Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vấn đề giáo dục đạo đức lối sống cho thanh niên ở các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THẢO NGUYÊN TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC VÀ VẤN ĐỀ
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC LỐI SỐNG CHO THANH NIÊN
Ở CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Hồ Chí Minh học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Xuân Biên
HÀ NỘI – 2013 LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Nguyễn Thị Thảo Nguyên, học viên cao học khóa 01 chuyên
ngành Hồ Chí Minh học của Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn, Đại
học Quốc gia Hà Nội.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu có
nguồn trích dẫn rõ ràng, kết quả nêu trong luận văn là trung thực

Tác giả Nguyễn Thị Thảo Nguyên

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 4
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 6
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
6. Đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn 8
7. Kết cấu của luận văn 8
Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC VÀ VẤN ĐỀ
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO THANH NIÊN Ở CÁC
TRƢỜNG ĐẠI HỌC 9
1.1. Tiền đề lịch sử - xã hội hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
và giáo dục đạo đức lối sống cho thanh niên 9
1.1.1. Tiền đề thực tiễn về kinh tế - chính trị - xã hội 9
1.1.2. Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh 13
1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và giáo dục đạo đức, lối sống 15
1.2.1. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục 15
1.2.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức, lối sống 28
1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên 36
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ GIÁO DỤC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC, LỐI SỐNG CHO THANH NIÊN Ở CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 45
2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng tư tưởng, đạo đức lối sống của
thanh niên 45 2.2. Thực trạng về giáo dục và giáo dục đạo đức, lối sống của thanh niên ở
các trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh 52
2.2.1. Thực trạng về giáo dục 54

các năm học 80
Bảng 2.5. Khảo sát các tiêu chí về lối sống của sinh viên hiện nay 82
Bảng 2.6. Khảo sát những giá trị TNSV cho là quan trọng hiện nay 88

BIỂU
Biểu 2.1. Nhân tố ảnh hưởng đến việc giáo dục đạo đức cho sinh viên 69
Biểu 2.2. Nhân tố để tăng cường giáo dục đạo đức cho sinh viên trong nhà
trường 70
Biểu 2.3. Những vấn đề sinh viên quan tâm đến giáo dục đạo đức lối sống 72
Biểu 2.4. Những nhân tố khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến đạo đức 74
Biểu 2.5. Dấu ấn cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến đạo đức của sinh viên 75 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BCT Bộ chính trị
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CT/TW Chỉ thị Trung ương
HCM Hồ Chí Minh
NXB Nhà xuất bản
SV Sinh viên
TP Thành phố
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
TN Thanh niên
TN, SV Thanh niên, sinh viên

1

trường, trong đó trường đại học là nôi đào tạo những chủ nhân tương lai của
đất nước, thì nhiệm vụ giáo dục và giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên,
sinh viên lại là một trách nhiệm vô cùng to lớn.
Đánh giá về thực trạng trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ của
nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XI chỉ rõ: “Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu
phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa
chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội. Chưa giải quyết mối quan hệ
giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy
người”[5,167].
Tầm quan trọng của nhà trường là giáo dục, song không phải chỉ là giáo
dục kiến thức, giáo dục nghề mà quan trọng là dạy người, dạy như thế nào,
mục đích làm để làm gì? Tất cả những vấn đề đó phải chăng là giáo dục đạo
đức, lối sống. Giải quyết vấn đề này không dễ, bởi lẽ các nhân tố chủ quan và
nhân tố khách quan tác động hàng ngày, hàng giờ, thậm chí hàng giây đến với
mỗi sinh viên.
Nhấn mạnh những nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức, lối sống nói chung,
nhất là đối với thanh niên; Văn kiện Đại hội Đảng, lần thứ XI, nhận định:
“Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần
phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm
và văn hóa độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh thiếu niên, rất
đáng lo ngại”[5,169].
Làm gì để giải bài toán này, khi hàm của nó chứa đựng nhiều ẩn số, vạch
ra những ẩn số, để giải quyết vấn đề là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan
trọng đối với bài toán đạo đức, lối sống. Trong bài học kinh nghiệm từ thực
tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Đảng ta đã chỉ rõ:
3

“Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối
và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa

lối sống cho thanh niên; nguồn lực quan trọng quyết định tương lai của đất
nước. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vấn
đề giáo dục đạo đức lối sống cho thanh niên ở các trường đại học tại
Thành phố Hồ Chí Minh”, làm luận văn thạc sĩ ngành chính trị học, chuyên
ngành Hồ Chí Minh học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hồ Chí Minh, Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, đất nước và dân tộc
Việt Nam “Mãi mãi nhớ công ơn Người”. Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn
đuốc soi đường, là con đường rèn luyện phấn đấu, là niềm tin tất thắng cho
tương lai dân tộc. Nhớ công ơn Người mỗi người dân Việt Nam luôn học tập
tư tưởng của Người là vậy. Chính sự cần thiết, khách quan đó, Hội đồng Lý
luận Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia, giáo trình Tư tưởng
Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là nguồn di sản vô giá, được nghiên
cứu trên nhiều góc độ khác nhau vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân
tộc; về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; về đạo đức; về
tư tưởng nhân văn; về văn hóa; về quân sự; về đại đoàn kết dân tộc…Đặc biệt
trong Nghị quyết Trung ương 7 Khóa XI của Đảng với chủ đề: “Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí minh về phong cách quần chúng, dân
chủ, nêu gương; nêu cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất
là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”.
Chỉ riêng dưới góc độ về giáo dục và giáo dục đạo đức, lối sống đã có
nhiều công trình khoa học nghiên cứu, nhiều hội thảo khoa học, nhiều bài viết
đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên các tạp chí theo nhiều
góc độ khác nhau, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau đây:
5

Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới, 1995, NXB Chính trị Quốc
gia, của Nguyễn Huy Hoan. Các tác giả đã tuyển chọn các câu kinh điển của
Hồ Chí Minh về vai trò của con người và ý nghĩa việc xây dựng con người;
đánh giá con người; bồi dưỡng con người về trí tuệ; bồi dưỡng đạo đức; xây

quyết, song chưa gắn với việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này.
Các công trình khoa học, các bài viết trên đây là những tư liệu quý bổ
sung cho đề tài, việc kế thừa các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học,
các tác giả có ý nghĩa cần thiết và quan trọng. Tuy nhiên, chưa có công trình
nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, giáo dục
đạo đức lối sống nhất là đối tượng thanh niên - sinh viên ở các trường đại học.
Chính vì vậy, trong điều kiện mới của sự phát triển khoa học công nghệ, của
kinh tế thị trường, với xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc
tế vấn đề giáo dục và giáo dục đạo đức, lối sống là sự cần thiết khách quan
cho mỗi công dân Việt Nam; nhất là lứa tuổi thanh niên, đặc biệt tầng lớp
thanh niên là sinh viên, đóng vai trò quyết định người chủ tương lai của đất
nước, quan trọng và cần thiết biết chừng nào; cho nên đề tài: “Tư tưởng Hồ
Chí Minh về giáo dục và vấn đề giáo dục đạo đức lối sống cho thanh niên ở
các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh”, sẽ hệ thống hóa, góp phần
làm sáng tỏ, giải đáp nội dung quan trọng này.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở làm rõ Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, và vấn đề giáo
dục đạo đức, lối sống cho thanh niên sinh viên; vận dụng Tư tưởng Hồ Chí
Minh, luận văn vạch ra các quan điểm cơ bản và các giải pháp chủ yếu nhằm
góp phần giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên ở các trường đại học tại
Thành phồ Hồ Chí Minh.
7

3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, Nghiên cứu tác phẩm tư tưởng Hồ Chí Minh để làm sáng tỏ cơ
sở lý luận và cơ sở thực tiễn về giáo dục và vấn đề giáo dục đạo đức, lối sống
cho thanh niên sinh viên.
Thứ hai, Khảo sát, phân tích thực trạng về giáo dục và vấn đề giáo dục

6. Đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn
Về khoa học, luận văn làm rõ thêm Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
và đề ra những phương hướng, giải pháp nhằm góp phần xây dựng đạo đức,
lối sống cho thanh niên sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho
những người làm công tác giáo dục, cho việc nghiên cứu và giảng dạy môn
Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như trong các chuyên ngành thuộc lĩnh vực giáo
dục.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết, 111
trang. Trong đó, chương 1 từ trang 1 đến trang 37; chương 2 từ trang 38 đến
85 và chương 3 từ trang 86 đến 112.
Chương 1, Những vấn đề cơ bản Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và
vấn đề giáo dục đạo đức lối sống cho thanh niên.
Chương 2, Thực trạng vấn đề giáo dục và giáo dục đạo đức, lối sống cho
thanh niên ở các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3,Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và giáo dục đạo
đức, lối sống cho thanh niên ở một sốtrường đại học tại Thành phố Hồ Chí
Minh.

9

Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC
VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO
THANH NIÊN Ở CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC

1.1. Tiền đề lịch sử - xã hội hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục
và giáo dục đạo đức lối sống cho thanh niên
Bàn về sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và giáo dục đạo

thuế thúc, sưu dồn”, là cảnh tượng của người dân Việt Nam trong những ngày
đen tối ấy. Chúng lập hàng rào thuế quan để ngăn chặn hàng hóa nhập từ các
nước ngoài vào Việt Nam, trong nước người dân làm không đủ ăn, lại phải
xuất khẩu tài nguyên ra nước ngoài như than đá, cao su…: “Máu đã không
còn đủ nuôi cơ thể, lại còn bị chảy ra nước ngoài”; đời sống và mức sống của
nhân dân cùng cực là điều không tránh khỏi. Đã vậy, năm 1897, thực dân
Pháp đề ra những điều khoản “pháp lý” nhằm tạo điều kiện để chiếm ruộng
đất của nhân dân; thành lập nhiều đồn điền cao su, “Cao su đi dễ, khó về; khi
đi mất vợ khi về mất con”, dẫn đến đời sống kiệt quệ, khốn khó là tình cảnh
của người công nhân đồn điền cao su và nhân dân ta lúc bấy giờ…tất cả các
chính sách ấy của thực dân Pháp nhằm mục đích vơ vét cho đầy túi tham phục
vụ lợi ích kinh tế của chúng.
Với các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội khắc nghiệt, thực dân Pháp
biến Việt Nam trở thành xứ thuộc địa của thực dân Pháp. Nền kinh tế Việt
Nam bị đẩy tới tình cảnh bị kìm hãm trong vòng lạc hậu, chính sách độc
quyền của Pháp đã biến Việt Nam thành thị trường của chính quốc, phụ thuộc
kinh tế vào chính quốc, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. Việt Nam từ xã
hội phong kiến thuần túy trở thành một xã hội nữa thuộc địa phong kiến.
11

Về chính trị
Để đạt mục đích kinh tế, thực dân Pháp đã không từ bỏ một thủ đoạn nào
về chính trị, chúng thiết lập bộ máy cai trị về mặt chính trị, chia Việt Nam
thành 3 kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ để tự trị, chia rẽ dân tộc, tôn
giáo…trực tiếp, thi hành nhiều chính sách chuyên chế hết sức hà khắc và tàn
bạo đối với nhân dân Việt Nam, tước bỏ quyền lực đối nội, đối ngoại của
chính quyền phong kiến của nhà Nguyễn lúc bấy giờ.
Bằng các thể chế, chính sách về mặt chính trị, hệ thống tòa án, nhà tù do
thực dân Pháp đặt ra dày đặc khắp cả nước. Mọi quyền hành đều nằm trong
tay các viên quan cai trị người Pháp, từ toàn quyền Đông Dương, thống đốc

của cá nhân chúng để chúng “ngồi mát ăn bát vàng”, nhưng miệng chúng
huênh hoang những danh từ “đạo đức”, “tự do dân chủ”.
Với đặc trưng của một đất nước, giai cấp nông dân chiếm 90% dân số,
song vẫn sống cuộc đời cực khổ. Bằng những hình thức đàn áp, hết sức khắc
nghiệt của thực dân Pháp, thi hành chính sách chia để trị rất hà khắc, biến vua
quan Nam triều thành bù nhìn và tay sai cho bọn chúng, không chỉ đàn áp bóc
lột mà còn muốn dìm các cuộc đấu tranh của dân ta trong biển máu.
Mặc dù bị thực dân Pháp thống trị, thực trạng nền kinh tế, văn hóa, giáo
dục, xã hội, gặp rất nhiều khó khăn; song vẫn có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra
chống lại ách áp bức bóc lột của thực dân Pháp. Tuy bị thất bại, song “gót sắt”
của kẻ thù, không thể dìm được phong trào đấu tranh của nhân dân ta chống
kẻ thù chung. Dân tộc Việt Nam luôn nêu cao ngọn cờ yêu nước, tinh thần
chống giặc ngoại xâm, xóa bỏ áp bức bóc lột; đây là những tiền đề dẫn đến
con đường cứu nước của HCM. Nhiệm vụ lịch sử vĩ đại và cao cả ấy được
Nguyễn Tất Thành lựa chọn tìm đường cứu nước và trở thành vị lãnh tụ kính
yêu của dân tộc Việt Nam - Hồ Chí Minh - kế tục và hoàn thành xuất sắc.
13

Tất cả những phong trào yêu nước trong thời điểm ấy đều diễn ra dưới
rất nhiều hình thức, nhưng đều có mẫu số chung là sự thất bại. Đó là nhân tố
mà người thanh niên Nguyễn Tất Thành nhận thức được và quyết định rời bến
cảng Nhà Rồng vào ngày 5/6/1911, với lòng yêu nước nồng nàn và khát vọng
cháy bỏng, đi tìm con đường cứu nước, khác với con đường cứu nước của các
bậc tiền bối cha, anh của mình.
1.1.2. Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
Khi bàn đến tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
dục và giáo dục đạo đức, lối sống, chúng ta cần điểm qua một vài nét về các
hoạt động thực tiễn - hình thành lý luận nổi bật của Người. Nguyễn Tất Thành
sinh ra và lớn lên tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An trong một gia đình Nho
giáo, có tinh thần hiếu học và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt

tốt và kẻ xấu. Học tập mặt tích cưc, khắc phục mặt tiêu cực để giải phóng dân
tộc, giải phóng cho nhân dân khỏi áp bức, bóc lột: xem nước Pháp và các
nước làm thế nào, rồi sẽ trở về giúp đồng bào mình.
Tại Pháp, Người rất đỗi ngạc nhiên khi tận mắt chứng kiến hình ảnh
những căn nhà ọp ẹp, tồi tàn của tầng lớp lao động nghèo ăn mặc rách rưới,
hình ảnh của những cô gái phải bán mình để kiếm sống trong quán rượu ở khu
bến cảng Macxây…
Trong suốt cuộc hành trình của Nguyễn Tất Thành từ Việt Nam đến các
nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Angieri …các nước Châu Phi, châu Mỹ,
hòa nhập vào đại dương trí tuệ của thời đại. Ấn tượng sâu sắc khi Người đọc
bản “Tuyên ngôn độc lập” của nước Mỹ vào năm 1776 trong đó có những từ
hoa mỹ: “… Bình đẳng, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh
phúc”. Qua đó, Người lấy làm khâm phục trước ý chí, nghị lực đấu tranh
giành độc lập, tự do của người Mỹ.
15

Khảo sát vòng quanh thế giới, khoảng cuối năm 1917, Nguyễn Tất
Thành từ Anh trở lại Pháp. Tại đây Người biết tới thắng lợi của cách mạng
tháng Mười Nga. Người vào Đảng xã hội Pháp, tháng 6.1919, Nguyễn Ái
Quốc thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi đến Hội
nghị Vécxây bản “Yêu sách của nhân dân Việt Nam” đòi chính phủ Pháp phải
thừa nhận các quyền tự do dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.
Đặc biệt trong những năm tháng đó, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp cận, học
tập, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn ở
nước ta, từng bước xây dựng nền giáo dục mới Việt Nam. Nền giáo dục mà
theo Người được thể hiện cả về mặt lý luận và thực tiễn gắn với mỗi giai đoạn
cụ thể, đem lại những thành tựu vinh quang cho dân tộc Việt Nam qua hai
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đặc biệt, Người đã vạch ra và đã
tiếp cận vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam về vấn đề giáo dục đạo đức, lối sống
của người cách mạng, nhất là đối với thanh niên, sinh viên.

mạng tháng Tám năm 1945, vấn đề giáo dục là nhiệm vụ quan trọng thứ hai
sau “giặc đói”. Người cho rằng về giáo dục là xóa bỏ nền giáo dục đồi bại,
xảo trá của thực dân phong kiến. Cùng với nhiệm vụ giải quyết “giặc đói”; Hồ
chí Minh coi việc giải quyết “giặc dốt” là một trong ba loại giặc; đây là nhiệm
vụ vừa cơ bản vừa cấp bách. Quan điểm của Người là phải làm cho nhân dân
biết đọc, biết viết, xóa nạn mù chữ, từng bước nâng cao trình độ dân trí là
nhiệm vụ quan trọng, cơ bản để giáu quyết các nhiệm vụ khác.
Trong quá trình giải phóng dân tộc cũng như xây dựng Chủ nghĩa xã hội,
Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp “ trồng
người”, “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải
trồng người”. Người cho rằng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”]23,324].
Quan điểm ấy đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nền giáo dục đối
17

với bảo vệ tổ quốc, chống kẻ thù xâm lược, cũng như xây dựng và phát triển
đất nước.
Nhiệm vụ giáo dục là nhiệm vụ của toàn xã hội, nhưng quan trong hơn
hết là lứa tuổi thanh niên. Trong “Thư gửi các học sinh”, năm học đầu tiên
của chế độ mới, Người cho rằng: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp
hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các
cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn công học
tập của các em” ]23.329]. Trong Tư tưởng về giáo dục của Hồ Chí Minh cho
thấy Người rất quan tâm đến thế hệ trẻ, người đóng vai trò quyết định vận
mệnh đất nước trong tương lai, là “rường cột” của nước nhà.
Điểm cốt lõi đầu tiên trong sự nghiệp giáo dục theo quan điểm của Hồ
Chí Minh là: “Tiên học lễ, hậu học văn”, giáo dục về lễ nghĩa, giáo dục về
đạo đức là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu trong sự nghiệp giáo dục, đây là
điều kiện tiên quyết giữ vai trò quyết định nhất trong việc hình thành nhân
cách con người.
Trong thời đại ngày nay, trước làn sóng toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status