mục lục
Trang
Mở đầu 1
Chơng 1: Cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về hợp
đồng trong nền kinh tế việt nam hiện nay
5
1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò của hợp đồng 5
1.2. Khái niệm, nguyên tắc, cấu trúc của pháp luật về hợp đồng 18
1.3. Tiêu chí hoàn thiện pháp luật về hợp đồng 27
Chơng 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam 33
2.1. Lịch sử phát triển của pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam 33
2.2 Thực trạng pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam hiện nay 39
Chơng 3: định hớng và giải pháp cơ bản trong việc
hoàn thiện pháp luật hợp đồng của nớc ta
hiện nay
61
3.1. Định hớng cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng 61
3.2. Một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về hợp đồng 68
Kết luận 82
danh mục tài liệu tham khảo 84
1
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ lâu, hợp đồng đã trở thành một công cụ pháp lý để xác lập quan hệ
của các chủ thể phát sinh từ các giao lu dân sự, kinh tế. Chúng ta đều biết rằng,
nhu cầu của các tổ chức và cá nhân trong đời sống xã hội vô cùng đa dạng và
phong phú. Để đáp ứng nhu cầu đó, con ngời phải quan hệ với nhau thông qua
các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa, vật phẩm. Công việc của các bên đ-
ợc thực hiện thông qua những cam kết đó là hợp đồng. Nh vậy, hợp đồng thể
hiện trong hầu hết các quan hệ mua bán của các bên trong nhiều lĩnh vực nh
dân sự, kinh tế, nghiên cứu khoa học Chính vì vậy, việc áp dụng những giao
Xuất phát từ lý do nh vậy mà học viên đã chọn đề tài: "Hoàn thiện
pháp luật hợp đồng đáp yêu cầu của nền kinh tế thị trờng theo định hớng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay" làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Khoa học pháp lý Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập
tới các vấn đề khác nhau của hợp đồng nh: đề tài luận án tiến sĩ "Chế độ hợp
đồng trong nền kinh tế thị trờng ở giai đoạn hiện nay" của tác giả Phạm Hữu
Nghị, Hà Nội, 1996; Đề tài luận án tiến sĩ "Xây dựng và hoàn thiện pháp luật
kinh tế nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh ở nớc ta" của tác giả Bùi Ngọc
Cờng, 2001; Đề tài luận văn thạc sĩ "Hợp đồng kinh doanh vô hiệu và hậu quả
pháp lý của nó" của tác giả Lê Thị Bích Thọ, 2002; Công trình nghiên cứu
khoa học "Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về giao dịch dân sự vô hiệu tại
Tòa án nhân dân" của tác giả Nguyễn Văn Luật, 2003; "Hợp đồng kinh doanh
3
vô hiệu: Lý luận và thực tiễn", Tài liệu Hội thảo về việc xử lý hợp đồng vô
hiệu, Diễn đàn doanh nghiệp và Câu lạc bộ Luật gia Việt - Đức, Hà Nội và
nhiều công trình của nhiều tác giả khác. Các công trình nghiên cứu trớc đây là
nguồn tài liệu quan trọng, có giá trị tham khảo và cung cấp những luận cứ
khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.
Tuy nhiên, kể từ sau ngày Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực, cha
có một công trình nào đề cập hệ thống và toàn diện về hợp đồng cũng nh điều
chỉnh pháp luật đối với quan hệ hợp đồng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Luận văn đặt mục đích nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về pháp
luật đối với quan hệ hợp đồng, đánh giá thực trạng pháp luật về hợp đồng
trong điều kiện thi hành Bộ luật Dân sự 2005, đồng thời chỉ ra những khó
khăn, vớng mắc trong thực tế áp dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp
tiếp tục hoàn thiện pháp luật hợp đồng để nâng cao hiệu quả áp dụng của pháp
luật về hợp đồng trong thực tiễn.
Với mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu tổng hợp lý luận ở chơng một, phân tích thực trạng
ở chơng hai và những giải pháp của chơng ba của luận văn đã góp phần cung
cấp những luận cứ khoa học để thấy rõ vai trò của hợp đồng cũng nh pháp luật
về hợp đồng trong đời sống giao lu kinh tế và đặc biệt là các hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp.
5
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chơng, 7 tiết.
6
Chơng 1
Cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về hợp đồng
trong nền kinh tế việt nam hiện nay
1. khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò của hợp đồng
1.1.1. Khái niệm và những đặc điểm của hợp đồng
1.1.1.1. Khái niệm hợp đồng
Cơ sở cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của hợp đồng đã hình thành
và phát triển hàng nghìn năm nay. Nó tồn tại và phát triển trong xã hội phơng
Tây, xã hội phơng Đông hay cả chính xã hội nh Bắc Mỹ, châu úc. Nh vậy, để
tìm hiểu thể nào là hợp đồng, cơ sở cho sự hình thành hợp đồng cũng nh sự ra
đời của pháp luật về hợp đồng, trớc hết ta khái quát tóm lợc những quan điểm
về hợp đồng của các nớc cũng nh các khu vực trên thế giới.
Khởi nguồn từ triết lý pháp luật tự nhiên, dựa trên các giá trị pháp luật
hợp đồng của La Mã và các học thuyết về quyền cá nhân, hợp đồng và pháp
luật hợp đồng phơng Tây đã có hơn hai nghìn năm để phát triển các học thuyết
về tính bắt buộc thực hiện của hợp đồng, công bằng, thống nhất về ý chí và
trách nhiệm đối với việc không tuân thủ nghĩa vụ và cam kết. Vì cá nhân là
trung tâm của xã hội phơng Tây nên sự bày tỏ ý chí cá nhân, các cam kết và
khác nhau. Trong các quan hệ đó, tồn tại mối quan hệ khi các bên thiết lập với
nhau để chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt, tiêu dùng và kinh doanh đóng một vai trò quan trọng nh là một tất yếu
đối với mọi đời sống xã hội. Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi ích vật chất,
8
tài sản đó không thể tự chúng tìm đến với nhau để thiết lập các quan hệ. Các
quan hệ tài sản chỉ đợc hình thành từ những hành vi có ý chí của các chủ thể.
Mác nói rằng: "Tự chúng, hàng hóa không thể đi đến thị trờng và trao đổi với
nhau đợc. Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những ngời giữ chúng
phải đối xử với nhau nh những ngời mà ý chí nằm trong các vật đó".
Mặt khác, nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không đợc
bên kia chấp nhận cũng không thể hình thành mối quan hệ để qua đó thực
hiện việc chuyển giao tài sản hoặc làm một công việc đối với nhau đợc. Do
đó, chỉ khi nào có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên thì quan hệ trao
đổi lợi ích vật chất mới đợc hình thành. Quan hệ đó đợc gọi là hợp đồng. Nh
vậy, cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất để hình thành một hợp đồng là việc thỏa
thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên tham gia hợp đồng. Tuy nhiên, hợp
đồng đó chỉ có hiệu lực pháp luật khi ý chí của các bên phù hợp quy định của
pháp luật. Các bên đợc tự do thỏa thuận để thiết lập hợp đồng, nhng sự "tự do"
ấy phải đợc đặt trong giới hạn để không xâm hại đến lợi ích của ngời khác, lợi
ích chung của xã hội và trật tự công cộng.
Khi hợp đồng đợc giao kết hợp pháp thì hợp đồng có hiệu lực pháp
luật đối với các bên giao kết. Nghĩa là, từ lúc đó, các bên đã tự nhận về mình
những nghĩa vụ pháp lý nhất định. Sự "can thiệp" của Nhà nớc không những là
việc buộc các bên phải giao kết hợp đồng phù hợp với lợi ích chung và đạo
đức xã hội mà còn buộc các bên phải thực hiện hợp đồng đúng với những cam
kết mà họ đã thoả thuận. Theo nội dung đã cam kết, dới sự hỗ trợ của pháp
luật, các bên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau.
Về bản chất, hợp đồng là một giao dịch mà trong đó các bên thỏa thuận
với nhau nhằm đi đến thống nhất để cùng nhau làm phát sinh các quyền và
10
danh, doanh nghiệp t nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp
100% vốn đầu t nớc ngoài. Các doanh nghiệp ký kết hợp đồng để phục vụ cho
hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Các hoạt động kinh doanh hết sức
đa dạng: đầu t vốn, sản xuất, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thơng tr-
ờng. Hợp đồng đợc ký kết trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau nh mua
bán hàng hóa, vận chuyển, xây dựng, bảo hiểm, tín dụng, đại lý, ủy thác, liên
kết kinh doanh Hình thức của hợp đồng có thể bằng lời nói, văn bản hoặc
bằng các hành vi cụ thể.
Tóm lại, từ những nội dung cơ bản nhất của hợp đồng nói chung, hợp
đồng dân sự, hợp đồng trong hoạt động kinh doanh và cả quan điểm nớc ngoài
cũng nh quan điểm của các tổ chức thế giới cho thấy: Hợp đồng là thoả thuận
của các bên nhằm thống nhất các quyền và nghĩa vụ pháp lý.
1.1.1.2. Những đặc điểm của hợp đồng
Trên cơ sở bản chất và khái niệm về hợp đồng đã nêu, ta thấy hợp đồng
có những đặc điểm pháp lý cơ bản sau:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng
Phạm vi chủ thể của hợp đồng rất rộng lớn. Tùy từng lĩnh vực và ngành
nghề khác nhau mà pháp luật giới hạn phạm vi chủ thể cho phù hợp để nhằm
bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng.
Với các hợp đồng dân sự thông thờng, chủ thể là các cá nhân, pháp
nhân, hay các tổ chức khác. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chủ thể của
hợp đồng kinh doanh đợc quy định rất cụ thể đó thờng là thơng nhân đáp ứng
những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật.
Tựa chung lại, chủ thể của hợp đồng bao gồm cá nhân có năng lực
pháp luật và năng lực hành vi dân sự, các tổ chức, doanh nghiệp, và các pháp
nhân khác đợc pháp luật thừa nhận có t cách pháp lý độc lập với nhau, hoàn
11
toàn bình đẳng với nhau khi tham gia quan hệ hợp đồng. Tuỳ từng loại hợp
đồng mà pháp luật có thể quy định những điều kiện ràng buộc cho các chủ thể
dới phải phục tùng chịu sự phân công và chỉ đạo của cán bộ cấp trên. Trong
mối quan hệ này cơ sở hình thành quyền và nghĩa vụ bắt nguồn từ quyết định
đơn phơng của thủ trởng cấp trên, của cơ quan nhà nớc và nó mang tính mệnh
lệnh hành chính. Khác với tính bất bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong các
quan hệ trên, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng luôn ngang bằng
và bình đẳng nhau. Trong hợp đồng, quyền lợi của bên này có nghĩa đó là
nghĩa vụ của bên còn lại và ngợc lại nghĩa vụ của bên này chính là quyền của
bên còn lại. Quyền và nghĩa vụ của các bên hình thành từ sự tự nguyện thoả
thuận của các bên, các bên tự mình đàm phán, trao đổi và ghi nhận quyền và
nghĩa vụ đó.
Thứ t, về hình thức của hợp đồng
Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì hợp đồng đợc ký kết dới nhiều
hình thức khác nhau nh: văn bản, lời nói hay các hành vi cụ thể; trong một số
trờng hợp khác pháp luật quy định hợp đồng phải ký dới một hình thức nhất
định (nh hợp đồng phải ký bằng văn bản có công chứng, chứng thực hợp lệ)
thì phải tuân thủ hình thức đó. Văn bản là hình thức có thể thể hiện một cách
hữu hình nội dung của hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận với nhau. Đó có
thể là bản hợp đồng với đầy đủ chữ ký của các bên hoặc công văn, tài liệu giao
dịch chứa đựng những nội dung chủ yếu của hợp đồng mà các bên đã thỏa
thuận đợc với nhau.
1.1.2. Phân loại hợp đồng
13
Tùy thuộc vào nội dung, tính chất hình thức của từng quan hệ hợp
đồng, ngời ta phân biệt thành nhiều loại hợp đồng khác nhau:
- Căn cứ vào nội dung và tính chất cụ thể của hợp đồng mà chia thành
từng loại hợp đồng riêng nh: Hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng xây dựng,
vận chuyển, tín dụng, thuê tài sản, hợp đồng dân sự, hợp đồng thơng mại, hợp
đồng lao động, hợp đồng khoa học công nghệ
- Căn cứ vào hình thức thể hiện, quan hệ hợp đồng chia thành: hợp đồng
bằng văn bản, hợp đồng bằng lời nói, hợp đồng có chứng nhận, chứng thực
+ Hợp đồng song vụ
Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà các bên chủ thể đều có quyền và
nghĩa vụ. Hay nói cách khác, mỗi một bên chủ thể của hợp đồng song vụ là
ngời vừa có quyền lại vừa có nghĩa vụ dân sự. Trong nội dung của loại hợp
đồng này, quyền dân sự của bên này đối lập tơng ứng với nghĩa vụ của bên kia
và ngợc lại. Vì thế, nếu hợp đồng song vụ đợc giao kết theo hình thức văn bản,
thì phải lập thành nhiều văn bản để mỗi bên giữ một bản hợp đồng. Tại khoản
1 Điều 406 Bộ luật Dân sự 2005 đã định nghĩa: "Hợp đồng song vụ là hợp
đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau" [56].
+ Hợp đồng đơn vụ
Hợp đồng đơn vụ là những hợp đồng mà trong đó một bên chỉ có nghĩa
vụ mà không có quyền gì đối với bên kia và bên kia là ngời có quyền nhng
không phải thực hiện một nghĩa vụ nào.
Việc xác định quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau giữa các chủ thể
trong hợp đồng dân sự đợc bắt đầu từ thời điểm hợp đồng dân sự có hiệu lực.
15
- Căn cứ theo sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực giữa các hợp đồng, có
thể chia thành:
+ Hợp đồng chính
Tại khoản 3 Điều 406 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Hợp đồng chính
là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng khác" Nh vậy, các
hợp đồng chính khi đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện mà pháp luật đã quy định
thì đơng nhiên phát sinh hiệu lực và có hiệu lực bắt buộc đối với các bên từ
thời điểm giao kết.
+ Hợp đồng phụ
"Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc và hợp đồng
chính" (khoản 4 Điều 406 Bộ luật Dân sự 2005). Trớc hết các hợp đồng phụ
muốn có hiệu lực phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện luật định về chủ thể, về
nội dung, về hình thức v.v Mặt khác, dù rằng đã tuân thủ đầy đủ các điều
kiện nói trên nhng hợp đồng vẫn không có hiệu lực nếu hợp đồng chính (hợp
đồng này dù đã hứa hẹn (đã có sự thống nhất ý chí) nhng việc chấp nhận đề
nghị không mang tính chất ràng buộc đối với bên đợc đề nghị. Vì vậy, đối với
hợp đồng tặng cho tài sản, pháp luật đã quy định có hiệu lực khi các bên đã
thực tế trao cho nhau đối tợng tặng cho hoặc đã hoàn thành thủ tục chuyển
quyền sở hữu.
- Căn cứ vào thời điểm phát sinh hiệu lực, có thể chia thành:
+ Hợp đồng ng thuận
Hợp đồng ng thuận là những hợp đồng mà theo quy định của pháp
luật, quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh quay sau khi các bên đã thỏa
17
thuận với nhau xong về nội dung chủ yếu của hợp đồng. Trong trờng hợp này,
dù rằng các bên cha trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết nhng đã phát
sinh quyền yêu cầu của bên này đối với bên kia trong việc thực hiện hợp đồng.
Hay nói cách khác, hợp đồng ng thuận là những hợp đồng mà thời điểm có
hiệu lực của nó đợc xác định tại thời điểm giao kết.
+ Hợp đồng thực tế
Hợp đồng thực tế là những hợp đồng mà sau khi thỏa thuận, hiệu lực
của nó chỉ phát sinh tại thời điểm khi các bên đã chuyển giao cho nhau đối t-
ợng của hợp đồng.
- Căn cứ vào tính chất của nội dung của hợp đồng, ngời ta có thể hợp
đồng thành các loại hợp đồng nh: hợp đồng dân sự, hợp đồng thơng mại, hợp
đồng trong hoạt động kinh doanh, hợp đồng lao động, hợp đồng khoa học
công nghệ
- Ngoài các cách phân loại hợp đồng nh trên, pháp luật của nhiều nớc
còn có nhiều cách phân loại hợp đồng khác
Tóm lại, việc phân chia hợp đồng dân sự thành các loại nói trên vừa
dựa vào sự quy định của pháp luật, vừa dựa trên phơng diện lý luận, vừa dựa
trên phơng diện thực tiễn. Qua đó, nhằm xác định đợc những đặc điểm chung
và riêng của từng nhóm hợp đồng, góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình
điều chỉnh các quan hệ hợp đồng
quản lý ở tầm vĩ mô, còn quá trình tổ chức và quản lý sẽ thuộc về các doanh
nghiệp. Đối với các giao lu dân sự thông thờng, Nhà nớc luôn đề cao quyền tự
19
do của cá nhân, chính vì vậy việc quản lý của nhà nớc cũng nh việc bảo đảm
quyền và nghĩa vụ của các bên chủ yếu đợc đánh giá qua sự thoả thuận của
các bên. Nếu nh trớc đây, Nhà nớc luôn là trung tâm quản lý trực tiếp đối với
doanh nghiệp thì nay sự quản lý đó lại để cho các doanh nghiệp tự quản lý và
nhà nớc chỉ tập trung quản lý theo phơng pháp mới nh quản lý về thuế, quản
lý tỷ giá hối đoái, quản lý về chính sách thơng mại, và quản lý xã hội bằng
pháp luật. Nh vậy, một trong những nội dung quan trọng để nhà nớc quản lý
và bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các cá nhân và tổ chức đó là hợp đồng. Bên
cạnh nhà nớc sử dụng hợp đồng nh một công cụ quản lý mới thì chính các tổ
chức với tổ chức, tổ chức với cá nhân thành viên có liên quan, cá nhân với cá
nhân, hợp đồng cũng là cơ sở tạo sự ràng buộc lẫn nhau và trở thành công cụ
quản lý hiệu quả.
1.2. khái niệm, nguyên tắc, cấu trúc của pháp luật về hợp đồng
1.2.1. Khái niệm pháp luật về hợp đồng
Từ khái niệm về hợp đồng, các đặc điểm của hợp đồng cũng nh vai trò
của hợp đồng đã trình bày ở phần một của chơng một cho ta thấy các quan hệ
về hợp đồng tồn tại trong nhiều lĩnh vực khác nhau: từ lĩnh vực kinh doanh,
linh vực dân sự, lao động, tín dụng và khoa học công nghệ. Điều này cho thấy
quan hệ hợp đồng có phạm vi rất rộng. Quan hệ hợp đồng có thể chỉ là các
quan hệ rất đơn giản nh việc mua bán hàng hoá đơn gian của đời sống dân sự
hàng ngày(trong những trờng hợp này, các hợp đồng thờng chỉ là hợp đồng
bằng lời nói) tới các hợp đồng có nội dung rất phức tạp bao gồm nhiều chủ thể
tham gia, nội dung lớn với nhiều bộ phận khác nhau đẻ thực hiện các nội dung
công việc đã thoả thuận trong hợp đồng (trong trờng hợp này, các hợp đồng th-
ờng là hợp đồng thơng mại, hợp đồng xây dựng BTO, BOT, BT, hay các hợp
đồng mua bán hàng hoá xuất nhập khẩu). Để bảo đảm các quan hệ hợp đợc
phát triển đúng mục đích và yêu cầu của nhà nớc cũng nh quan hệ hợp đồng
Chẳng hạn, hợp đồng thơng mại sẽ do Bộ luật Dân sự và Luật Thơng mại điều
chỉnh; hợp đồng lao động sẽ do Bộ luật Lao động điều chỉnh Khi nói tới pháp
luật về hợp đồng, nhiều ngời có quan điểm rằng phải tách riêng từng loại hợp
đồng riêng biệt. Chẳng hạn, hợp đồng dân sự sẽ có những nội dung và đặc
điểm khác với hợp đồng trong kinh doanh, hợp đồng thơng mại khác với hợp
đồng lao động
Tuy nhiên, để cho hợp đồng đợc ký kết giữa các chủ thể đợc thực hiện
có hiệu quả và bảo đảm đợc sự quản lý của nhà nớc thì nhà nớc ban hành
nhiều quy phạm pháp luật để áp dụng trong việc cụ thể hóa các vấn đề của hợp
đồng. Nh vậy, pháp luật về hợp đồng bao gồm một hệ thống các văn bản pháp
luật khác nhau, trong mỗi văn bản pháp luật đó sẽ bao gồm nhiều điều luật quy
định cụ thể hóa các nội dung của hợp đồng, định hình các quy tắc xử sự của
các bên tham gia quan hệ hợp đồng. Từ đó ta có thể kết luận pháp luật về hợp
đồng nh sau: Pháp luật về hợp đồng là một hệ thống các quy tắc xử sự, do các
cơ quan nhà nớc có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện nhằm bảo vệ
quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hợp đồng.
1.2.2. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về hợp đồng
1.2.2.1. Tôn trọng quyền thỏa thuận tự nguyện của các bên
Các bên tham gia quan hệ hợp đồng có quyền tự do cam kết, thỏa
thuận phù hợp với pháp luật trong việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ
dân sự. Mọi cam kết và thỏa thuận hợp pháp đợc pháp luật bảo hộ.
Khi cam kết, thỏa thuận các bên hoàn toàn tự nguyện, không đợc ai
dùng bất cứ thủ đoạn nào nhằm buộc một ngời cam kết, thỏa thuận trái với ý
chí của ngời đó. Mọi cam kết, thỏa thuận không có sự tự nguyện của các bên
có thể coi là vô hiệu.
22
Khi tiến hành thỏa thuận các chủ thể đều bình đẳng, không đợc lấy bất
cứ một lí do nào về sự khác biệt để đối xử không bình đẳng. Các chủ thể bình
đẳng về năng lực pháp luật, bình đẳng giữa các hình thức sở hữu khi giao kết
hợp đồng. Bình đẳng của các chủ thể đợc thể hiện ở các điểm sau:
thực hiện bình đẳng (Điều 9 Bộ luật Dân sự).
1.2.2.3. Bảo vệ trật tự công và lợi ích của ngời thứ ba ngoài quan hệ
hợp đồng
"Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không đợc xâm phạm
đến lợi ích của Nhà nớc, lợi ích công cộng, quyền lợi ích hợp pháp của ngời
khác".
Việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ hợp đồng nhằm thỏa mãn
nhu cầu vật chất và tinh thần của các bên tham gia vào quan hệ đó. Tuy nhiên,
khi thực hiện các hành vi không đợc phép thực hiện tùy tiện mà phải thực hiện
trong khuôn khổ, giới hạn của hợp đồng. Quyền của một chủ thể đợc giới hạn
bởi quyền của các chủ thể khác, lợi ích của Nhà nớc, lợi ích công cộng, nhằm
bảo đảm việc các chủ thể gây thiệt hại cho các chủ thể còn lại thì phải bồi th-
ờng các thiệt hại nh đã thỏa thuận trong hợp đồng.
1.2.2.4. Tôn trọng và tuân thủ pháp luật, đạo đức và truyền thống
tốt đẹp
Quan hệ hợp đồng luôn luôn đề cao tính tự nguyện và sự tự do ý chí
của các bên trong việc thoả thuận ký kết hợp đồng, Nội dung này của hợp
đồng luôn đợc pháp luật ghi nhận và bảo đảm. Tuy nhiên, việc phát huy quyền
24
tự do hợp đồng của các bên luôn phải đợc đặt trong mố quan hệ với lợi ích của
ngời khác và những giá trị văn hoá truyền thống. Chính vì vậy, quyền tự do
hợp đồng luôn phải đợc đặt trong khuôn khổ pháp luật của nhà nớc, nghĩa là
các bên đợc quyền phát huy tối đa quyền tự do hợp đồng nhng việc phát huy
đó phải đặt trong sự kiểm soát của pháp luật (trong khuôn khổ pháp luật). Bên
cạnh việc tuân thu đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật các ben tham
gia hợp đồng cần phải tôn trọng những giá trị đạo đức và những truyền thống
tốt đẹp của dân tộc, tình đoàn két tơng thân tơng ái, mỗi ngời vì cộng đồng,
cộng đồng vì mỗi ngời và vì truyền thống tốt đẹp của các dân tộc anh em tren
đất nớc Việt Nam
1.2.3. Cấu trúc của pháp luật hợp đồng trong pháp luật Việt Nam