách toàn diện về thực trạng pháp luật xử
lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB cũng như thực trạng hoạt động xử lý VPHC trong
lĩnh vực này, luận án đưa ra những đánh giá về những kết quả đã đạt được cũng
như những tồn tại, yếu kém và nguyên nhân của những tồn tại để từ đó rút ra
những kết luận khoa học về vấn đề này.
Thứ tư, trên cơ sở đánh giá nhưng tồn tại, hạn chế của pháp luật về xử lý
VPHC trong lĩnh vực GTĐB hiện nay ở Việt Nam; những khó khăn, hạn chế của
hoạt động xử lý các VPHC trong lĩnh vực GTĐB của các chủ thể có thẩm quyền
trên thực tế; trên cơ sở những dự báo về diễn biến tình hình VPHC trong lĩnh vực
GTĐB trong thời gian tới tại Việt Nam; Luận án đề xuất các giải pháp hướng tới
sự hoàn thiện các quy định của pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động
xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6
7
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1.1. Tình hình nghiên cứu về xử lý vi phạm hành chính và xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Thứ nhất, về khái niệm xử lý VPHC
Là một nội dung quan trọng trong nội dung giảng dạy môn Luật Hành chính
tại các cơ sở đào tạo luật, chính vì vậy trong các giáo trình giảng dạy môn Luật
Hành chính Việt Nam của các cơ sở đào tạo ở Việt Nam như Đại học Luật Hà
Nội; Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Khoa Luật thuộc Đại học quốc gia
Hà Nội; Đại học Cảnh sát Nhân dân..., đều dành một nội dung để trình bày, luận
giải về vấn đề này.
Tuy nhiên, khi trình bày, luận giải về khái niệm xử lý VPHC, do cách tiếp cận
không hoàn toàn giống nhau, vì vậy sự luận giải về khái niệm cũng có những điểm
không đồng nhất. Ví dụ, trong giáo trình Luật hành chính Việt Nam của Trường Đại
học Luật Hà Nội; Đại học Cảnh sát nhân dân chủ yếu phân tích theo hướng giải
thích khái niệm đã được luật định. Cụ thể, trong giáo trình Luật Hành chính Việt
Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 2017 đã dành một nội dung lớn
tại chương XI trình bày về VPHC; Trong nội dung trình bày về khái niệm VPHC,
giáo trình đã điểm lại các văn bản pháp luật có những quy định đề cập đến khái
niệm VPHC (Từ Nghị định 143/CP ngày 27/5/1977 đến Luật xử lý VPHC năm
2012); giáo trình đã nêu lại các định nghĩa về VPHC được thể hiện trong các văn
bản pháp luật này và giáo trình kết luận: Tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt, các
văn bản pháp luật nêu trên đều thống nhất với nhau về những dấu hiệu bản chất
của loại vi phạm này [60, tr 337]. Và sau đó đưa ra khái niệm VPHC như được quy
định tại Khoản 1, Điều 2, Luật xử lý VPHC năm 2012.
Trong khi đó giáo trình Luật Hành chính Việt Nam do GS.TS Phạm Hồng
Thái và TS Nguyễn Thị Minh Hà đồng chủ biên, nhà xuất bản Đại học quốc gia
hoạt động xử lý VPHC, trên cơ sở không tán thành với việc đưa nội dung về các
biện pháp xử lý hành chính vào trong Luật xử lý VPHC năm 2012 và khái niệm
“xử lý VPHC” của Luật, nên theo tác giả, “nguyên tắc xử lý VPHC” được
9
hiểu bao gồm những nguyên tắc chung của TNHC (bao gồm nguyên tắc của
pháp luật về TNHC và nguyên tắc của hoạt động xử lý VPHC) và những
nguyên tắc riêng của hoạt động xử lý VPHC. Trong nội dung này, tác giả cũng
nêu quan điểm của cá nhân mình về sự thiếu chính xác của các nguyên tắc của hoạt
động xử lý VPHC hiện nay được quy định trong Luật xử lý VPHC [107, tr.515].
Thứ ba, về các hình thức xử phạt VPHC
Đối với nội dung này về cơ bản các quan điểm khoa học là tương đối giống
nhau, điều này được thể hiện qua phần nội dung luận giải về hình thức xử phạt
VPHC, các giáo trình chỉ lưu ý cần có sự phân biệt chính xác giữa hình thức phạt
chính và hình thức phạt bổ sung. Bên cạnh hình thức xử phạt được trình bày, các
giáo trình còn dành một dung lượng lớn để trình bày về các biện pháp khắc phục
hậu quả do VPHC gây ra cũng như những biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc
xử phạt VPHC....
Cuốn sách “Một số vấn đề về phạt hành chính” của hai tác giả Phạm Dũng
và Hoàng Sao, nhà xuất bản Pháp lý, Hà Nội, 1986. Trong công trình này, các tác
giả đã đưa ra những nhận thức ban đầu về cơ sở lý luận của phạt hành chính và chỉ
rõ các loạt phạt hành chính hiện đang áp dụng ở thời điểm đó như: Cảnh cáo; phạt
tiền; tước quyền được sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để thực hiện VPHC; phạt lao động công ích; biện pháp
phạt lao động cải tạo; giam hành chính… Qua việc phân tích các biện pháp xử phạt,
các tác giả đã chỉ ra những cơ sở lý luận cũng như thực tiễn để giúp người đọc có
thể phân biệt được các hình thức xử phạt hiện hành, mục đích, nội dung cũng như
dưới góc độ luật thực định mà không đi sâu vào phân tích những vấn đề có tính
lý luận đối với vấn đề này, bởi theo các tác giả nội dung này không có ý nghĩa
nhiều trong công tác áp dụng pháp luật.[83]
Luận án tiến sĩ Luật, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính “Xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam: Những vấn đề lý luận và
thực tiễn” của Kim Long Biên thực hiện năm 2015, tại Học Viện Khoa học xã hội.
Là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề lý luận và thực tiễn trong
xử lý VPHC trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam, tác giả luận án đã nêu ra
11
khái niệm xử lý VPHC như sau: “Xử lý VPHC là hoạt động của các chủ thể có
thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử phạt VPHC và các biện pháp xử lý hành
chính theo một trình tự, hình thức do pháp luật xử lý hành chính quy định đối với
cá nhân, tổ chức có hành vi VPHC” [31, tr.37]. Trên cơ sở khái niệm này, tác giả
luận án đã phân tích các đặc điểm cũng như vai trò của xử lý VPHC đối với việc
duy trì các hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước nói chung, trong lĩnh
vực hải quan nói riêng.
Luận án tiến sĩ An ninh và trật tự xã hội “Giải pháp nâng cao hiệu quả xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB theo chức năng của lực lượng
Cảnh sát giao thông” của Trương Diệu Loan thực hiện năm 2015 tại Học Viện
Cảnh sát Nhân dân. Đối với nội dung về xử lý VPHC và xử lý VPHC trong lĩnh
vực GTĐB, luận án đã tập trung nghiên cứu và làm rõ khái niệm cũng như các
đặc điểm của xử lý VPHC nói chung, VPHC trong lĩnh vực GTĐB trên cơ sở
pháp luật thực định và từ đó tác giả luận án đã xây dựng khái niệm về xử phạt
VPHC trong lĩnh vực GTĐB của lực lượng CSGT như sau:
Xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB là công tác của nghiệp vụ lực lượng
CSGT, được tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật và quy trình công tác
của ngành Công an áp dụng đối với những cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm
và làm sáng tỏ một số vấn đề quan trọng có liên quan đến thể chế xử lý VPHC
trên biển của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam như: Hệ thống hóa và làm rõ
thêm các vấn đề lý luận về VPHC trên biển, xử lý VPHC trên biển cũng như thể
chế xử lý VPHC trên biển của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; làm rõ khái
niệm, yêu cầu, các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện cũng như các yếu tố tác
động đến hoàn thiện thể chế xử lý VPHC trên biển của cảnh sát biển Việt Nam;
Nghiên cứu thực trạng thể chế xử lý VPHC trên biển của Cảnh sát biển Việt
Nam, để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động
nay trên thực tế. [67]
Bên cạnh đó, còn có một số luận văn thạc sĩ Luật học, cũng nghiên cứu về
xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB như: Luận văn thạc sĩ luật học “Pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB hiện nay – Một số vấn đề lí luận,
13
thực tiễn và phương hướng hoàn thiện” của Vũ Thị Thanh Nhàn, Trường Đại học
Luật Hà Nội, Hà Nội, 2010; Luận văn thạc sĩ luật học “Xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực GTĐB trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa” của Nguyễn Văn Minh, Khoa
luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2012; Luận văn thạc sĩ luật học“Pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB” của Ngô Thị Hồng Loan,
Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2014...
Các công trình nghiên cứu nêu trên tập trung vào một số vấn đề như lý luận
cơ bản về VPHC và xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB, cũng như phân tích
những vấn đề có tính khái quát, điển hình về thực trạng pháp luật xử lý VPHC
trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam. Từ đó tác giả đã đưa ra một số kiến nghị với
mục đích hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này (Luận văn của Vũ Thị Thanh
Nhàn). Các kết luận được đề cập trong các công trình nêu trên sẽ tiếp tục được
NCS kế thừa trong xây dựng các khái niệm có liên quan trong luận án của mình.
Ngoài giáo trình, sách, chuyên đề, luận văn, luận án như vừa trình bày ở
việc thực hiện nhiệm vụ quản lý và ra quyết định xử phạt VPHC của những
người được ủy quyền, việc ủy quyền cũng có khả năng làm gia tăng số vụ việc
khiếu kiện về quyết định xử phạt VPHC. Từ những phân tích như vừa trình bày,
tác giả kiến nghị trong Luật xử lý VPHC nên quy định những người là cấp phó
trong một số cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt đối với những VPHC
thuộc phạm vi quản lý mà họ được phân công.
Bài viết “Hoàn thiện pháp luật về hình thức, thẩm quyền xử lý vi phạm hành
chính” của TS. Trần Thị Hiền, tại Hội thảo “Hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm
hành chính tại Việt Nam” do Viện Nghiên cứu lập pháp, Đại sứ quán Thụy Sĩ, Viện
Nghiên cứu chính sách, pháp luật và phát triển và Viện Nhân quyền Đan Mạch phối
hợp tổ chức tại Tam Đảo từ ngày 26 - 27/9/2011, thì cho rằng: Nguyên tắc thẩm
quyền xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt như hiện
nay đã làm vô hiệu hóa thẩm quyền xử phạt của các chức danh công chức không có
vị trí lãnh đạo; đồng thời, thẩm quyền xử phạt hành chính bị hạn chế bởi khung tiền
phạt giữa mức tối thiểu và mức tối đa giãn cách quá xa, dẫn đến tình trạng việc xử
phạt chủ yếu bị đẩy lên cơ quan cấp trên, dẫn đến nhiều vụ việc chậm
15
được xử lý, trong khi đó với tính chất của hành vi vi phạm thực sự chưa cần đến
mức phải có sự quyết định của cấp cao hơn. Chính vì vậy theo TS Trần Thị Hiền
cần có sự điều chỉnh phù hợp về thẩm quyền xử lý để hạn chế (tránh) hoạt động
xử phạt bị đẩy lên cơ quan cấp trên.
1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Luận án tiến sĩ An ninh và trật tự xã hội “Giải pháp nâng cao hiệu quả xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo chức năng của
lực lượng Cảnh sát giao thông” của Trương Diệu Loan thực hiện năm 2015 tại
Học Viện Cảnh sát nhân dân. Trong phần trình bày về thực trạng cũng như giải
Vũ Thị Thanh Nhàn, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2010; Luận văn thạc
sĩ luật học “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên
địa bàn tỉnh Thanh Hóa” của Nguyễn Văn Minh, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà
Nội, Hà Nội, 2012; Luận văn thạc sĩ luật học“Pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ” của Ngô Thị Hồng Loan, Trường Đại
học luật Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2014...; các tác giả
chủ yếu trình bày về thực trạng xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB tại một địa
phương cụ thể (Luận văn của Nguyễn Văn Minh), từ đó chỉ ra một số tồn tại, bất
cập trong công tác xử lý VPHC trong lĩnh vực này của các lực lượng chức năng
và từ đó đề xuất các giải pháp tháo gỡ.
Bài viết “Nâng cao vai trò của lực lượng Cảnh sát giao thông nhằm đảm bảo
trật tự, an toàn giao thông trong tình hình mới” của PGS,TS. Trần Minh Thư
– Viện trưởng Viện khoa học và chiến lược Bộ Công an, đăng trên tạp chí Cảnh
sát Nhân dân, số tháng 2/2014. Nội dung bài viết khẳng định trong công tác của
mình, lực lượng CSGT còn nhiều khiếm khuyết, thiếu sót; một bộ phận cán bộ,
chiến sĩ CSGT có biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống, nhận hối lộ, có tiêu
cực trong công tác xử lý các hành vi VPPL về GTĐB..., vì vậy theo tác giả bài
viết, để vấn đề trật tự, ATGTĐB được bảo đảm thì cần phải có những giải pháp
cụ thể đối với lực lượng CSGT để lực lượng này có thể hoàn thành tốt các nhiệm
vụ được giao. [88]
17
Bài viết “Nâng cao văn hóa ứng xử trong giao tiếp của Cảnh sát giao thông
đáp ứng yêu cầu đảm bảo trật tự an toàn giao thông” của TS Phạm Trung Hòa,
Chuyên viên cao cấp, Học viện CSND, đăng trên tạp chí Cảnh sát Nhân dân, số
2/2014, tập trung vào trình bày vai trò của văn hóa ứng xử của chiến sĩ CSGT đối
với công tác xử phạt. Theo quan điểm của tác giả, nếu trong quá trình xử lý hành
vi vi phạm, mà chiến sĩ CSGT hành xử một cách có “văn hóa”, thì hiệu quả của xử
giả cũng đã phân tích cơ sở của các hình thức xử phạt VPHC theo quy định của pháp
luật hiện hành (Bộ luật hành chính của Cộng hòa liên bang Nga 2001). [115] Sách
chuyên khảo: “Hoạt động cưỡng chế GTĐB” của tác giả Sai Tô-Kenchini và các
cộng sự, thuộc Cơ quan Cảnh sát quốc gia Nhật Bản, năm 2008. Nội dung cuốn sách
đề cập phân tích những nội dung cơ bản của hoạt động cưỡng chế giao thông của lực
lượng CSGT Nhật Bản. Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, mục đích của hoạt động cưỡng
chế giao thông, tác giả đưa ra một số lưu ý đối với lực lượng CSGT trong quan hệ
giao tiếp đối với những đối tượng bị cưỡng chế giao thông; tác giả đã liệt kê một số
hành vi cần phải tránh của lực lượng này khi thực
hiện hoạt động cưỡng chế các vi phạm trật tự, ATGTĐB.[90]
Sách: Vi Phạm Hành chính của tác giả Kikot (В.Я.Кикоть) xuất bản năm
2012 bởi Viện Kinh tế và Luật Ivan Kushnir (Институт экономики и права
Ивана Кушнира). Cuốn sách được chia thành 9 phần với 22 chương, trong đó
dành một phần (phần 5) với 2 chương (chương 13 và 14), trình bày về VPHC và
TNHC, về cơ bản các quan điểm của tác giả về VPHC và TNHC là khá tương
đồng với các quan niệm đang thịnh hành tại Việt Nam hiện nay. Khi phân tích về
VPHC, tác giả đã chỉ ra 5 dấu hiệu của VPHC cụ thể như: VPHC phải là một
hành vi VPPL, hành vi đó được biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan có thể
bằng hành động (khai báo sai), hoặc không hành động (không khai báo), chứ nó
không thể là suy nghĩ, nhận thức…[117]. Nhìn chung, những kết quả nghiên cứu
này sẽ là nguồn tham khảo quan trọng trong quá trình xây dựng các khái niệm có
liên quan đến VPHC, cũng như xử lý VPHC trong GTĐB của luận án.
Bài viết “Global Administrative Law and the Legitimacy of Sanctions
Regimes in International Law” (Luật hành chính toàn cầu và tính hợp pháp của
19
cơ chế xử phạt trong Luật quốc tế) của Elizabeth Nowlan đăng trên tạp chí của