Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây dựng con người - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LUẬN VĂN THẠC SĨ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây
dựng con người
CHUYÊN NGÀNH : TRIẾT HỌC
MÃ SỐ : 60. 22 .80
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. NGUYỄN ĐÌNH HÒA
NGƯỜI THỰC HIỆN : LÊ THỊ HƯƠNG

Lê Thị Hương

2
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ TƢ TƢỞNG CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH
VỀ CON NGƢỜI 8
1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người 8
1.2. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng
và công cuộc xây dựng xã hội mới 19
1.2.1. Con người là mục tiêu của cách mạng và công cuộc xây dựng
xã hội mới 19
1.2.2. Con người là động lực của cách mạng và công cuộc xây dựng
xã hội mới 28
Chương 2: MỘT SỐ TƢ TƢỞNG CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH
VỀ XÂY DỰNG CON NGƢỜI 36
2.1. Về một số phẩm chất cơ bản cần có của con người 36

thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại”. Và do vậy,
cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân Việt Nam.
Có thể nói, trong hệ thống lý luận cách mạng của Hồ Chí Minh, tư
tưởng về con người và xây dựng con người chiếm vị trí trung tâm, chứa đựng
những giá trị khoa học vô cùng to lớn. Quả thực, suốt cuộc đời hoạt động
cách mạng của mình, từ thuở thiếu thời cho tới phút cuối cùng, Hồ Chí Minh
luôn đấu tranh không mệt mỏi vì con người, sẵn sàng làm tất cả những gì có
thể để phát triển con người, cho con người. Trước khi từ biệt thế giới này,
Người còn căn dặn Đảng và Nhà nước ta phải luôn ghi nhớ điều “Đầu tiên là
công việc đối với con người”. Những tư tưởng đúng đắn, sáng suốt của Hồ
Chí Minh về con người và xây dựng con người đã góp phần to lớn vào sự
nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, dân tộc và con người, tạo nên thành
công của cách mạng Việt Nam trong công cuộc “kháng chiến, kiến quốc”.

4
Nói cách khác, luôn tôn trọng con người, chăm lo hết mực cho con người và
biết cách dựa vào con người, là những nội dung chủ đạo, căn bản trong tư
tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây dựng con người. Với những tư tưởng
khoa học và có giá trị nhân văn ấy, Hồ Chí Minh không chỉ là nhà lãnh tụ
thiên tài của cách mạng Việt Nam, mà còn là một danh nhân văn hoá của thế
giới, một nhân cách lớn mang tầm thời đại.
Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ,
triển vọng hiện thực hoá nền kinh tế tri thức cũng như xu thế toàn cầu hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế… đang tác động rất lớn đến chiến lược phát triển của
hầu hết các quốc gia. Trong đó, vấn đề quan trọng và biểu hiện rõ nhất là sự
thay đổi theo hướng tích cực trong quan niệm về vị trí, vai trò của con người
đối với tiến trình phát triển - con người được coi là nguồn nội sinh quan trọng
hàng đầu, quyết định sự phát triển của mỗi nước. Ở Việt Nam, trong công
cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước nhằm xây

người cụ thể, tồn tại và phát triển trong những điều kiện lịch sử nhất định;
rằng, con người được đặt trong các mối quan hệ với vũ trụ - tự nhiên, với
tộc loại, với cộng đồng, với nhóm xã hội và với chính bản thân mình.
Trong bài Quan điểm Hồ Chí Minh về con người và bản chất con người
của Đặng Xuân Kỳ, đăng trên tạp chí Triết học, số 10, 2002, tác giả đã
phân tích và nhấn mạnh rằng, con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh được
đặt trong mối quan hệ ba chiều: quan hệ với một cộng đồng nhất định,
trong đó mỗi con người là một thành viên; quan hệ với một xã hội nhất
định, trong đó con người được làm chủ hay bị áp bức, bóc lột; quan hệ với
tự nhiên trong đó con người không tách rời tự nhiên và luôn người hoá tự
nhiên trong cộng đồng xã hội nhất định. Bài Tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người và phát huy nhân tố con người của Nguyễn Văn Tài, tạp chí Triết
học, số 2, 2004, đã phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với tư
cách một thực thể xã hội, bao hàm sự thống nhất giữa con người cá nhân và

6
con người xã hội, sự thống nhất giữa con người với dân tộc, giai cấp và
nhân loại; về con người với tư cách chủ thể sáng tạo lịch sử
Có thể nói rằng, qua những công trình nghiên cứu của mình, các tác
giả đã tập trung phân tích quan niệm Hồ Chí Minh về con người trên nhiều
phương diện: con người cá nhân, con người xã hội, con người trong các
mối quan hệ gia đình, dân tộc, nhân loại. Trên cơ sở đó, tạo tiền đề cho
việc nghiên cứu các nội dung khác liên quan đến vấn đề con người, như
đấu tranh giải phóng con người, xây dựng và phát triển con người…
Khía cạnh giải phóng con người cũng được một số tác giả nghiên
cứu khá kỹ. Chẳng hạn, bài Sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người trong tư tưởng Hồ
Chí Minh của Nguyễn Bá Linh trong cuốn Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh, chương trình KX - 02, tập 3, Viện Hồ Chí Minh xuất bản, Hà Nội,
1993, đã luận giải để làm rõ rằng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu của

xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện của Thành Duy, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001. Ở đây, tác giả đã phân tích khái quát tư
tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò và ý nghĩa của giáo dục đối với việc
đào tạo con người toàn diện. Trên cơ sở đó, tác giả đã khai thác các phương
pháp xây dựng con người toàn diện trong tư tưởng của Người. Ngoài ra, có
thể kể đến luận án tiến sĩ Triết học của Nguyễn Hữu Công với đề tài Tư
tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện bảo vệ năm 2001 tại
Hà Nội. Trong công trình này, tác giả đã tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ
Chí Minh về vai trò của đạo đức, đặc biệt là đạo đức cách mạng, về vai trò
của trí tuệ con người đối với quá trình cải tạo và xây dựng xã hội mới. Trên
cơ sở đó, tác giả đã phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng và phát
triển con người toàn diện nhằm tạo ra những con người, thế hệ người đáp
ứng được yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng
chủ nghĩa xã hội.

8
Một số công trình, bài viết khác đã phân tích giá trị, ý nghĩa chỉ đạo
của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây dựng con người đối với sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay. Về vấn đề này, có
thể kể đến công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của Thành Duy,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996. Từ việc phân tích tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh và tính tiến bộ của tư tưởng ấy, tác giả đã chỉ ra giá trị to lớn
của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với việc giáo dục đạo đức cho con
người trong chế độ xã hội mới; đồng thời, nhấn mạnh quan điểm của Đảng
coi tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là nền tảng đạo đức của sự nghiệp đổi
mới. Bài Điều mong muốn cuối cùng của Bác và trách nhiệm của chúng ta
của Nguyễn Trọng Chuẩn, tạp chí Triết học, số 5, 1999, đã phân tích và
làm nổi bật khát vọng của Hồ Chủ tịch về một xã hội mới, trong đó dân tộc
được độc lập, nhân dân có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, đoàn kết và
dân chủ… Từ đó, tác giả nhấn mạnh tư tưởng của Người có giá trị định

của các nhà khoa học đi trước có liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn.
Luận văn sử dụng phương pháp lôgíc và lịch sử, phương pháp phân tích và
tổng hợp, phương pháp hệ thống hoá…
5. Những đóng góp mới của luận văn
- Một là, góp phần hệ thống hoá những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về con người và xây dựng con người.
- Hai là, góp phần luận chứng ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh đối
với sự nghiệp bồi dưỡng, phát triển con người ở nước ta hiện nay.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với những kết quả đạt được, luận văn có thể được sử dụng làm tài
liệu tham khảo trong việc học tập, giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người và xây dựng con người ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao
đẳng và đại học của nước ta. Đồng thời, luận văn cũng có giá trị tham

10
khảo, phục vụ cho công tác hoạch định chính sách xây dựng, bồi dưỡng và
phát triển con người ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có 2 chương, 5 tiết.


cao tính thiện của con người. Sở dĩ như vậy là vì ông muốn làm nổi bật sự
khác nhau giữa con người và con vật thông qua các giá trị xã hội. Mạnh Tử đã
tìm bản chất con người trên phương diện đạo đức. Ngược lại, Tuân Tử cho
rằng, bản tính con người là ác và ông chủ trương phải ngăn chặn cái ác bằng
cách dùng giáo lý nhân, nghĩa, lễ để cảm hoá con người. Theo ông, con người
khác con vật ở chỗ con người biết “hợp quần”. Luận điểm này của Tuân Tử
đã nêu lên bản chất xã hội của con người mang tính cộng đồng.
Mặc

dù có những quan niệm khác nhau về tính người, nhưng cả Khổng
Tử, Tuân Tử và Mạnh Tử đều đề cao vai trò của giáo dục trong việc cải tạo,
hướng con người tới cái thiện và giữ gìn tính thiện, coi đó như một trong những
nội dung căn bản để hoàn thiện con người. Tuy nhiên, khi bàn đến vấn đề con
người và xây dựng con người, Nho giáo không tránh khỏi những hạn chế, như
xem con người lý tưởng là con người đạo đức chứ không phải là con người lao

(*)
Từ đây trở đi:
- Số thứ nhất chỉ số thứ tự trong danh mục tài liệu tham khảo.
- Số thữ hai chỉ số trang trong tài liệu tham khảo.

12
động hay con người khoa học; xem cuộc sống của con người là cuộc sống đạo
đức chứ không phải cuộc sống lao động hay cuộc sống đấu tranh xã hội. Mẫu
người mà Nho giáo xây dựng là mẫu người quân tử - mẫu người đó thuộc một
số ít người trong giới quý tộc chỉ lo chuyện đạo lý, chẳng lo chuyện nghèo khó.
Sự học trong quan niệm của Nho giáo chủ yếu là học cách trị người. Tài năng
mà Nho giáo chú tâm bồi dưỡng là tài trị nước. Nho giáo không bàn đến điều
kiện hiện thực của việc xây dựng con người, nó tách con người khỏi các quan
hệ xã hội cụ thể. Bên cạnh đó, Nho giáo có tư tưởng phân biệt đẳng cấp, coi

trước tới nay là nguồn gốc đẻ ra mọi sự bất công trong xã hội. Tuy nhiên, khi
bàn đến con người, các nhà tư tưởng chưa rút ra được bản chất thực sự của
con người, con người mới chỉ được đề cập đến ở phương diện cá thể.
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, có thể nói, từ rất sớm, ông cha ta đã
có sự quan tâm đến vấn đề con người. Không giống với quan niệm của
phương Tây, khi bàn đến vấn đề con người, người Việt Nam thường ít, nếu
không nói là không chú ý đến mặt tự nhiên, đến mối quan hệ giữa linh hồn và
thể xác,… mà chủ yếu nhấn mạnh đến mặt xã hội của con người.
Nguyên tắc làm người là một trong những nội dung căn bản được bàn
đến nhiều trong lịch sử tư tưởng dân tộc. Nổi bật nhất trong nguyên tắc làm
người là con người phải có các đức tính: trung, hiếu, nhân, trí, dũng. Đây là
những đức tính cơ bản được coi là cơ sở, là thước đo để đánh giá con người.
Ngoài những đức tính ấy, con người còn được coi trọng ở các phẩm chất
khác, như cần cù, chăm chỉ, yêu lao động, yêu thiên nhiên… Không chỉ có
vậy, vị trí, vai trò của con người cũng được đề cao. Nói về sức mạnh của con
người, của nhân dân, Nguyễn Trãi đã từng khẳng định rằng, thuyền bị lật mới
tin dân như nước; rằng, chở thuyền lật thuyền cũng là dân. Lê Quý Đôn coi
dân là gốc nước, gốc vững thì nước mới yên. Xuất phát từ việc đề cao vị trí và
vai trò của nhân dân, một số nhà tư tưởng tiêu biểu thường coi ý dân, lòng dân

14
là điều cần phải coi trọng trong khi tiến hành các hoạt động chính trị. Con
người được coi là nền tảng của những mục đích, chủ trương kinh tế - chính trị
lớn, như làm thay đổi vương triều, tổ chức các cuộc kháng chiến chống chiến
tranh xâm lược, tiến hành xây dựng một đất nước thái bình, thịnh trị.
Cùng với sự phát triển của lịch sử, người hiền tài luôn được coi trọng.
Họ được coi là tài sản vô giá, là nguyên khí của quốc gia. Do vậy, trong sự
nghiệp giáo dục, ông cha ta luôn chú trọng giáo dục con người để có thể “tề
gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Các hình thức “nêu danh yết bảng” các sĩ tử thi
đỗ, việc khắc tên vào bảng vàng, bia đá,… thể hiện sự quý trọng người hiền

kiện lịch sử nhất định; họ là những người cùng với xã hội mình khai thác
thiên nhiên, sinh hoạt xã hội và phát triển ý thức. Trong các mối quan hệ xã
hội cụ thể đó, con người hình thành, bộc lộ và thực hiện bản chất thật sự của
mình. Cho nên, khi xét bản chất của con người cũng như của một tập đoàn
người hay của một dân tộc, phải xuất phát từ toàn bộ những quan hệ xã hội
ấy. Với luận điểm trên, chủ nghĩa Mác nhấn mạnh mặt xã hội của con người
nhằm khắc phục những hạn chế trong các quan niệm đã có trong lịch sử về
con người. Nhiều trào lưu triết học tư sản sau này đã cố tình lãng quên điều
đó để gán cho Mác cái “thiếu sót” là không chú ý đến mặt tự nhiên, sinh vật
của con người. Thực ra, khi nhấn mạnh đến mặt xã hội của con người, C.Mác
cũng rất coi trọng mặt tự nhiên, “cái sinh học” của con người. Những luận
điểm của ông coi con người là một bộ phận của giới tự nhiên, cho rằng trước
hết con người cần phải thoả mãn những nhu cầu ăn, ở, mặc,… đã thể hiện
điều đó. Đồng thời, chủ nghĩa Mác đã giải quyết hàng loạt vấn đề mà trước đó
chưa được giải quyết một cách thoả đáng: Ai là chủ thể của lịch sử? Ai thực
sự làm nên lịch sử? Chủ nghĩa Mác khẳng định rằng, thông qua hoạt động
thực tiễn của mình, con người đã làm ra lịch sử và chính con người là chủ thể
của lịch sử.

16
Tóm lại, theo quan niệm của chủ nghĩa Mác, con người là một thực thể
sinh vật - xã hội, nó vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội.
Trong đó, mặt xã hội được thể hiện ở chỗ con người có ý thức, có tính lịch sử,
tính giai cấp, tính nhân loại; con người tồn tại trong các quan hệ xã hội, thông
qua các quan hệ xã hội đó mà hình thành nên bản chất “Người”.
Trên cơ sở tiếp thu những giá trị tích cực của các nhà tư tưởng phương
Đông, phương Tây và tư tưởng dân tộc về con người trong lịch sử, kết hợp
với tư tưởng đúng đắn và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh
đã xây dựng và đưa ra quan niệm của mình về con người.
Mặc dù không viết một chuyên luận nào bàn riêng đến con người,

thành con người để phân biệt với mọi loài động vật khác. Người khẳng định,
“Con người dù là xấu, tốt, văn minh hay dã man đều có tình”[42, tr.60]. Chữ
tình ở đây không chỉ là tình cảm trong quan hệ anh em, vợ chồng, bạn bè, cha
con, trên dưới mà đó còn là tình người. Tình người được biểu hiện tập trung ở
văn hoá, đạo đức của con người. Đó là nhân tính, nó đối lập với thú tính của
loài vật. Chính vì lẽ đó, Hồ Chí Minh quan tâm trước hết đến những quan hệ
đã gắn bó mọi người với nhau, tạo thành những cộng đồng xã hội bền chặt từ
nhỏ đến lớn, từ hẹp đến rộng mà Người gọi là quan hệ “đồng bào”. Mối quan
hệ ấy đã tạo nên tính cộng đồng bền vững của con người Việt Nam, được bồi
đắp qua hàng ngàn năm trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Chính trong các
mối quan hệ ấy, bản chất của con người mới được hình thành, được tạo bồi và
con người trở thành động lực vĩ đại thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Theo
Hồ Chí Minh, trong các mối quan hệ xã hội của con người, quan hệ giữa cá
nhân và dân tộc là mối quan hệ cơ bản, chi phối tất cả các mối quan hệ khác.
Điều đó cho phép chúng ta hiểu rõ vì sao Hồ Chí Minh rất coi trọng sức mạnh
cộng đồng và luôn kêu gọi tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế trong
sự nghiệp đấu tranh và xây dựng xã hội mới.
Khi nghiên cứu bản chất xã hội của con người, chủ nghĩa Mác đã đặt

18
con người trong các mối quan hệ xã hội và khẳng định rằng, chính lao động là
điều kiện chủ yếu và có vai trò quyết định đối với sự hình thành, phát triển
con người, làm biến đổi các điều kiện xã hội và tự nhiên, đồng thời phát triển
bản chất xã hội của con người. Chính thông qua quá trình lao động mà con
người thể hiện vai trò chủ thể sáng tạo những giá trị vật chất và tinh thần. Lao
động sáng tạo là giá trị nhân văn cao nhất của con người. Tiếp thu quan điểm
đó của chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh cho rằng, con người, trước hết là con
người lao động, là nhân dân lao động, là những người công nhân - “… sức
mạnh nghề quen, làm ra của cải cho thiên hạ nhờ”[38, tr.204], là nông dân -
“… một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của

dạng.
Sự thống nhất giữa con người cá nhân và con người xã hội thể hiện sự
thống nhất biện chứng giữa cái chung, cái riêng và cái đặc thù. Trong bất kỳ
trường hợp nào, khi nhấn mạnh và coi trọng con người cá nhân thì Hồ Chí
Minh cũng nhấn mạnh và khẳng định con người tập thể, con người xã hội.
Ngược lại, khi nói đến con người tập thể, con người xã hội thì cũng bao hàm
trong đó những con người cụ thể. Do vậy, Hồ Chí Minh khẳng định chủ nghĩa
xã hội không hề phủ nhận cá nhân, chà đạp lên lợi ích cá nhân, mà ngược lại,
hơn hẳn bất kỳ một chế độ xã hội nào trong lịch sử, chủ nghĩa xã hội luôn tôn
trọng lợi ích cá nhân, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển tự do và toàn
diện của mỗi cá nhân. Chính vì nhận thấy sự thống nhất giữa con người cá
nhân và con người xã hội mà Hồ Chí Minh luôn đề cao và kêu gọi sự đoàn kết
toàn dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam; đồng thời, khơi dậy những
phẩm chất tốt đẹp của mỗi con người cụ thể trong khối đại đoàn kết dân tộc.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sự thống nhất giữa con người cá nhân và
con người xã hội chính là sự thống nhất về lợi ích: sự thống nhất giữa lợi ích
cá nhân và lợi ích xã hội, giữa lợi ích chung và lợi ích riêng. Cụ thể là sự
thống nhất giữa lợi ích của mỗi cá nhân với lợi ích của Đảng, của dân tộc. Vì

20
thế, trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong suốt cuộc đời hoạt động cách
mạng của mình, Người luôn quan tâm tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, chia sẻ
niềm vui, thấu hiểu nhu cầu của các tầng lớp nhân dân từ nông dân, công
nhân, bộ đội đến các cụ phụ lão, các cháu nhi đồng… Việc giải quyết đúng
đắn mối quan hệ giữa con người cá nhân và con người xã hội chính là giải
quyết đúng đắn mối quan hệ về lợi ích. Với Hồ Chí Minh, giải phóng dân tộc
gắn liền với giải phóng con người, xét đến cùng, cũng chính là xuất phát từ
lợi ích của con người. Trong quá trình hoạt động cách mạng giải phóng dân
tộc, bằng phương pháp tư duy biện chứng, Hồ Chí Minh đã kết hợp hài hoà
giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, lợi ích riêng với lợi ích chung để tạo

của xã hội trở thành giai cấp thống trị, bóc lột; ngược lại, những người bị
chiếm đoạt tư liệu sản xuất, bị bần cùng hoá,… trở thành giai cấp bị bóc lột,
bị thống trị. Với sự phân biệt rất rõ ràng và rạch ròi như vậy, Hồ Chí Minh đã
nhận rõ ai là bạn, ai là thù. Và chính vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động
cách mạng của mình, Người luôn đứng về phía giai cấp bị bóc lột, đấu tranh
để bênh vực, bảo vệ và giải phóng họ thoát khỏi ách nô dịch, sự áp bức, bóc
lột của giai cấp thống trị, giai cấp bóc lột. Người từng nói: “Tôi vô cùng công
phẫn trước những tổn thất và tàn phá do quân Mỹ gây ra cho nhân dân và đất
nước chúng tôi; tôi cũng rất xúc động thấy ngày càng nhiều thanh niên Mỹ
chết vô ích ở Việt Nam” [47, tr.488].
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người không chỉ là con người giai
cấp, con người dân tộc mà còn là con người nhân loại. Người cho rằng, con
người dù thuộc dân tộc, hay giai cấp nào thì cũng có điểm chung là sinh ra
phải được bình đẳng, tự do và được mưu cầu hạnh phúc, phải được hưởng các
quyền con người. Trong bản Tuyên ngôn độc lập công bố trước quốc dân
đồng bào và toàn thế giới vào ngày 2 - 9 - 1945, Hồ Chí Minh mở đầu bằng
những giá trị pháp lý và đạo lý mang tính phổ biến, những “lẽ phải không ai
chối cãi được” là: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá

22
cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy
có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [39, tr.1].
Với ý thức của người cộng sản chân chính, thấm nhuần chủ nghĩa quốc tế vô
sản, Người không chỉ cảm thông với những người dân mất nước, những người
cùng khổ, những người bị mất con, mất chồng trong các cuộc chiến tranh phi
nghĩa mà còn tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc, thực dân đã tước đi sinh
mạng của bao người vô tội. Người cho rằng, người Pháp hay người Việt, dòng
máu Pháp hay dòng máu Việt cũng đều được trân trọng như nhau.
Quan điểm về sự thống nhất giữa con người giai cấp, con người dân tộc
và con người nhân loại của Hồ Chí Minh là sự bổ sung, tiếp tục phát triển

Đặt con người vào vị trí trung tâm, mục tiêu của sự phát triển xã hội -
đó là tư tưởng xuyên suốt và nhất quán trong di sản lý luận Hồ Chí Minh về
con người. Đấu tranh cách mạng nhằm giải phóng con người là nội dung căn
bản đầu tiên, là tiền đề để phát triển con người.
Như chúng ta đã biết, sự thối nát, bạc nhược của chế độ phong kiến, sự
xâm lược và bóc lột tàn tệ của thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
làm cho dân tộc ta mất độc lập, nhân dân mất tự do, đồng bào ta phải sống
trong cảnh tối tăm, tủi nhục của kiếp người nô lệ. Hồ Chí Minh đau xót khi
thấy “Chưa có bao giờ ở một thời đại nào, ở một nước nào, người ta lại vi
phạm mọi quyền làm người một cách độc ác trơ tráo đến thế”[31, tr.383].
Người luôn cảm phục và đề cao tinh thần yêu nước, thương dân của các bậc
tiền bối, như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Hoàng Hoa Thám… Theo Hồ
Chí Minh, con đường cứu nước của các bậc tiền bối ấy thể hiện lòng yêu nước
thiết tha, nhưng chưa phải là con đường đúng đắn và cách mạng. Bởi, họ tiến
hành đấu tranh trước hết chỉ để giải phóng dân tộc khỏi chế độ thực dân, mà
chưa đặt ra vấn đề giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
Thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước của dân tộc, kết hợp với kinh nghiệm
thực tiễn phong phú của mình và đặc biệt được soi sáng bởi lý luận của chủ

24
nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng, để giải phóng con
người, cần phải đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
xã hội. Các cuộc giải phóng này luôn gắn bó chặt chẽ với nhau và chỉ có như
vậy, con người mới được giải phóng hoàn toàn. Mục tiêu vĩ đại của sự nghiệp
giải phóng đó thể hiện tính cách mạng và tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí
Minh, bởi nó hướng đến các giá trị Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của dân tộc
và nhân dân; đồng thời, phản ánh xu hướng vận động tất yếu, hợp quy luật vì
sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Với khát vọng giải phóng con người, với cách nhìn sáng suốt và khoa
học về thời cuộc, với tài năng phân tích thực tiễn một cách biện chứng, Hồ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status