phát triển hàng hóa trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 13



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LÊ THỊ NGỌC LAN

PHÁT TRIỂN HÀNG HÓA TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Hà Nội – 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


Trang

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: PHÁT TRIỂN HÀNG HÓA TRÊN THỊ TRƯ
ỜNG
CHỨNG KHOÁN: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

6

1.1. Khái luận về thị trường chứng khoán và hàng hóa trên TTCK 6

1.1.1. Khái niệm và cấu trúc của thị trường chứng khoán 6

1.1.2. Khái niệm, phân loại và đặc điểm cơ bản về hàng hóa trên TTCK 10

1.1.3. Phát triển hàng hoá trên thị trường chứng khoán 13

1.1.4. Các yếu tố tác động đến sự phát triển hàng hoá trên TTCK 20

1.2. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển hàng hoá trên thị trư
ờng chứng
khoán và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

2.2.5. Quản lý và tổ chức thanh tra, giám sát các hoạt động trên th

trường chứng khoán
68
2.2.6. Tổ chức quan hệ hợp tác quốc tế về chứng khoán 69

2.3. Đánh giá thực trạng phát triển hàng hóa trên thị trư
ờng chứng khoán
Việt Nam
70

2.3.1. Kết quả đạt được 70

2.3.2. Hạn chế, tồn tại 73

2.3.3. Nguyên nhân của những bất cập 76

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HÀ
NG HÓA
TRÊN THỊ TRƯ
ỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG
NHỮNG NĂM TỚI
86

3.1. Bối cảnh mới 86

3.1.1. Tình hình quốc tế 86


3.4. Những kiến nghị với Chính phủ và Cơ quan quản lý 106

3.4.1. Tiếp tục cải cách kinh tế, tạo điều kiện bình đẳng cho khu vực t
ư
nhân phát triển
106

3.4.2. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý 109

KẾT LUẬN 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

2MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển thị trường chứng khoán là một trong những nhiệm vụ cơ bản của cơ quan quản lý ngành chứng
khoán, đồng thời cũng là nhiệm vụ của cả xã hội, nhằm khơi thông các nguồn huy động vốn trong xã hội và
phân bổ một cách có hiệu quả các nguồn vốn này sao cho mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức khai trương và đi vào hoạt động tại Thành phố Hồ Chí
Minh từ tháng 7/2000. Trong thời gian đầu, TTCK hoạt động rất khó khăn do các yếu tố thị trường trong nền
kinh tế chưa được xác lập đồng bộ, hệ thống thị trường tiền tệ chưa phát triển, công tác cổ phần hóa mới
đang trong giai đoạn thí điểm, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ, các công ty đều chưa hiểu và không muốn
lên niêm yết; kiến thức và sự hiểu biết của xã hội và thành viên TTCK còn rất hạn chế. Tuy nhiên, cùng với
sự cải cách và đổi mới nền kinh tế, đặc biệt là các giải pháp hỗ trợ của Chính phủ, TTCK đã có bước phát
triển rất to lớn, trở thành kênh dẫn vốn dài hạn quan trọng cho nền kinh tế. Qua 11 năm phát triển, TTCK

nghiên cứu không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
- Nghiên cứu về hàng hóa trên thị trường chứng khoán Việt Nam nhằm đưa ra những giải pháp phát triển
hàng hóa trên thị trường chứng khoán trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển hàng hóa trên thị trường chứng khoán ở một số nước.
- Phân tích thực trạng hàng hóa trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đánh giá các vấn đề bất cập và
nguyên nhân.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển hàng hóa trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Nghiên cứu việc phát triển số lượng, chất lượng và chủng loại hàng hóa trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.
Phạm vi:
- Luận văn nghiên cứu sự phát triển hàng hóa trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2000 đến
nay.
- Hàng hóa trên thị trường chứng khoán bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và chứng khoán
phái sinh.

5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết
hợp với các phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử, phương pháp so sánh,
phương pháp thống kê để thực hiện đề tài nghiên cứu.
Luận văn cũng sử dụng các công cụ phân tích kinh tế như: số liệu và chỉ số, biểu đồ, đồ thị, mô hình kinh
tế… trong việc phân tích và thể hiện nội dung đề tài.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển hàng hóa trên thị trường chứng khoán, luận
văn đưa ra một số tiêu chí đánh giá sự phát triển hàng hóa chứng khoán.
- Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển hàng hóa trên thị trường chứng khoán Việt Nam để chỉ ra

1.1.3 Phát triển hàng hoá trên thị trường chứng khoán
Phát triển hàng hoá của TTCK là sự gia tăng về số lượng, chất lượng, và chủng loại hàng hoá.
Khái niệm “phát triển hàng hoá” trên TTCK một mặt đề cập đến sự phát triển của hàng hoá là do tác động
chủ quan của các chủ thể tham gia thị trường. Mặt khác đề cập đến trình độ nền kinh tế và sự phát triển
khách quan của hàng hoá trên thị trường.
Phát triển hàng hóa trên thị trường chứng khoán bao hàm các nội dung:
+ Tạo lập môi trường pháp lý
+ Đa dạng hóa các hình thức phát hành
+ Xây dựng và phát triển thị trường giao dịch chứng khoán
+ Minh bạch về thông tin
+ Khắc phục khuyết tật thị trường
+ Tạo lập các điều kiện để hội nhập thế giới
Một số tiêu chí đánh giá sự phát triển hàng hóa trên thị trường chứng khoán:
Thứ nhất, số lượng, chủng loại hàng hóa chứng khoán trên thị trường chứng khoán
Thứ hai, quy mô, giá trị vốn hóa thị trường của hàng hóa chứng khoán
Thứ ba, tính thanh khoản, độ sâu các giao dịch hàng hóa chứng khoán
Thứ tư, trình độ quản trị kinh doanh và trình độ quản trị công ty
1.1.4 Các yếu tố tác động đến sự phát triển hàng hoá trên thị trường chứng khoán
Một là: Trình độ và môi trường phát triển kinh tế - xã hội
Hai là: Nhu cầu phát hành chứng khoán của các chủ thể kinh tế
Ba là: Các chính sách vĩ mô
Bốn là: Cách thức tổ chức, điều hành hoạt động thị trường chứng khoán
1.2 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN HÀNG HÓA TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
4

KHOÁN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
1.2.1 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển hàng hóa trên thị trường chứng khoán
Luận văn đã nêu ra những kinh nghiệm phát triển hàng hóa trên thị trường chứng khoán một số nước cụ
thể như Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malayxia, Trung Quốc. Đây là những nước ở trong khu vực, có thị
trường chứng khoán phát triển ở trình độ cao và mô hình thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay cũng

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HÀNG HÓA
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

2.1 KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
TTCK Việt Nam có 2 SGDCK ở hai đầu đất nước là Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh. Sự ra đời và phát triển
của TTCK đã tạo ra phương thức kinh doanh hiện đại và là một công cụ hội nhập có hiệu quả.
2.1.2 Những đặc điểm cơ bản của thị trường chứng khoán Việt Nam
TTCK Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau:
Một là, các định chế và thể chế chứng khoán chưa được hoàn thiện và đang trong giai đoạn thử nghiệm,
điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn và đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hai là, các doanh nghiệp tham gia vào TTCK buộc phải minh bạch hóa hoạt động sản xuất kinh doanh và
công bố thông tin ra công chúng. Trong khi các doanh nghiệp khác không bắt buộc phải công bố thông tin.
Ba là, các doanh nghiệp Việt Nam chưa quen với việc huy động vốn thông qua TTCK, chưa coi nó là một
kênh huy động vốn chủ yếu cho các hoạt động đầu tư trung và dài hạn của doanh nghiệp,
Bốn là, sự ra đời và hoạt động của TTCK còn chịu sự hỗ trợ và điều tiết mạnh mẽ từ phía nhà nước.
6

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HÀNG HÓA TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.2.1 Môi trường pháp lý hình thành và phát triển hàng hóa chứng khoán
Trải qua 11 năm hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển
của thị trường và tăng cường hiệu quả quản lý, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước.
2.2.2 Tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán
Mô hình phát triển cho các TTGDCK và SGDCK đã được định hình rõ nét hơn. Việc chuyển đổi mô hình
tạo điều kiện cho các SGDCK có thể kết nối với các SGDCK quốc tế.
Các thị trường có tổ chức cho từng loại hàng hóa là:
+ Thị trường trái phiếu Chính phủ chuyên biệt
+ Thị trường giao dịch cổ phiếu công ty đại chúng chưa niêm yết
+ Thị trường cổ phiếu niêm yết và thị trường trái phiếu công ty niêm yết

200 đợt phát hành của 192 công ty và 4 ngân hàng thương mại với tổng lượng vốn huy động lên đến gần
Tỷ đồng
7

40.000 tỷ VND. Trong năm 2008 tổng số vốn huy động chỉ đạt hơn 14.300 tỷ đồng.
Hoạt động niêm yết cổ phiếu được bắt đầu kể từ khi TTGDCK T/p Hồ Chí Minh đi vào hoạt động vào
tháng 7/2000. Tính đến cuối năm 2011, thị trường niêm yết có 393 doanh nghiệp với giá trị niêm yết đạt
79.400 tỷ đồng, tăng 7% về số lượng công ty niêm yết và tăng gần 20% về giá trị niêm yết so với thời điểm
cuối năm 2010.
TTCK đã có sự tăng trưởng không chỉ về quy mô niêm yết mà kể cả tính thanh khoản của thị trường. Tính
trong cả năm 2009, giá trị giao dịch toàn thị trường trên HOSE là 423.299 tỷ đồng với 10.432 triệu cổ phiếu
được chuyển giao. Tương tự trên sàn Hà Nội tổng giá trị giao dịch là 197.524 tỷ với 5.765 triệu đơn vị được
chuyển giao. Tính trung bình giao dịch mỗi phiên tại sàn HOSE đạt 1.686 tỷ đồng, trong khi con số này cả
năm 2008 là 502 tỷ đồng. Tại sàn HNX giá trị giao dịch trung bình mỗi phiên là 787 tỷ đồng trong khi năm
2008 là 230 tỷ đồng.

Hình 2.3 Số lượng công ty niêm yết, khối lượng cổ phiếu niêm yết và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên
thị trường
Nguồn: Báo cáo thường niên 2011- UBCKNN
b. Thị trường trái phiếu
Thị trường trái phiếu Việt Nam được cấu thành từ một số yếu tố cơ bản, đó là các tổ chức phát hành trái

200
300
400
500
600
700
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
0
5
10
15
20
25
triệu CP
SLCP
KLNY
KLGD
8

TPCQDP 20.400.000

0

TPCP bảo lãnh 926.395.000

85,77

3 Giá trị niêm yết Triệu đồng

285.242.300


Hình 2.6 Tỷ trọng trái phiếu niêm yết trên các SGDCK
Nguồn: Báo cáo thường niên 2011- UBCKNN
c. Chứng khoán khác
- Chứng chỉ quỹ đầu tư
Giá trị tài sản ròng của các quỹ vào thời điểm cuối năm 2011 ước khoảng hơn 13.000 tỷ đồng. Giá trị tài
0.27%
0.60%
0.80%
2.43%
3.33%
4.53%
7.77%
11.31%
13.09%
10.60%
12.46%
0.00%
2.00%
4.00%
6.00%
8.00%
10.00%
12.00%

ở Việt nam đã tồn tại và phát triển từ nhiều năm nay dưới các hình thức tự do hoặc phi tập trung. Nếu không
tính đến các hợp đồng kỳ hạn, thường được nông dân và các thương gia, hay các nhà chế biến nông phẩm
giao dịch theo phương thức trao đổi giao dịch cá nhân, chủ yếu là các hợp đồng bán lúa non hay gia súc, các
nông phẩm khác…, thì hiện nay, các công cụ phái sinh chủ yếu được giao dịch tại Việt nam dưới dạng phái
sinh tài chính là các hợp đồng hoán đổi (tiền tệ, lãi suất), các hợp đồng quyền chọn tiền tệ, lãi suất, tỷ giá hối
đoái, vàng…. Các công cụ này chủ yếu được giao dịch giữa các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài
chính trong nước với các tổ chức nước ngoài hoặc với nhau. Đây là các sản phẩm giao dịch của các ngân
hàng nhằm rào chắn rủi ro kinh doanh tiền tệ và đầu cơ. Các hoạt động này gần đây đã được điều chỉnh bởi
một số văn bản pháp luật do Ngân hàng Nhà nước ban hành. Có thể nhận thấy rất rõ rằng loại hình các công
cụ phái sinh và mức độ sử dụng các công cụ này tăng nhanh chóng trong cộng đồng kinh doanh tài chính,
đặc biệt là các ngân hàng.
2.2.4 Tính minh bạch về thông tin trên thị trường chứng khoán
Theo Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty thực hiện năm 2011 dựa trên dữ liệu năm 2010 do Tổ chức Tài
chính Quốc tế (IFC) thực hiện thì minh bạch và công bố thông tin là vấn đề quan trọng nhất cần được chú
trọng trong thực tiễn quản trị công ty ở Việt Nam. Khi so sánh với việc tuân thủ các thông lệ tốt trên thế giới
về minh bạch và công bố thông tin, các công ty Việt Nam được khảo sát đạt mức điểm trung bình là 43,2%
năm 2010. Điều này chứng tỏ các công ty cần phải cố gắng nhiều hơn nữa nếu muốn thu hẹp khoảng cách
với thế giới. Nhìn chung hoạt động minh bạch và công bố thông tin ở Việt Nam cần chi tiết và đầy đủ hơn.
Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận rằng tình hình thực hiện các nội dung này đã có sự tiến triển so với mức điểm
trung bình 39,4% của khảo sát năm 2009.
2.2.5 Quản lý và tổ chức thanh tra, giám sát các hoạt động trên thị trường chứng khoán
Hoạt động giám sát luôn luôn đi đôi với hoạt động giao dịch và là một trong những hoạt động quan trọng
nhất của các cơ quan quản lý và tổ chức thị trường. Hiện nay, hệ thống giám sát TTCK Việt Nam đang đi
theo mô hình giám sát hai cấp với sự tham gia của cơ quan quản lý chứng khoán là UBCKNN và các tổ chức
vận hành thị trường là các SGDCK.
Từ năm 2006 đến tháng 6/2009, căn cứ vào kết quả thanh tra, kiểm tra trực tiếp và kết quả giám sát,
UBCKNN đã xử phạt hơn 200 trường hợp vi phạm pháp luật về CK và TTCK với tổng số tiền phạt nộp vào
ngân sách nhà nước là gần 7 tỷ đồng.
Qua tổng hợp, thống kê các trường hợp vi phạm cho thấy các vi phạm về CK và TTCK chủ yếu tập trung
10

2007, tuy nhiên có thời kỳ (đặc biệt là năm 2011) giá trị giao dịch giảm thấp.
Thứ tư, chính sách phát triển TTCK dựa trên nguồn cung trong giai đoạn 2000-2010 đã đạt được những
kết quả ấn tượng, tuy nhiên cũng bộc lộ một số hạn chế và không bảo đảm sự bền vững của TTCK.
2.3.3 Nguyên nhân của những bất cập
Những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới những bất cập trong phát triển hàng hóa trên thị trường chứng khoán
là:
Trước hết, Việt nam chưa có một nền kinh tế thị trường phát triển cùng với các yếu tố đồng bộ khác của
nó. Điều này dẫn tới chất lượng hàng hóa trên thị trường chứng khoán còn thấp.
Thứ hai, Việt Nam vẫn chưa có những chính sách hợp lý, thể chế chưa hoàn thiện và khâu thực thi pháp
luật chưa hiệu quả.
Thứ ba, doanh nghiệp có thói quen huy động vốn vay từ ngân hàng và chưa hiểu biết rõ về thị trường
chứng khoán.
Thứ tư, Môi trường kinh tế vĩ mô chưa thực sự thuận lợi, lạm phát và lãi suất ngân hàng cao đã ảnh
11

hưởng đến khả năng thanh khoản chung của nền kinh tế cũng như thị trường tài chính trong đó có thị trường
chứng khoán.
12

CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HÀNG HÓA TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM TỚI

3.1 BỐI CẢNH MỚI
3.1.1 Tình hình quốc tế
Kinh tế thế giới hiện đang bước vào một giai đoạn khó khăn với những thách thức mới nghiêm trọng hơn
như khủng hoảng nợ công ở Châu Âu. Nhiều quốc gia bị tụt hạng tín dụng khiến cho giới đầu tư mất lòng
tin, đẩy thị trường tài chính rơi vào cảnh rối loạn. Bên cạnh đó, những biến động về chính trị tại khu vực
Trung Đông- Bắc Phi vẫn chưa ổn định, thảm họa động đất, sóng thần và khủng hoảng hạt nhân ở Nhật Bản

3.3.3 Hoàn thiện, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho thị trường giao dịch chứng khoán
13

Không ngừng nghiên cứu cải tiến, ứng dụng các giải pháp kỹ thuật, công nghệ thông tin nhằm tạo lập một
quy trình giao dịch và thanh toán chính xác và nhanh gọn theo nguyên tắc "giao hàng đồng thời với thanh
toán tiền". Đây là vấn đề rất quan trọng trong khâu lưu thông hàng hoá, giúp nhà đầu tư quay vòng vốn
nhanh, từ đó tạo điều kiện cho thị trường hoạt động tích cực và đạt tính thanh khoản cao. Mặt khác, điều này
cũng giúp nhà đầu tư hạn chế được rủi ro đầu tư chứng khoán như rủi ro giảm giá chứng khoán; rủi ro thanh
toán hoặc gian lận trong giao dịch chứng khoán, nhất là trong giai đoạn có biến động mạnh về giá cả.
3.3.4 Nâng cao tiêu chuẩn niêm yết hàng hóa trên thị trường chứng khoán
- Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng
- Đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và gắn với TTCK
- Đa dạng hoá các hình thức phát hành
- Phát triển hệ thống các tổ chức bảo lãnh phát hành
3.3.5 Thành lập và phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm
Để cho thu hút người đầu tư bỏ tiền vào đầu tư trên TTCK thì vấn đề quan trọng là giá chứng khoán được
xác định hợp lý. Giá hợp lý đó được hình thành trên cơ sở khả năng sinh lời của các công ty phát hành ra
chứng khoán đó và nó luôn luôn thay đổi để thích ứng với những thông tin liên quan đến tiềm năng sinh lời
này. Nói chung, giá chứng khoán phải gắn liền với thực lực tài chính và khả năng sinh lời của các công ty.
3.3.6 Phát triển và đưa vào giao dịch các sản phẩm mới
Cần nghiên cứu hướng dẫn các doanh nghiệp này phát hành trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi, hoặc
các công cụ lai ghép, phát sinh như trái phiếu thứ cấp, trái phiếu bảo đảm bằng bất động sản, hay chứng
khoán hoá các hợp đồng cho vay thế chấp. Khi quy mô thị trường dần dần tăng lên thì nên khuyến khích việc
thành lập và phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư ra công chúng (quỹ mở, quỹ đầu tư bất động sản ) để tạo điều
kiện cho các nhà đầu tư đa dạng hoá đầu tư và phân tán rủi ro. Xây dựng và phát triển thị trường chứng
khoán phái sinh được chuẩn hóa theo hướng phát triển với các công cụ từ đơn giản đến phức tạp; về dài hạn
cần thống nhất hoạt động thị trường phái sinh có công cụ gốc là chứng khoán, hàng hóa, tiền tệ.
3.4 NHỮNG KIẾN NGHỊ VỚI CHÍNH PHỦ VÀ CƠ QUAN QUẢN LÝ
3.4.1 Tiếp tục cải cách kinh tế, tạo điều kiện bình đẳng cho khu vực tư nhân phát triển
- Cải cách doanh nghiệp nhà nước, gắn với thị trường chứng khoán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status