luận văn thạc sĩ Giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít người ở tỉnh Đăk Lăk - Thực trạng và giải pháp - Pdf 13

Giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc
ít ngời ở tỉnh đắk lắk - thực trạng và giải pháp
Hà Nội 2010
Giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc
ít ngời ở tỉnh đắk lắk - thực trạng và giải pháp
Hà Nội 2010
Mục lục
Trang
Mở đầu 1
Chơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục
pháp luật nói chung và giáo dục pháp
luật cho nhân dân các dân tộc miền núi
của nớc ta hiện nay
8
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục pháp luật 8
1.2. Quan điểm của Đảng và cơ sở pháp lý về giáo dục pháp
luật cho nhân dân các dân tộc ít ngời ở tỉnh Đăk Lăk
26
Chơng 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho nhân
dân các dân tộc ít ngời tại tỉnh Đăk Lăk
38
2.1. Đặc điểm điều kiện chính trị - kinh tế - xã hội và ảnh hởng
của nó đến giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít
ngời tại Đăk Lăk
38
2.2. Thực trạng giáo dục pháp luật ở tỉnh Đăk Lăk 51
Chơng 3: Phơng hớng và các giải pháp cơ bản của
việc tăng cờng giáo dục pháp luật cho
nhân dân các dân tộc ít ngời ở tỉnh Đăk
Lăk
63

nớc ta. Để thiết lập một nền pháp chế thống nhất và vững chắc trên phạm
vi cả nớc; để thiết lập trật tự pháp luật, kỷ cơng phép nớc đợc nghiêm minh,
dân chủ và công bằng, có rất nhiều con đờng với nhiều giải pháp phong
phú. Trong đó, phải kể đến giải pháp trớc mắt và lâu dài đảm bảo việc thực
hiện pháp luật trở thành lối sống, thói quen của Nhà nớc và nhân dân - đó
là đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục pháp luật (GDPL), nâng cao ý thức pháp
luật cho nhân dân. Chính vì vậy, Chính phủ đã ra Chỉ thị số 02/CT-TTg
năm 1998 và Quyết định số 03/QĐ-TTg ngày 7/1/1998 về việc ban hành
kế hoạch triển khai công tác phổ biến GDPL. Trong Báo cáo của Chính
phủ do Thủ tớng Phan Văn Khải trình bày tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa
X ngày 20/11/2001 nêu rõ:
Trong xã hội, việc tạo lập nếp sống và làm việc theo pháp
luật phải đợc đặt thành một yêu cầu cơ bản và cấp bách của đời
sống văn hóa ở các gia đình, các cụm dân c, các đơn vị cơ sở và
phải coi đó là sự nghiệp của toàn dân, đòi hỏi nỗ lực của toàn bộ
hệ thống chính trị trong việc phổ biến tuyên truyền pháp luật, đẩy
mạnh đấu tranh chống các hành vi trái pháp luật, xử lý nghiêm
minh các vi phạm [8, tr. 2].
Với nhận thức trên có thể khẳng định rằng: nếu sự nghiệp giáo dục
là quốc sách hàng đầu thì GDPL có vị trí đặc biệt quan trọng ở nớc ta hiện
nay. Với lôgic ấy, để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị số 22-
NQ/TW, ngày 27/11/1989 về một số chủ trơng, chính sách lớn phát triển
kinh tế xã hội miền núi, trong đó có Tây Nguyên "với vị trí chiến lợc và u
thế về đất đai tài nguyên, xây dựng Tây Nguyên giàu về kinh tế, vững mạnh
về quốc phòng an ninh, tiến tới có vùng kinh tế động lực" (nh Chiến lợc
phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 đã xác định). Nhà nớc ta phải tăng c-
ờng GDPL cho nhân dân các dân tộc ít ngời ở Tây Nguyên nói chung và ở
Đăk Lăk nói riêng theo quy định của Điều 36 Hiến pháp 1992: " Nhà nớc
thực hiện chính sách u tiên bảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi, các
vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn".

+ Các công trình nghiên cứu ở ngoài nớc nh:
- "Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cờng pháp chế xã hội chủ
nghĩa", Luận án tiến sĩ luật của Trần Ngọc Đờng.
- "ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và GDPL cho nhân dân lao
động ở Việt Nam", Luận án phó tiến sĩ luật của Nguyễn Đình Lộc.
+ ở trong nớc việc nghiên cứu GDPL đợc nhiều tác giả đề cập đến
những khía cạnh và mức độ khác nhau, thể hiện trong các công trình nghiên
cứu, bài viết đăng trên các báo, tạp chí và GDPL đã là đề tài của nhiều luận
án, luận văn luật học, các công trình nghiên cứu đó có thể kể đến nh:
- "Giáo dục pháp luật cho nhân dân" của tác giả Nguyễn Ngọc
Minh (Tạp chí Cộng sản, số 10, tr.34-38, năm 1983) .
- "Giáo dục ý thức pháp luật để tăng cờng pháp chế xã hội chủ
nghĩa và xây dựng con ngời mới" của Phùng Văn Tửu (Tạp chí Giáo dục lý
luận, số 4, tr. 18-22, năm 1985) ;
- "Giáo dục ý thức pháp luật" của Nguyễn Trọng Bích (Tạp chí Xây
dựng Đảng, số 4, tr. 34-35, năm 1989) ;
- "Cơ sở khoa học của việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp
luật" (Đề tài khoa học cấp Nhà nớc, mã số 07-17 do Viện Nhà nớc - pháp
luật thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn chủ trì) ;
- "Một số vấn đề lý luận và thực tiến trong công cuộc đổi mới", đề
tài khoa học cấp Bộ, mã số 92-98, 223 ĐT của Viện Nghiên cứu Khoa học
pháp lý - của Bộ t pháp;
- "Tìm kiếm mô hình phổ biến giáo dục pháp luật có hiệu quả trong
một số dân tộc ít ngời", đề tài khoa học cấp Bộ của Viện Nghiên cứu Khoa
học pháp lý;
- "Giáo dục pháp luật trong các trờng Đại học, trung học chuyên
nghiệp và dạy nghề không chuyên luật ở nớc ta hiện nay", Luận án Phó tiến
sĩ của Đinh Xuân Thắng;
- "Giáo dục pháp luật qua hoạt động t pháp ở Việt Nam", Luận án
phó tiến sĩ của Dơng Thị Thanh Mai;

3.1. Mục đích của luận văn
Nghiên cứu thực trạng, đề xuất những giải pháp nhằm tăng cờng
giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít ngời ở tỉnh Đăk Lăk
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
Một là: Phân tích làm rõ cơ sở lý luận GDPL cho nhân dân các dân
tộc ít ngời.
Hai là: Đánh giá, phân tích thực trạng GDPL cho nhân dân các dân
tộc ít ngời ở tỉnh Đăk Lăk.
Ba là: Đề xuất phơng hớng và giải pháp nhằm tăng cờng ý thức
GDPL cho nhân dân các dân tộc ít ngời ở tỉnh Đăk Lăk.
4. Phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu
Luận văn đợc xây dựng trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và pháp luật Nhà n-
ớc ta về GDPL nói chung và cho nhân dân các dân tộc ít ngời nói riêng.
- Luận văn sử dụng các phơng pháp nghiên cứu cụ thể nh: phơng
pháp lịch sử - cụ thể, phân tích tổng hợp, thống kê so sánh, điều tra xã hội
học v.v
5. Những đóng góp mới của luận văn
- Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên, nghiên cứu tơng đối có hệ
thống những vấn đề lý luận về GDPL cho nhân dân các dân tộc ít ngời ở
một địa phơng miền núi.
- Phân tích đánh giá thực trạng GDPL, đồng thời rút ra những kinh
nghiệm về GDPL cho nhân dân các dân tộc ít ngời tại Đăk Lăk.
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và tăng cờng
giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít ngời ở Đăk Lăk.
6. ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần vào việc nhận thức rõ tính đặc thù và thực
trạng GDPL hiện nay cho ngời dân tộc tại tỉnh Đăk Lăk, từ đó nâng cao
nhận thức, trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức hoạt động thực tiễn của các cơ quan

chính trị t tởng, đạo đức. Theo quan niệm này khi tiến hành giáo dục chính
trị t tởng, các quan điểm, đờng lối, chủ trơng của Đảng cho nhân dân thì tự
nó sẽ hình thành nên ý thức pháp luật. Điều đó có ý nghĩa làm tốt công tác
giáo dục chính trị t tởng, giáo dục đạo đức sẽ đạt đợc sự tôn trọng pháp luật
của công dân. Hay nói cách khác sự hình thành ý thức pháp luật là hệ quả
tất yếu của việc giáo dục chính trị t tởng hay giáo dục đạo đức.
- Quan niệm thứ hai: Xem GDPL chỉ đơn thuần là hoạt động phổ
biến tuyên truyền, giải thích pháp luật thông qua các phơng tiện thông tin
đại chúng nh đài phát thanh, truyền hình và sách báo. Chỉ cần làm tốt công
tác thông tin tuyên truyền pháp luật nh vậy là có thể làm tốt công tác
GDPL.
- Quan niệm thứ ba cho rằng: GDPL là lấy "trừng trị" để giáo dục ng-
ời vi phạm và răn đe giáo dục ngời khác. Thông qua việc xử lý những hành
vi vi phạm pháp luật nh áp dụng hình phạt đối với ngời phạm tội, xử phạt vi
phạm hành chính hay áp dụng các chế độ trách nhiệm dân sự sẽ có tác dụng
GDPL cho mọi ngời; không cần phải tuyên truyền hay giải thích pháp luật.
- Quan niệm thứ t: đồng nghĩa GDPL với dạy và học pháp luật ở các
trờng học, còn việc tuyên truyền phổ biến pháp luật ở ngoài xã hội thì
không phải là GDPL.
Tất cả các quan niệm trên, mặc dù ở những góc độ khác nhau nhng
đều có sự nhìn nhận GDPL ở những khía cạnh và mức độ hợp lý nhất định.
Song ở các quan niệm đó đều bộc lộ ít nhiều sự phiến diện, hoặc đơn giản
đến mức tầm thờng hóa vai trò của GDPL; cha thấy đợc đặc thù và giá trị
vốn có của GDPL. Vì vậy, những quan niệm đó đã hạ thấp vai trò, vị trí xã
hội của GDPL. Mặt khác trong thực tiễn các quan niệm trên đây đã không
tạo ra khả năng hoặc thậm chí cản trở việc triển khai hoạt động có tổ chức
cũng nh quy mô việc thực hiện pháp luật; làm cho hiệu lực, hiệu quả của
pháp luật trong thực tế không cao. Nhận định trên thể hiện trong quan niệm
thứ nhất; việc hình thành nên ý thức pháp luật của con ngời đợc xem nh là
sản phẩm của quá trình giáo dục chính trị t tởng hay giáo dục đạo đức. Nếu

đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội.
Trong quá trình hoạt động thực tiễn, các nhà lý luận cũng đã thừa
nhận những yếu tố ảnh hởng của các điều kiện khách quan tác động đến sự
hình thành ý thức cá nhân của con ngời. Song các nhà lý luận khoa học s
phạm đã nhấn mạnh đến yếu tố tác động hàng đầu cực kỳ quan trọng và
thậm chí quyết định của nhân tố chủ quan trong giáo dục. Vì vậy khái niệm
giáo dục hiện nay chúng ta thờng đợc hiểu theo nghĩa hẹp.
Nh vậy quan niệm về giáo dục theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp nh trên
thì GDPL trớc hết cũng là một hoạt động mang đầy đủ những tính chất
chung của giáo dục nhng nó có những đặc điểm riêng biệt, phạm vi riêng cả
nội dung, hình thức và phơng pháp riêng biệt. Theo cả nghĩa rộng và nghĩa
hẹp của giáo dục, GDPL đợc hiểu một cách khái quát nhất: con ngời với t
cách là một thực thể xã hội là một khách thể (hay đối tợng) chịu ảnh hởng
và sự tác động của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để hình
thành lên ý thức tình cảm và hành vi pháp luật.
Thực tế hiện nay theo quan điểm chung của các nhà khoa học pháp
lý đều xuất phát từ nghĩa hẹp của giáo dục. Vận dụng khái niệm giáo dục
theo nghĩa hẹp, các nhà khoa học đã xây dựng khái niệm GDPL bởi các
yếu tố sau đây:
- Thứ nhất: Sự hình thành ý thức của con ngời là một quá trình chịu
ảnh hởng và sự tác động của các điều kiện khách quan lẫn các nhân tố chủ
quan. Các Mác viết: "Con ngời vốn là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục.
Và do đó con ngời đã biến đổi là sản phẩm của những hoàn cảnh khác và
của một nền giáo dục đã thay đổi" [37, tr. 10].
Khi nghiên cứu sự tác động ảnh hởng lên ý thức con ngời thì các
nhà lý luận giáo dục đã phân biệt điều kiện khách quan và chủ quan. Điều
kiện khách quan là những yếu tố ảnh hởng hình thành lên ý thức con ngời,
nhân tố chủ quan là nhân tố tác động có chủ đích, có định hớng, có nội
dung và phạm vi nhất định. Yếu tố ảnh hởng khách quan có thể tự phát, thụ
động, có thể tự phát theo chiều nay hay chiều khác không có chủ đích trớc.

phải luôn luôn là ngời gơng mẫu trong chấp hành pháp luật để đối tợng noi
gơng.
Hình thức và phơng pháp GDPL cần phải phù hợp với từng đối tợng.
Chủ thể phải lựa chọn cách thức, phơng pháp cho phù hợp để mang lại hiệu
quả cao trong GDPL. Hình thức có thể đơn giản, từ thấp đến cao hay trực
quan, trừu tợng cũng là yếu tố góp phần quyết định đến hiệu quả của
GDPL.
- Thứ ba: Quan niệm GDPL vận dụng từ nghĩa hẹp của giáo dục có
ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt 2 phạm trù: GDPL và phạm trù ý
thức pháp luật. Hai phạm trù này có mối quan hệ với nhau mật thiết nhng
không đồng nhất với nhau.
Hoạt động GDPL là sự tác động của nhân tố chủ quan mà trớc hết là
hoạt động có định hớng, có tổ chức, có chủ định về kế hoạch về nội dung,
chơng trình, còn sự hình thành ý thức pháp luật là sản phẩm, là kết quả của
các ảnh hởng của điều kiện khách quan là sự tác động của nhân tố chủ
quan, nhng nhân tố chủ quan này lại có vai trò chủ đạo và quyết định đến sự
hình thành ý thức pháp luật. Sự phân biệt này có ý nghĩa thực tiễn vô cùng
quan trọng trong điều kiện đổi mới ở nớc ta hiện nay. Trong xã hội ta
những yếu tố khách quan mang tính tiêu cực trong cơ chế thị trờng; đó là
tham ô, hối lộ, lối sống không lành mạnh đang tác động đến nhận thức,
tình cảm, lòng tin vào pháp luật,đi ngợc lại mục tiêu của một nền pháp chế
XHCN. Mặt tiêu cực đó, trong xã hội đòi hỏi chúng ta phải quan tâm hơn
đến nhân tố chủ quan nhằm tác động định hớng trong quá trình hình thành
nên ý thức pháp luật cho công dân. Trong điều kiện hiện nay ở nớc ta việc
trang bị tri thức pháp luật, bồi dỡng tình cảm và thói quen tuân theo pháp
luật của nhân dân lao động là trách nhiệm của các cơ quan nhà nớc, đặc biệt
là các cơ quan nhà nớc trực tiếp bảo vệ pháp luật, các cơ quan nhà nớc
khác, các tổ chức xã hội ở các cấp, các ngành trong đó trớc hết thuộc về
cơ quan có chức năng giáo dục đào tạo con ngời. Con ngời trong xã hội cần
phải đợc tổ chức đợc định hớng GDPL cho hoạt động của họ; nếu không sẽ

thành tâm lý, tình cảm và thái độ tôn trọng pháp luật, tin tởng vào pháp luật
và điều chỉnh hành vi xử sự của mình. Khi mà mọi thành viên trong xã hội
đã đạt đến một ý thức "Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật" thì
đó là mục đích cao nhất và đó là hệ quả của quá trình GDPL.
- Hai là: Hình thành tình cảm pháp lý và niềm tin nội tâm đối với
pháp luật. Việc nâng cao trình độ kiến thức pháp lý là mục đích đầu tiên vô
cùng quan trọng nhng bản thân nó cha phải là sự quyết định đến hành vi xử
sự hợp pháp. Nếu đã có kiến thức pháp luật, nhng trong mỗi con ngời cần
phải có tình cảm pháp lý, nghĩa là có thái độ tôn trọng pháp luật và tin tởng
vào sự công bằng của pháp luật từ đó mới tạo ra khả năng điều chỉnh hành
vi hợp pháp của mình. Thiếu tình cảm và niềm tin vào pháp luật thì mọi
hành động dễ bị chệch hớng khỏi chuẩn mực pháp lý vì những mục đích,
động cơ cá nhân. Thực tế cho thấy nếu một ngời có sự hiểu biết pháp luật,
có tình cảm và lòng tin vào pháp luật thì họ sẽ tin theo những quy định của
pháp luật. Tuy nhiên để có đợc tình cảm và lòng tin vào pháp luật thì cần
phải giáo dục tình cảm, lòng tin và sự công bằng, trách nhiệm, nghĩa vụ của
công dân, thái độ không khoan nhợng với kẻ thù. Tất cả những vấn đề đó sẽ
là cơ sở hình thành động cơ của hành vi hợp pháp.
- Ba là GDPL nhằm hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự
hợp pháp, tích cực.
Hành vi xử sự theo pháp luật của con ngời là kết quả của một quá
trình nhận thức pháp luật. trong quá trình nhận thức thì có nhiều yếu tố tác
động (chủ quan và khách quan) để hình thành nên hành vi và thói quen xử
sự theo pháp luật trong đó hoạt động GDPL là yếu tố cơ bản. Bởi lẽ thông
qua GDPL sẽ cung cấp tri thức pháp luật, lòng tin sâu sắc vào sự cần thiết
vào sự tuân theo một cách tự nguyện những quy định của pháp luật. Để đạt
đợc mục đích này trong quá trình GDPL phải lựa chọn nhiều hình thức, ph-
ơng pháp và thờng xuyên, liên tục để mọi công dân hiểu đợc sự cần thiết,
tính hợp lý của pháp luật vì lợi ích chung của xã hội. Thực tiễn hiện nay ở
nớc ta, mục đích này có quan hệ vô cùng to lớn khi mà đa số nhân dân lao

- Về đối tợng GDPL:
Vấn đề đối tợng của GDPL có quan hệ chặt chẽ với chủ thể, bởi lẻ
chủ thể khi tiến hành hoạt động GDPL thì phải xác định đối tợng là ai, cơ
quan, tổ chức hay cá nhân, công dân nào, trình độ tuổi tác. Trên cơ sở xác
định đúng đắn đối tợng cần GDPL thì chủ thể mới lựa chọn hình thức và
phơng pháp thích hợp. Chẳng hạn đối tợng là CBCC nhà nớc thì khi GDPL
phải khác với nhân dân các dân tộc ít ngời, có nh vậy mới mang lại hiệu quả
cao nhất trong tuyên truyền GDPL.
Đối tợng GDPL có thể là những cá nhân công dân, hay cơ quan tổ
chức hoặc một nhóm cộng đồng dân c trong xã hội đợc tiếp nhận tác động
của các hoạt động GDPL trực tiếp hoặc gián tiếp do chủ thể GDPL tiến
hành nhằm đạt đợc mục đích đặt ra.
Năm 1998 Thủ tớng Chính phủ đã ra Chỉ thị 02/1998/CT-TTg và
Quyết định 03/QĐ-TTg ngày 07/1/1998 về việc ban hành kế hoạch triển
khai công tác phổ biến GDPL. Căn cứ vào kế hoạch của Chính phủ thì đối
tợng GDPL bao gồm:
- CBCC nhà nớc:
Đối tợng này là CBCC Nhà nớc, họ đã đợc đào tạo bồi dỡng nên đã
có trình độ và khả năng nhận thức nhất định. Trong đối tợng này, vấn đề
GDPL phải chú ý hơn đến những ngời đang làm việc trong các cơ quan bảo
vệ pháp luật nh Tòa án, Viện kiểm sát, thanh tra Trong mối quan hệ này,
họ là đối tợng cần đợc GDPL, nhng mối quan hệ khác họ lại là chủ thể của
GDPL cho nhân dân lao động. Trong những năm gần đây đội ngũ CBCC
nhà nớc ta đã đợc Đảng và Nhà nớc quan tâm đào tạo, bồi dỡng về kiến
thức pháp luật. Tuy nhiên nhiều CBCC Nhà nớc do không đợc đào tạo cơ
bản nên kiến thức pháp luật còn chắp vá, thiếu hệ thống. Điều đó đã hạn
chế rất nhiều đến năng lực quản lý nhà nớc, khả năng giải quyết công việc
trong các cơ quan Nhà nớc. Vì vậy GDPL cho đối tợng là CBCC là vấn đề
vừa cấp bách vừa lâu dài, phải thờng xuyên, liên tục mới có thể đáp ứng đòi
hỏi của quá trình quản lý nhà nớc bằng pháp luật ở nớc ta.

kỷ luật, kỷ cơng và pháp luật không nghiêm" [15, tr. 25].
Nh vậy, GDPL là đòi hỏi từ nhu cầu thiết thân của các nhà kinh
doanh và yêu cầu quản lý kinh tế của nhà nớc. Có nh vậy mới giúp họ có
những kiến thức cơ bản về pháp luật liên quan đến lĩnh vực kinh doanh,
từng bớc tạo cho họ thói quen kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật, tránh
tình trạng phá rào, vi phạm pháp luật nh hiện nay.
- Các tầng lớp nhân dân lao động, đặc biệt là nhân dân các dân tộc
ít ngời, vùng sâu, vùng xa:
Đây là lực lợng đông đảo những ngời lao động, chiếm đa số trong
xã hội và lao động của họ đang tạo ra một khối lợng lớn giá trị vật chất cho
xã hội.
Tuy nhiên lực lợng đông nhất trong xã hội này lại ít có điều kiện đ-
ợc học tập, nghiên cứu và tìm hiểu pháp luật. Đặc biệt nhân dân các dân tộc
ít ngời ở vùng sâu, vùng xa miền núi nh Tây Nguyên, ý thức pháp luật còn
rất thấp. Chính vì vậy cần phải GDPL để họ nhận thức đợc trách nhiệm và
nghĩa vụ, quyền lợi của công dân đối với Nhà nớc và xã hội. Tại Đăk Lăk
cần phải chú ý đến vai trò của già làng trởng bản với t cách vừa là chủ thể
giáo dục vừa là đối tợng GDPL. Có thể nói Già làng, trởng bản là những
ngời rất có uy tín ở buôn thôn, những việc xích mích trong buôn làng với
nhau đều do Già làng, trởng bản tham gia giải quyết một cách có hiệu quả.
Già làng, trởng bản khi tham gia giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trong
nhân dân ở buôn làng thì với t cách là chủ thể của GDPL. Có thể nói các
già làng, trởng bản ở các buôn làng Tây Nguyên thờng chỉ dựa vào uy tín
tập quán, luật tục để chỉ dẫn và giải quyết công việc, còn kiến thức pháp
luật còn hạn chế. Do vị trí vai trò của già làng, trởng bản, nên họ cần phải
đợc bồi dỡng kiến thức pháp luật hơn ai hết ở cơ sở các cộng đồng dân c. Vì
vậy họ có vai trò "kép" vừa là chủ thể vừa là đối tợng của GDPL.
- Hiện nay tại Đăk Lăk có: 655 già làng và 627 trởng bản. Già làng
do dân bầu chọn, suy tôn, trởng bản (thôn) do bổ nhiệm.
Tại tỉnh Đăk Lăk đã mở nhiều lớp tập huấn về kiến thức pháp luật

- Phổ biến, giải thích các văn bản pháp luật hiện hành cho nhân dân
một cách kịp thời, đặc biệt là những văn bản liên quan trực tiếp thiết thân đến
quyền, lợi ích và nghĩa vụ pháp lý của công dân trên các lĩnh vực của đời
sống xã hội.
Nh đã đề cập ở trên, việc xác định nội dung giáo dục phải dựa trên
nhu cầu, điều kiện, đặc điểm của đối tợng đợc giáo dục mới có hiệu quả.
Trên phơng diện lý luận nói chung của GDPL do chủ thể GDPL quyết định.
Nội dung ấy phát sinh từ nhu cầu quản lý nhà nớc bằng pháp luật, từ yêu
cầu của việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu chính trị, kinh tế xã hội,
chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nớc. Trên thực tế, nội dung của
GDPL phù hợp hay không phù hợp còn phải căn cứ vào thực trạng ý thức
pháp luật của ngời dân, vào điều kiện, khả năng tiếp thu của họ để xác định
nội dung giáo dục từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, cộng nhiều nội
dung nhỏ để thực hiện nội dung phong phú đa dạng hơn, nhiều lĩnh vực
pháp luật hơn.
Đối với đồng bào các dân tộc ít ngời ở Đăk Lăk, ngoài những nội
dung GDPL nêu trên cần hớng dẫn nhân dân thực hiện các tập quán sinh
hoạt tốt đẹp, các luật tục còn phù hợp với pháp luật Nhà nớc. Đồng thời chỉ
ra cho nhân dân thấy đợc những hủ tục lạc hậu, những luật tục trái với lợi
ích cộng đồng và trái với pháp luật của Nhà nớc trong điều kiện đổi mới
hiện nay.
Hình thức, phơng pháp GDPL.
Đối tợng GDPL tiếp nhận đợc tri thức pháp luật và làm biến đổi
về chất trong nhận thức của họ thì bản thân mục đích và nội dung của
GDPL không thể tự nó đi vào nhận thức. Vấn đề là ở chỗ cần phải thông
qua các phơng thức truyền tải thông tin, các hình thức giao tiếp giữa chủ
thể giáo dục và đối tợng giáo dục bằng những hình thức và phơng pháp
khác nhau.
Nếu chủ thế giáo dục biết lựa chọn các hình thác và phơng pháp nào
phù hợp với đối tợng thì giáo dục sẽ mang lại hiệu quả cao. Nếu hình thức

xử sự theo pháp luật. Vấn đề đặt ra là chủ thể GDPL phải có sự lựa chọn ph-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status