Tư tưởng Hồ Chí minh về công tác dân vận - Pdf 36

Mở đầu
Công tác dân vận là một trong những công tác cơ bản của Đảng cộng sản
Việt Nam,nó còn là phương pháp cơ bản trong phương pháp cách mạng ,
động tác cơ bản của mỗi cán bộ cách mạng .Nó gắn liền với từng bước trưởng
thành của Đảng ,trở thành một truyền thống tốt đẹp và là nguồn sức mạnh
của Đảng .Có được như vậy vì Đảng ta luôn trung thành với chủ nghĩa MacLênin ,được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp xây dựng và rèn luyện ,lấy chủ
nghĩa Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ
nam cho mọi hoạt động .
Từ trước khi thành lập Đảng , các tổ chức tiền thân của Đảng và những
nhà hoạt động cách mạng đã sớm dặt ra nhiệm vụ dân vận - vận động , tuyên
truyền giác ngộ tổ chức nhân dân đấu tranh chống áp bức ,bóc lột của đế quốc
phong kiến , giành độc lập tự do cho dân tộc .Từ khi có Đảng công tác dân
vận gắn liền với quá trình lãnh đạo của Đảng : từ nuôi giấu cán bộ đến vận
động xây dựng lực lượng chính trị ,vũ trang ,giành và xây dựng chính
quyền ,đến sự nghiệp đổi mới ngày nay đều bắt đầu từ dân vận và dân thực
hiện.
Công tác dân vận của Đảng quả là một vấn đề có tầm chiến lược cách
mạng,một bí quyết của đảng để giành thắng lợi trong đấu tranh ,trong xây
dựng và bảo vệ tổ quốc .
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận đã soi đường cho Đảng ta,cho Đảng
viên ,cán bộ trong hệ thống chính trị của chúng ta.Thấm nhuần tư tưởng của
Người trong quá trình hoạch định ,xây dựng và tổ chức thực hiện chủ trương,
đường lối của Đảng ,pháp luật ,chính sách của nhà nước,xác định nội dung và
phương thức vận động quần chúng của mặt trận và các đoàn thể nhân dân hệ
thống chính trị của chúng ta đã vận dụng ,đưa những chỉ dẫn về dân vận của
Người vào thực tiễn hoạt động của nhiều lĩnh vực trong các giai đoạn cách

1


mạng,biến những tư tưởng của Người thành những phong trào thi đua yêu

2- Nguồn gốc hình thành :
2.1. Bối cảnh tình hình thế giới ,trong nước từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX.
3


2.1.1 Thế giới:
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Chủ nghĩa tư bản đã phát triển
thành Chủ nghĩa đế quốc,hình thành nên một bộ phận ăn bám các thuộc
địa mà Hồ Chí Minh gọi là Chủ nghĩa thực dân .Đội quân ăn bám ấy của
Chủ nghĩa đế quốc đã trực tiếp bóc lột giai cấp vô sản và nhân dân lao
động ở chính quốc và các nước thuộc địa ,làm gay gắt thêm các mâu thuẫn
thế giới trong đó có mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với Chủ nghĩa tư
bản đế quốc .
Sau thắng lợi của CMT10 Nga , sự ra đời của Liên bang Xô Viết và
Quốc tế cộng sản , cách mạng giải phóng dân tộc bước vào cuộc khủng
hoảng lý luận . Đại hội lần VI của Quốc tế công sản bước vào “Tả
khuynh ,bè phái” .
2.1.2 .Trong nước:
Vào năm 1884 ,Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập đã bị
Chủ nghĩa tư bản Pháp xâm lược và thống trị trở thành một nước thuộc
địa nửa phong kiến.
Dưới sự thống trị hà khắc của thực dân Pháp .Nhân dân Việt Nam
không có tự do. Vì vậy nhân dân ta không ngừng chống lại chúng,
nhưng những kinh nghiệm chống ngoại xâm trong lịch sử không còn
phát huy tác dụng .
Sau thất bại của phong trào Cần Vương-Văn Thân đất nước lâm vào
cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước .Cả dân tộc chìm đắm trong
đêm dài nô lệ tưởng chừng như chưa có đường ra.


Tổng hợp kinh nghiệm vận động quần chúng của phong trào công nhân
và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước trên thế giới từ Châu Á, Châu
Phi, Mỹ La Tinh trong những năm người hoạt động ở nước ngoài.
2.2.2. Nhân tố chủ quan
Khi ra đi tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh mang theo mình truyền
thống yêu nước và thương dân của dân tộc và gia đình ,Người còn mang cả
nỗi đau người nô lệ mất nước chưa được thức tỉnh .
Và Nguyễn Ái Quốc đã kêu gọi : “Hỡi Đông Dương đáng thương hại
! Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi
sinh”.
Đồng thời Người càng tự thấy trách nhiệm nặng nề mà lịch sử giao phó
đó là:
“ …Trở về nước,đi vào quần chúng ,thức tỉnh họ,tổ chức họ ,đưa họ ra
đấu tranh giành tự do độc lập”.
3- Quá trình phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận là một bộ phận của hệ thống chiến
lược đoàn kết,đại đoàn kết của Người nhằm thức tỉnh,giáo dục,tố chức
nhân dân đi tới giải phóng dân tộc,giải phóng giai cấp, giải phóng con
người,giải phóng nhân loại. Tư tưởng dân vận của Người được hình thành
và phát triển hoàn thiện gắn với kỳ công của Người trong việc vận động
cách mạng mấy chục năm qua ,gắn với quá trình phát triển ,thắng lợi của
cách mạng Việt Nam và quá trình lớn mạnh của Đảng và nhà nước ta .
3.1. Từ năm 1905 đến năm 1920 :

6


Tham gia hoạt động yêu nước và hình thành tư tưởng yêu nước và tư
tưởng dân vận.
Đây là thời kỳ Nguyễn Sinh Cung tiếp nhận truyền thống yêu nước của

lạc.
3.2.Từ năm 1920 đến năm 1930:
Giai đoạn hình thành cơ bản tư tưởng về con đường cách mạng vô
sản và tư tưởng dân vận.
Đây là thời kì hoạt động thực tiễn chuẩn bị về lý luận , tư tưởng và tổ
chức cực kì sôi nổi và phong phú của HCM nhằm tiến tới thành lập chính
Đảng vô sản ở Việt Nam.Người tham gia thành lập chính đảng vô sản ở
Việt nam .Người tham gia sáng lập “Hội liên hiệp thuộc địa” trong đó có
“Hội những người Việt Nam yêu nước ở Pháp” làm nòng cốt,hoạt động
tích cực trong ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng công sản pháp ,xuất bản
sách,xuất bản báo Le Paria nhằm tuyên truyền chủ nghĩa Mac –Lênin và
tư tưởng cứu nước của mình về Việt Nam và các nước thuộc địa.
Tư tưởng dân vận của HCM ở thời kì này là định hướng cách mạng
thuộc địa “ Giải phóng dân tộc bằng con đường CMVS ”.Đánh giá sức
mạnh của nhân dân thuộc địa Người viết :
“Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức
tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một vài tên thực dân lòng tham vô đáy
,họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ và trong khi thủ tiêu những điều
kiện tồn tại của CNTB và CNĐQ họ có thể sẽ đỡ như anh em mình ở
phương Tây nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn …”,trình bày cho nhân dân
các dân tộc bị áp bức rõ rằng chủ nghĩa cộng sản thích nghi với châu Á và
Đông Dương hơn là các nước châu Âu ,làm cho nhân dân các nước thuộc
địa thức tỉnh và tin vào sự thắng lợi của cách mạng thuộc địa trước cách
mạng vô sản chính quốc…. Bởi vì theo Người “ Chủ nghĩa đế quốc hiện
đại đặt nền móng trên sự bóc lột hàng triệu người lao động ở các nước

8


thuộc địa và nửa thuộc địa bởi thế nó chỉ tan rã và hoàn toàn vĩnh viễn khi

quyền không phải là nhiệm vụ riêng của Đảng như thời Đảng hoạt động bí
mật.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, khi chính quyền đã về tay nhân dân , nước
ta là nước dân chủ thì tất cả cán bộ chính quyền đoàn thể ,tất cả cán bộ hội
viên của tổ chức quần chúng nhân dân đều phải phụ trách dân vận. Người
cũng chỉ rõ những thiếu sót về dân vận nhất là nhiều nơi xem khinh việc
dân vận .Người coi đó là sai lầm rất to rất có hại .
Người nhắc nhở toàn Đảng,toàn quân ,toàn dân:
“ Dân vận kém thì việc gì cũng kém
Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”
Từ sau bài Dân vận của Bác toàn Đảng, toàn quân,toàn dân chú tâm
vào công tác dân vận ,động viên nhân dân thi đua ái quốc giết giặc lập
công ,tăng gia sản xuất nhằm mục tiêu là : Làm cho người nghèo hết
nghèo,người khá thì khá giàu,người giàu thì càng giàu thêm ,để không
ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân.
Tư tưởng dân vận của Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dưa cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp đến thắng lợi ,đang cổ vũ nhân dân giành thắng lợi
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Nếu như trong quá trình phát triển tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh
từ vận động nhân dân giành và giữ chính quyền,kháng chiến và kiến quốc
với mục tiêu làm cho đời sống vật chất của nhân dân không ngừng nâng
cao và kháng chiến thắng lợi thì sau khi đất nước đã được thanh bình , Chủ
tịch Hồ chí Minh chỉ cho Đảng ta thấy rõ công tác dân vận mà việc làm
đầu tiên là lo cho con người.
Từ rất sớm Hồ chí Minh hiểu sâu sắc và tin tưởng vào sức mạnh của
nhân dân được thức tỉnh và được tổ chức là vô địch . Vì lợi ích con người
Hồ Chí Minh đã suốt đời để công sức vào công tác dân vận ,ra sức truyền

10


2- Việc dân vận rất quan trọng
Để giải đáp câu hỏi : “ Vì sao phải làm công tác dân vận ? ” ngay trong
cuốn Đường cách mệnh (1927) Bác Hồ đã khẳng định: Cách mệnh là việc
chung của cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người ,đó là một tư
tưởng lớn của Hồ Chí Minh xuất phát từ cơ sở nhận thức khoa học : cách
mạng là sự nghiệp của nhân dân ,vấn đề cơ bản củ mọi cuộc cách mạng là vấn
đề đoàn kết tập hợp được đông đảo nhân dân ,Đảng dù vĩ đại đến mấy cũng
chỉ là một bộ phận của nhân dân .
Người nêu lên một luận đề như một chân lý :
“ Dân vận kém thì việc gì cũng kém
Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”
Về công tác dân vận là gì ,Bác Hồ đã nêu lên một định nghĩa kinh điển
mà chúng ta đều biết .Cũng như bài báo Dân vận viết năm 1949 ,Bác Hồ
đã phê phán khuyết điểm to “Ở nhiều nơi là xem khinh dân vận” Sự phê
phán này đến nay vẫn còn nguyên giá trị .
3-Ba tư tưởng cơ bản chỉ đạo công tác dân vận.
3.1 Tất cả vì lợi ích của nhân dân.
Bác Hồ thường dạy chúng ta ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động .Đảng ta không còn lợi ich nào khác.Việc gì có lợi cho dân phải
hết sức làm ,việc gì có hại phải hết sức tránh .Đó cũng là mục ddichs của

12


HCM : “Cả cuộc đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của
Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân”.
3.2.Dân chủ là tư tưởng cơ bản xuyên suốt công tác dân vận .
Dân chủ nằm trong kiến trúc thượng tầng ,thuộc phạm trù chính trị, gắn
liền với Nhà nước,là dòng song trong lịch sử soi bóng các công trình vĩ đại ,là
giá trị chung của nhân loại .Nó có tính lịch sử, tính giai cấp và tính thời đại

triển.
4. Phương thức cơ bản của công tác dân vận : “Dân biết ,dân bàn ,dân
làm, dân kiểm tra”
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc dân là chủ ,phương thức cơ bản của công
tác dân vận là phương pháp dân chủ chứ không phải là những thủ thuật chính
trị .Sinh thời Bác Hồ không nói là “Dân biết, dân bàn ,dân làm ,dân kiểm tra”
nhưng cách nói của Bác trong bài Dân vận (15-10-1949) cũng chính là như
vậy .
“Dân vận không thể chỉ dùng báo chương ,sao mittinh ,khẩu hiệu ,truyền
đơn chỉ thị là đủ.
Trước hết phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu
rằng : Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ ,họ phải hăng hái làm
cho kỳ được .
Điểm thứ hai là bất cứ việc gì đều phải bàn vạc với dân ,hỏi ý kiến dân
và học hỏi kinh nghiệm của dân,,cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với
hoàn cảnh địa phương ,rồi động viên vsf tổ chức toàn dân ra thi hành .
Trong lúc thi hành phải theo dõi ,giúp đỡ,đôn đốc dân.

14


Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc ,rút kinh
nghiệm phê bình và khen thưởng.”
Bên cạnh phương thức cơ bản này ,Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh 3
điểm :
Một là ,Cán bộ Đảng viên phải tự mình làm gương cho quần chúng .Với
đặc điểm tâm lý của người phương Đông ,người Việt Nam ,việc nêu gương có
một tác dụng to lớn .Cán bộ Đảng viên phải tự mình làm gương cũng chính là
yêu cầu đầu tiên của phong cách Lêninnit : “Lời nói đi đôi với việc làm”.Năm
1953 ,Bác đã từng phê phán :Cán bộ khu ,tỉnh,huyện ,xã xui dân xung phong

kiện làm công tác dân vận thuận lợi hơn .
Mặt trận và đoàn thể nhân dân phải làm công tác dân vận là điều đương
nhiên .Song có một điều rất quan trọng cấn nắm vững tư tưởng HCM về
những tổ chức này: “Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân ,phấn đấu cho
dân ,bênh vực quyền lợi của dân,lien lạc mật thiết với chính phủ .”
Như vậy ,Mặt trận đoàn thể là của dân ;Đảng giúp cho dân tổ chức ra
chứ không phải là tổ chức của Đảng ,của chính quyền .Chức năng lớn nhất
của mặt trận đoàn thể là phấn đấu cho dân bênh vực quyền lơi của dân,liên lạc
mật thiêt giữa nhân dân với chính phủ .
Đảng phải lãnh đạo tốt công tác dân vận ,đồng thời cũng trực tiếp làm
công tác dân vận thông qua tổ chức Đảng và cá nhân Đảng viên .
6-Phong cách làm việc của cán bộ dân vận .

16


Vấn đề tác phong hay phong cách (tác phong và tư cách ) của người cán
bộ cách mạng cán bộ dân vận có ý nghĩa rất quan trọng .Về phong cách làm
việc của cán bộ dân vận ,Bác Hồ có nhiều cách nói khác nhau,ở những ngữ
cảnh khác nhau nhưng tập trung nhất là ở trong bài báo dân vận (15-101949),Người đúc kết thành 12 từ:
“Óc nghĩ ,mắt trông ,tai nghe,chân đi, miệng nói, tay làm.”
Đặt “Óc nghĩ” lên hàng đầu ,Bác Hồ muốn khẳng định công tác dân vận
không chỉ là những thao tác cụ thể ,những công thức có sẵn mà bản than nó
làm một khoa học - khoa học về con người ,một nghệ thuật- nghệ thuật tiếp
cận và vận động con người ,phải dày công tìm tòi suy nghĩ để phân tích chính
xác tình hình nhân dân ,vận dụng sang tạo lý luận vào thực tiễn sinh động để
vận động nhân dân có hiệu quả .
“Mắt trông ,tai nghe ,chân đi”là yêu cầu sát cơ sở, sát thực tế đến với
nhân dân để nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân mà giúp dân giải quyết
các vấn đề cụ thể ,đề xuất chính sách hoặc điều chỉnh chính sách cho phù

1.1 Tình hình thế giới và trong nước.
1.1.1- Trên thế giới và khu vực:
Hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế của thế giới. Kinh tế thế giới
và khu vực tiếp tục phục hồi và phát triển nhưng vẫn tiềm ẩn yếu tố bất trắc
khó lường. Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, tạo ra cơ hội phát
triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách
thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển. Cạnh tranh kinh
tế, thương mại, giành giật các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường,
nguồn vốn, công nghệ giữa các nước ngày càng gay gắt. Khoa học và công

18


nghệ sẽ có những bước phát triển nhảy vọt và những đột phá lớn, tác động
nhiều mặt đến tất cả các quốc gia.
Những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc,
sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai,
khủng bố, những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo và các tài nguyên
thiên nhiên tiếp tục diễn ra nhiều nơi với tính chất, quy mô phức tạp. Các mâu
thuẫn lớn của thời đại vẫn gay gắt. Nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi các
quốc gia và các tổ chức quốc tế phối hợp giải quyết.
Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói
riêng, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục gia tăng; nhưng luôn luôn
tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định như: những tranh chấp về ảnh hưởng
và quyền lợi, về biên giới lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên giữa các nước, những
bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội ở từng nước…..
1.1.2- Tình hình trong nước
Những thành tựu của 20 năm đổi mới đất nước (1986-2006) làm cho
thế và lực nước ta lớn mạnh lên nhiều so với trước. Việc mở rộng quan hệ
hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững môi

dân tộc.
Đảng ta là Đảng cầm quyền. Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người
đày tớ thật trung thành của nhân dân. Đảng phải thật sự “trở thành lương tâm,
danh dự, trí tuệ của cả dân tộc” trong giai đoạn cách mạng mới.
1.2.2- Nhiệm vụ chính trị mới của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới:
Nhiệm vụ xuyên suốt là: Đảng lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành
công thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
+ Nhiệm vụ cụ thể trước mắt: từ 2006-2010 mà Đại hội X của Đảng
xác định là: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy
sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt
mọi nguồn lực, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển
văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, tăng cường quốc phòng và an
ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc

20


tế; giữ vững ổn định chính trị-xã hội, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém
phát triển; tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại.
Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh hơn, có chất lượng cao
hơn và gắn kết với phát triển con người….
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN, giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất và tạo động lực mới cho
phát triển; đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, coi trọng phát
triển kinh tế tri thức, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; bảo vệ và
cải thiện môi trường sinh thái.
Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển nhanh
hơn công nghiệp và xây dựng, tạo chuyển biến tích cực về dịch vụ….
Giải quyết tốt và kết hợp hài hòa các vấn đề phát triển văn hóa, xã hội

cường khối đoàn kết toàn dân tộc; phát huy mạnh mẽ vai trò chính quyền nhà
nước trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc; mở rộng và đa
dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vị trí vai trò của Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; tăng cường công tác chính trị tư tưởng,
nâng cao trách nhiệm công dân, xây dựng sự đồng thuận xã hội, đẩy mạnh và
đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để Đảng thật sự là hạt nhân lãnh đạo
khối đoàn kết toàn dân tộc. Quán triệt tinh thần Nghị quyết của Đảng và tư
tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ
chức của các cấp, các ngành phải có chuyển biến nhận thức sâu sắc về vai trò,
mục đích, qui trình, nội dung, phương thức tiến hành công tác dân vận trong
giai đoạn mới làm cơ sở cho công tác dân vận.
Thứ hai, thực hiện tốt Qui chế dân chủ ở cơ sở, sáng tạo và thực hiện có

22


hiệu quả những hình thức, phương pháp dân vận phù hợp với mỗi địa phương
và từng cơ sở.
Chủ nghĩa Mác- Lê nin đã chỉ rõ: chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo.
Phát huy hơn nữa việc thực hiện Qui chế dân chủ ở cơ sở, theo phương châm
“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, sáng tạo, tìm tòi những hình thức,
phương pháp dân vận thích hợp là yêu cầu của công tác dân vận trong thời kỳ
mới; đồng thời phải gắn công tác dân vận, theo Hồ Chí Minh tức là dân vận
phải khéo: “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.
Thứ ba, đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, đồng thời với việc xây dựng
đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận ở các cấp, các ngành.
Công tác dân vận là công việc của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng,
toàn dân, song tổ chức trực tiếp làm công tác dân vận đóng vai trò rất quan
trọng. Hồ Chí Minh đã từng cảnh báo: “Khuyết điểm to ở nhiều nơi xem
khinh việc dân vận. Cử ra một ban hoặc vài người, mà thường cử những cán

qua những khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trước yêu cầu
mới của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, để công
tác dân vận hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình - xây dựng và phát huy sức
mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh, cần phải tồ chức và thực hiện tốt các phong trào thi
đua yêu nước, để nhà nhà thi đua, người người thi đua, ngành ngành thi đua,
tạo động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.

24


Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận hình thành và phát triển cùng chiều với
quá trình phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt nam,là mẫu mực về tinh
thần tôn trọng ,tin tưởng ở sức mạnh của nhân dân “Dân khí mạnh thì không
binh lính nào,sung ống nào địch nổi”. “Dễ mười lần không dân cũng
chịu,khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận là sự phát triển sáng tạo luận điểm của
các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac-Lênin “ Cách mạng là sự nghiệp của
quần chúng” vào nước thuộc địa nửa phong kiến đã dưa cách mạng việt nam
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

77 năm qua, công tác dân vận đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng
trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930-1945); trong thời kỳ kháng
chiến chống Pháp (1946-1954); trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược
(1954-1975) và trong thời kỳ cả nước thống nhất đi lên CNXH, hội nhập quốc
tế, kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từng bước khẳng định vị thế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status