Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Công Tiến
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khoá luận, ngoài sự cố gắng của bản thân, em
đã được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè. Trước tiên, em xin bày tỏ lời cảm
ơn chân thành nhất tới thầy giáo Nguyễn Công Tiến, người đã tận tình hướng
dẫn em hoàn thành khoá luận này.
Qua đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong trường Đại
học sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Giáo dục chính trị
đã giảng dạy, chỉ bảo em trong suốt thời gian qua và tạo điều kiện để em hoàn
thành khoá luận này.
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân,
nên khoá luận khó tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu, em
kính mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Nông Thị Lan
SVTH: Nông Thị Lan
1
Lớp: K33B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
1.2. Nguồn gốc hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công
tác cán bộ ................................................................................................... 17
1.3. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ .......... 21
Chương 2: Những giải pháp để hoàn thiện pháp luật cán bộ, công
chức ở Việt Nam hiện nay........................................................................ 28
2.1. Yêu cầu khách quan của những giải pháp để hoàn thiện pháp luật
cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay ..................................................... 28
2.2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để hoàn thiện pháp luật cán bộ,
công chức ở Việt Nam hiện nay ................................................................. 38
KẾT LUẬN............................................................................................... 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 52
SVTH: Nông Thị Lan
3
Lớp: K33B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Công Tiến
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đảng
cộng sản và Nhà nước Việt Nam xác định là: nền tảng tư tưởng và kim chỉ
nam cho mọi hành động của mình trong quá trình xây dựng và phát triển đất
nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản củạ cách mạng Việt Nam, trong đó có vấn đề cán bộ
GVHD: Nguyễn Công Tiến
theo đúng chức năng, tiêu chuẩn. Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lượng cán
bộ, công chức và kịp thời thay thế những cán bộ công chức yếu kém và thoái
hoá. Tăng cường cán bộ cho cơ sở. Có chế độ, chính sách đào tạo bồi dưỡng,
đãi ngộ đối với cán bộ xã, phường, thị trấn.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4/2006) đã
đưa ra giải pháp: “Đổi mới chính sách cán bộ và công tác quản lý cán bộ, xây
dựng chế độ công vụ rõ ràng, minh bạch, đội ngũ cán bộ công chức có đủ
phẩm chất và năng lực gắn với chế độ hưởng thụ thoả đáng và công bằng”
[12, 254 ]. Đặc biệt Bộ chính trị khoá IX đã có nghị quyết số 48 - NQ/TW
ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam đến năm 2010, định hương đến 2020: trong đó có chỉ ra: Xây dựng và
hoàn thiện pháp luật về tổ chức, cán bộ và hoạt động của các cơ quan hành
chính Nhà nước và ban hành luật công chức, công vụ; xác định rõ cơ quan,
công chức Nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Xây dựng
tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cho từng loại cán bộ, công chức và hệ thống
tiêu chuẩn đánh giá, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức.
Từ những cơ sở chính trị và pháp lý kể trên, đội ngũ cán bộ công chức
ở nước ta ngày càng phát triển vững mạnh, có năng lực, trình độ và phẩm chất
ngày càng được năng cao, đáp ứng yêu cầu cơ bản của sự nghiệp đổi mới đất
nước. Do đó, cần thiết phải nghiên cứu luận chứng để xây dựng ban hành tiến
tới hoàn thiện hơn pháp luật cán bộ, công chức, tạo cơ sở pháp lý vững chắc
cho việc hình thành đội ngũ cán bộ, công chức vừa có phẩm chất đạo đức, vừa
có trình độ năng lực, đảm bảo vừa hồng vừa chuyên, thực sự là công bộc của
nhâ dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân theo tư tưởng của Hồ Chí Minh.
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công
tác cán bộ và những giải pháp để hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức ở
Việt Nam hiện nay”.
Hồ Chí Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh trên lĩnh vực: Tư tưởng Hồ Chí Minh
về công tác cán bộ. Qua đó vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh đề ra những giải
pháp để hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở và phương pháp nghiên cứu của khoá luận
Cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, Đảng cộng sản Việt Nam về cán bộ và công tác cán bộ.
- Phương pháp cụ thể :
SVTH: Nông Thị Lan
6
Lớp: K33B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Công Tiến
+ Phương pháp logic
+ Phương pháp lịch sử
+ Kểt hợp logíc - lịch sử
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê …
5. Ý nghĩa của khoá luận
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
Góp phần làm sáng tỏ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán
bộ.
Góp phần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để hoàn thiện pháp luật cán
Người, các Nghị Quyết của Đảng ta đều giành sự quan tâm cho công tác cán
bộ. Nghị quyết Trung ương 3, khoá VIII của Đảng xác định, cán bộ là nhân tố
quyết định sự thành bại của Cách mạng; là khâu then chốt của công tác xây
dựng Đảng. Kinh nghiện thực tiễn chỉ rõ mức chính xác của đường lối và việc
cụ thể hoá đường lối chính xác, kịp thời cũng như việc thực hiện đường lối,
chính sách của Đảng thắng lợi đều tuỳ thuộc ở chất lượng đội ngũ cán bộ.
Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra mục
tiêu chung của công tác cán bộ là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh
chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham
nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn nghiệp
vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; có
tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức kỷ luật cao và phong cách làm việc
khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám
chịu trách nhiệm. Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển,
có số lượng và cơ cấu hợp lý” [12, 292].
SVTH: Nông Thị Lan
8
Lớp: K33B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Công Tiến
Bác Hồ nói nhiều về công tác cán bộ và dường như tư tưởng Hồ Chí
Minh về công tác cán bộ là tư tưởng lớn trong suốt cuộc đời vĩ đại của Người.
Sự vĩ đại của tư tưởng ấy là Bác nói và làm.
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Công Tiến
Từ những năm 1925 – 1927, Người đã mở các lớp huấn luyện cán bộ ở
Quảng Châu - Trung Quốc để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin cho những
thanh niên ưu tú trong nước ra học chính trị. Tác phẩm: “ĐƯỜNG CÁCH
MỆNH” do Bác viết là cuốn “Giáo khoa” đầu tiên để huấn luyện cán bộ. Tổ
chức thanh niên cách mạng đồng chí hội do Bác thành lập là những bước
chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức, và cán bộ cho việc thành lập Đảng cộng sản
Đông Dương (1930).
Trong những năm sau đó, Người luôn quan tâm đến công tác đào tạo để
tăng cường bổ xung cán bộ cho Đảng. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ VIII
vào tháng 5/1941, Người nhấn mạnh: Việc đào tạo cán bộ nay đã trở thành
vấn đề gấp rút… các cấp chỉ huy Đảng phải chú ý đặc biệt tới công tác này,
triển khai Nghị Quyết, nhiều lớp huấn luyện cán bộ được mở ra.
Sau cách mạng tháng 8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác và Trung
ương, công tác đào tạo huấn luyện cán bộ được đẩy mạnh hơn, liên tục mở
các lớp đào tạo, huấn luyện như: lớp Nguyễn Aí Quốc (1946); lớp Tô Hiệu
(1947); lớp Trần Phú (1948) và lớp tại chức để huấn luyện đường lối kháng
chiến kiến quốc.
Nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả huấn luyện cán bộ,
thang 10 năm 1947, Bác Hồ viết cuốn “Sửa đổi lối làm việc” với bút danh
XYZ. Sách xuất bản lần đầu vào năm 1948 xuất bản lần thứ 7 vào năm 1959,
cuốn sách này trở thành một tài liệu quý cho tất cả các khoá huấn luyện cán
bộ ở trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, có thể nói “Sửa đổi lối làm việc” là
cuốn sách “Gối đầu gường” của cán bộ, vì đây là tác phẩm mà nội dung của
nó chứa đựng những lời chỉ huấn cơ bản thiết thực đối với mỗi cán bộ lãnh
đạo trước đây, cũng như hiện nay. Cuốn sách lại trình bày một cách ngắn gọn,
làm vườn vun trồng những cây cối quý báu” [15, 30] và chỉ rõ “Không phải
vài ba tháng hoặc vài ba năm mà đào tạo được một cán bộ tốt. Cần phải công
tác đấu tranh, huấn luyện lâu năm mới được” [15,30 ] công tác đào tạo phải
được tiếp tục trong quá trình sử dụng cán bộ.
Đào tạo cán bộ bao gồm “nuôi dạy”, huấn luyện, bồi dưỡng. Trong việc
huấn luyện cán bộ. Hồ Chí Minh yêu cầu phải xác định rõ: Huấn luyện ai? Ai
huấn luyện? Huấn luyện gì? Huấn luyện thế nào? Tài liệu huấn luyện phải ra
sao?. Vấn đề bao trùm là xác định và thực hiện cho được mục đích của huấn
luyện để làm gì?
SVTH: Nông Thị Lan
11
Lớp: K33B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Công Tiến
Trong công tác huấn luyện phải có hiệu quả. Hồ Chí Minh đã quán triệt
sâu sắc quan điểm, người cán bộ phải được huấn luyện về mọi mặt phải giỏi
về chuyên môn nghiệp vụ, và phải thực hành khẩu hiệu: làm việc gì học việc
ấy, cán bộ ở môn nào, nghề nào, ngành nào phải được học và thành thạo ở
môn ấy, đấy là yếu tố quan trọng để hình thành “tài năng”, đồng thời phải
được huấn luyện về bản lĩnh chính trị, về phẩm chất đạo đức về văn hoá, và
cả về lý luận, đó là những yêu cầu cơ bản trong việc huấn luyện cán bộ. Trong
đó, Người chỉ rõ việc huấn luyện chớ để chạy theo số lượng mà không coi
trong chất lượng.
phạm phải những chứng bệnh sau này:
1. Tự cao tự đại
2. Ưa người ta nịnh mình
3. Do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người
4. Đem một cái khuôn khổ nhất định chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi
người khác nhau
Phạm một trong bốn chứng bệnh đó thì cũng như: mắt đã mang kính có
màu ,không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông…phải sửa
chữa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem
xét cán bộ càng đúng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn chúng ta khi nhìn nhận, đánh giá cán bộ
phải tránh định kiến, hẹp hòi, chỉ thấy cây mà không thấy rừng, chỉ thấy
khuyết điểm mà không nhìn thấy ưu điểm. Vì người đời ai cũng có chỗ tốt và
chỗ xấu. Đánh giá “xem xét cán bộ không chỉ xem người ngoài mặt mà xem
tính chất của họ. Không chỉ xem xét một công việc, một lúc mà phải xem xét
toàn cả lịch sử, toàn cả công việc của họ” [21, 4]. Chẳng những phải xem xét
công tác của họ mà còn phải xem cả cách sinh hoạt của họ. Chẳng những xem
xét cách viết, cách nói của họ còn phải xem xét việc làm của họ có đúng với
lời nói, bài viết của họ hay không. Chẳng những phải xem xét ta như thế nào
mà còn phải xem xét họ đối với người khác thế nào.
Hồ Chí Minh thường nhắc nhở các đồng chí cán bộ lãnh đạo phải gần
gũi với mọi người, phải sáng suốt đừng để bọn vu vơ bao vây mà xa cách cán
bộ tốt. Phải tỉnh táo phân biệt đúng - sai - thật - giả, phân biệt những người
thẳng thắn, trung thực với kẻ cơ hội, nịnh bợ. Nếu không làm được như vậy
đã tạo ra kẽ hở cho kẻ xấu luồn lách, phá hoại ngay từ bên trong bộ máy của
ta.
SVTH: Nông Thị Lan
13
không? nghĩa là phải xem xét uy tín cán bộ đối với quần chúng đến mức độ
nào phải xem người ấy xứng đáng với việc gì. Nếu có người tài mà không
dùng đúng tài của họ, cũng như dùng không đúng việc, nếu cân nhắc không
cẩn thận không khỏi đem người chỉ nói mà không làm vào những địa vị lãnh
đạo, như thế rất có sự phê phán thường chúng ta không biết tuỳ tài mà dùng
SVTH: Nông Thị Lan
14
Lớp: K33B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Công Tiến
người. Người đã chỉ ra tác dụng của việc bố trí sử dụng đúng người, đúng
việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: khéo dùng cán bộ, dùng đúng cán bộ
là trách nhiệm của các cấp lãnh đạo, bởi vì không đánh giá, sử dụng đúng cán
bộ sẽ dẫn đến sử dùng phí nhân tài là sự lãng phí lớn của đất nước: “Lãnh đạo
khéo thì tài nhỏ hoá ra tài to, lãnh đạo không khéo thì tài nhỏ” [19, 21].
Khéo dùng cán bộ, Hồ Chí Minh cũng đưa ra cảnh báo những biểu hiện
tiêu cực trong việc sử dụng cán bộ và cần phải được khắc phục :
1. Ham dùng người bà con, anh em quen biết bầu bạn, cho họ là chắc
chắn hơn người ngoài.
2. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người
chính trực.
3. Ham dùng người hợp tính tình với mình, mà trách những người tính
tình không hợp với mình.
mới đem ra “đập”, làm cho cán bộ bị xử lý sẽ mất tự tin, sinh ra nản chí, từ
nản chí thành ra vô dụng. Phê bình cán bộ phải bằng thái độ chân thành, giúp
họ nhận ra sai lầm để vui lòng sửa chữa, chứ không nên công kích, cưỡng bức
sửa chữa. Phải tuỳ mức độ nặng nhẹ của sai lầm mà sử phạt cho đúng, hợp lý
hợp tình.
Cuối cùng, kiểm tra, giúp đỡ và phê bình cán bộ có nghĩa là phải đồng
nhất yêu thương cán bộ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ để đào tạo được một cán bộ tốt phải mất
một thời gian dài, nhưng trong lúc tranh đấu, lại để mất cán bộ tốt phải mật
thiết yêu thương cán bộ. Đảng phải thương yêu cán bộ, nhưng thương không
phải là vỗ về, nuông chiều, phó mặc, mà thương yêu là giúp đỡ họ học tập
thêm, tiến bộ thêm, là kẻ thấy khuyết điểm phải giúp họ sửa chữa ngay để vun
trồng cái thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ.
Thứ tư, sử dụng cán bộ còn đòi hỏi phải biết kết hợp các thế hệ cán bộ
một cách đúng đắn.
Trong đội ngũ cán bộ có các lớp già, trẻ, lớp cũ, lớp mới. Việc kết hợp
các thế hệ cán bộ, giữa cán bộ già có quá trình cống hiến, đóng góp với lớp
cán bộ trẻ được Hồ Chí Minh rất quan tâm và giải quyết đúng đắn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc kết hợp đúng đắn cán bộ cũ,
cán bộ già với cán bộ mới và cán bộ trẻ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán
bộ nữ. Người nói, Đảng phải khéo kết hợp cán bộ già với cán bộ trẻ không
nên coi thường cán bộ trẻ, còn cán bộ trẻ thì không được kiêu ngạo, phải
khiêm tốn học hỏi đồng chí cán bộ già có kinh nghiệm.
SVTH: Nông Thị Lan
16
Lớp: K33B - GDCD
bài nói của Người về công tác cán bộ, trong quá trình tiến hành cách mạng
dân tộc, dân chủ nhân dân, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
SVTH: Nông Thị Lan
17
Lớp: K33B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Công Tiến
Đạo đức ở đây được Người xác định nó là đạo đức cách mạng, mà đã nói đến
cách mạng tức là biến cái cũ thành cái mới, sáng tạo. Vì vậy, đạo đức cách
mạng bao gồm yếu tố tài năng bên trong.
Ba là, xây dựng tư cách, nhân cách tác phong của người cán bộ. Với
Hồ Chí Minh tư cách là sự thể hiện đối xử có văn hoá của người cán bộ với
nhân dân, với đồng nghiệp, đồng chí của mình; tư cách của Người là sự đúng
đắn của người cán bộ đó. Nhân cách chính là tư cách của con người và của
người cán bộ.
Tác phong là sự thể hiện ở cách làm việc và ngăn nắp trong sinh hoạt
hàng ngày, hàng giờ và phẩm chất cônng tác của người cán bộ. Người cho
rằng, một người cán bộ mà có tư cách, nhân cách, tác phong là người cán bộ
tốt. Toàn bộ tư cách, nhân cách, tác phong theo tư tưởng Hồ Chí Minh về cán
bộ là gói trong hai chữ: trung thực với chính mình, gia đình mình, những
người thân với đồng nghiệp, đồng chí của mình.
Hồ Chí Minh chỉ rõ cán bộ phải xuất đời phấn đấu hi sinh cho lý tưởng
của Đảng, người cán bộ phải có một đời tư trong sáng, phải là một tấm gương
quan sát phải chân đi, miệng nói, tay làm không như thế thì đầy túi quần
thông cáo, đầy túi áo công văn nhưng công việc không chạy.
Hồ Chí Minh đã nêu lên những vấn đề lý luận cơ bản nhất về quy luật
của Đảng là thường xuyên đổi mới, tự chỉnh đốn bản thân mình. Điều này
đúng như điều tất yếu mà Hồ Chí Minh đã nêu: Đảng ta không phải trên trời
sa xuống, nó ở trong xã hội mà ra, do đó Đảng phải thường xuyên tự đổi mới.
Riêng về phong cách công tác của cán bộ Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới các
vấn đề chủ yếu: sửa chữa cách lãnh đạo về công tác cán bộ biết chọn trình tự
ưu tiên công việc; thường xuyên tổng kết công tác phải luôn có sáng kiến sâu
sát, gần gũi nhân dân, có tinh thần phụ trách trước dân; phải kiểm tra kiểm
soát chặt chẽ; có lãnh đạo chung nhưng có chỉ đạo điểm.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ có ý nghĩa thực
tiễn sâu sắc. Đó là những quan niệm chỉ đạo chung và công tác đổi mới, hoàn
thiện pháp luật cán bộ là một trong những nhiệm vụ cần kíp, vì cán bộ luôn là
những người đứng đầu là gốc của mọi công việc, chính vì lẽ đó mà Hồ Chí
Minh rất quan tâm tới đặc điểm của cán bộ, và công tác cán bộ.
SVTH: Nông Thị Lan
19
Lớp: K33B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Công Tiến
1.2. Nguồn gốc hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác
cán bộ
Lớp: K33B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Công Tiến
đạo, bị quản lý” [16, 29]. Trong quá trình đó tất yếu xuất hiện một hình thức
đặc thù của quan hệ xã hội đó là quan hệ giữa lãnh đạo và phục tùng. Hình
thức của mối quan hệ này có thể được duy trì và phát triển tốt trong điều kiện
người lãnh đạo có uy tín. Uy tín của người lãnh đạo được hiểu như sau: đó là
sự kết hợp giữa quyền lực và sự ảnh hưởng của người đó đến người khác,
được người khác tôn trọng và kính phục, hay uy tín là sự kế thừa chung có ý
nghĩa xã hội với quyền uy và ảnh hưởng của một cá nhân, một nhóm hay một
thiết chế xã hội nào đó trong một lĩnh vực nhất định của xã hội.
C.Mác và Ph.Ăngghen không nói nhiều tới uy tín của người lãnh đạo,
người cán bộ nhưng lại nói nhiều tới quyền uy. Song quyền uy theo quan
điểm của hai ông nó bao hàm, chứa đựng cả vấn đề uy tín trong đó. Bởi theo
Ăngghen: Quyền uy nói ở đây là có nghĩa chỉ ý chí của người khác mà người
ta buộc phải tiếp thu; mặt khác quyền uy lấy sự phục tùng làm tiền đề, sự
phục tùng của quần chúng của người lãnh đạo không phải được xây dụng trên
cơ sở nhũng tiêu chí của sự trừng phạt làm sợ hãi hay đồng thuận giữa chủ thể
và khách thể.
Quyền uy thực sự của người lãnh đạo giữ vai trò hết sức quan trọng.
Đôi khi nó giữ vai trò quyết định cho sự tôn trọng của một tổ chức, một tập
thể, Ph.Ăngghen viết: “Trên một chiếc tàu đi giữ biển cả thì càng thấy rõ hơn
hết là cần phải có quyền uy, hơn nữa phải có quyền uy độc nhất. Trên tàu lúc
gặp nguy hiểm thì sinh mệnh của mọi người phụ thuộc vào sự phục tùng tức
khắc không điều kiện của tất cả mọi người vào ý chí một người” [17, 30]
Quyền uy của những người cộng sản theo quan điểm của những nhà
của từng cán bộ, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải tìm cho được những
người có đủ năng lực phẩm chất để đảm đương các cương vị cán bộ lãnh đạo
chủ chốt. Sự lựa chọn cán bộ thực sự khách quan và dân chủ, đây là vấn đề
hết sức khó khăn nhưng không thể không kiên trì.
Trong quần chúng cách mạng có nhiều người có tài và có “cái tâm”
trong sáng. Vấn đề là phải biết phát hiện bồi dưỡng, đào tạo sử dụng như thế
nào là trách nhiệm và nghệ thuật của Đảng cầm quyền, muốn có phong trào
quần chúng , cần phải biết bồi dưỡng thế hệ cán bộ mới để họ có đủ các điều
kiện kế cân xứng đáng với truyền thống cách mạng của các thế hệ đi trước,
các thế hệ đi trước phải coi đây là trọng trách của lịch sử giao phó, trước sự
đòi hỏi của lịch sử nếu không họ sẽ có tội là đã cản trở bước tiến của lịch sử.
Qua đó, Lênin đã nêu ra một số luận điểm chủ yếu về cán bộ lãnh đạo
và công tác cán bộ.
SVTH: Nông Thị Lan
22
Lớp: K33B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Công Tiến
Trước hết, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là công việc của toàn
dân, tiến hành trên quy mô rộng lớn, đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ đóng
vai trò tổ chức các quá trình thực tiễn một cách có hiệu quả.
Thứ hai, cách mạng phải đào tạo một đôi ngũ cán bộ đủ sức gánh vác
nhiệm vụ lịch sử mới, chính quyền cách mạng có thể và cần sử dụng các
GVHD: Nguyễn Công Tiến
1.3. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác
cán bộ
Hồ Chí Minh là một trong những người luôn coi trọng đến việc xây
dựng đội ngũ cán bộ có đủ sức mạnh để hoàn thành sự nghiệp vẻ vang của
Đảng. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ có ý nghĩa to
lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam
Người không chỉ dừng lại ở những bài nói, bài viết, những chỉ thị Nghị
quyết về cán bộ mà còn trực tiếp mở các lớp đào tạo huấn luyện cán bộ đích
thân Người tham gia giảng dạy, chỉ dẫn công việc, giáo dục hướng dẫn cán bộ
trong thực tiễn công tác.
Về vị trí công tác của cán bộ, Hồ Chí Minh cho rằng cán bộ “là dây
chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt,
toàn bộ máy cũng bị tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của
Đảng, của chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân. Nếu cán bộ dở
thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” [14, 54]. Đồng thời cán bộ
là người đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ hiểu
rõ để đặt chính sách cho đúng. Hồ Chí Minh coi: cán bộ là cái gốc của mọi
công việc. Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém, cán
bộ là tiền vốn của đoàn thể có vốn mới làm ra lãi. Không có cán bộ tốt thì
hỏng việc tức là lỗ vốn. Như vậy, cán bộ có vị trí chủ thể của sự nghiệp cách
mạng nước ta do Đảng lãnh đạo. Vị trí lãnh đạo, vị trí chủ thể của cán bộ là
do Đảng, Nhà nước, đoàn thể phân công và quyền lực của cán bộ cũng như
nhiệm vụ của người cán bộ là do nhân dân giao cho.
Quan điểm của Hồ Chí Minh khác với một số lãnh tụ đương thời trong
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Một số người lúc đó thường nói
“cán bộ quyết định tất cả”. Luận điểm khái quát nhất của Hồ Chí Minh về vị
đề là chất lượng cán bộ từ đó mới khẳng định được một điều : “muôn việc
thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [1, 23], Hồ Chí Minh đòi
hỏi người cán bộ tốt, nếu có cán bộ tốt thì thành công , còn nếu không có cán
bộ tốt thì hỏng việc, tức là thất bại. Vì vậy khi nào nơi nào làm tốt công tác
cán bộ thì khi đó, nơi đó cách mạng sẽ có nhiều thuận lợi và giành được nhiều
thắng lợi và ngược lại. Với quan điểm đó, Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng
đến công tác cán bộ, từ đánh giá lựa chọn huấn luyện thử thách rèn luyện, sử
dụng, đãi ngộ cán bộ.
SVTH: Nông Thị Lan
25
Lớp: K33B - GDCD