tiểu luận hệ thống tiền tệ quốc tế - Pdf 13

DANH SÁCH NHÓM SIO :
1. NGUYỄN BÁ MỸ
2. LÊ ĐỨC SƠN
3. TRẦN NAM KHÁNH
4. LÊ TÙNG LÂM
5. HỒ THỊ THÙY NGA
6. NGUYỄN THỊ KIM YẾN
7. HOÀNG NGUYỄN NGỌC HÀ
8. PHAN THỊ THÙY DIỄM
9. VÕ THỊ BÍCH TRÂM
Chủ đề 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất
1
Hệ thống tiền tệ quốc tế là gì ?
Hệ thống tiền tệ quốc tế được hình thành trên cơ sở quan hệ thương mại – tài
chính giữa các nước.
Là hệ thống bao gồm các chế độ tiền tệ, chế tài điều tiết quan hệ tài chính giữa
các quốc gia và các định chế tài chính quốc tế. Cụ thể bao gồm:
Các chế độ tiền tệ và quy tắc xác định, điều tiết tỷ giá giữa đồng tiền của các nước
khác nhau với nhau.
Các chế tài điều tiết các mối quan hệ và hoạt động tài chính quốc tế và các quốc gia.
Hệ thống thị trường tài chính quốc tế
Các tổ chức tài chính quốc tế.
Hệ thống tiền tệ quốc tế là hệ thống các tập quán, quy tắc, thủ tục và các tổ chức
quốc tế điều hành các quan hệ tài chính giữa các quốc gia.
Nghiên cứu hệ thống tiền tệ quốc tế là nghiên cứu các chế độ tiền tệ và chế tài
điều tiết quan hệ tài chính giữa các quốc gia và các định chế tài chính quốc tế trong
các giai đoạn lịch sử khác nhau. Cụ thể:
Chế độ tiền tệ, phương thức xác định tỷ giá và các quy tắc điều tiết.
Hoạt động của các định chế tài chính quốc tế.
các chế độ bản vị tồn tài trước chiến tranh thế giới thứ nhất :
Chế độ bản vị hàng hóa :

và hệ thống giá nhà nước, đồng tiền được bảo đảm bằng hàng hóa cung cấp, thậm chí theo
nhiều nhóm hàng. Bạn đường của hệ thống này là chế độ tem phiếu.
Liệu trong hệ thống kế hoạch hành chính này đồng tiền có phải là đồng tiền ổn định?
3
Trong hệ thống này, đồng tiền được coi là ổn định trong chừng mực mà nhà nước còn
duy trì được sự mua bán bình thường theo hệ thống giá nhà nước. Cái giá cao phải trả cho
việc cố duy trì hệ thống này là chi phí cao, hiệu quả thấp, trao đổi mang tính gò ép, hình
thành cơ cấu kinh tế không hợp l., thị trường không có vai trò điều tiết nền kinh tế Trong
quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung, trong đó hệ
thống giá nhà nước là một bộ phận quan trọng, đã thể hiện là không có hiệu quả và kèm
theo nhiều tiêu cực khác, do vậy nó đã bị bác bỏ khi các nước xã hội chủ nghĩa tiến hành
cải cách, cải tổ và đổi mới nền kinh tế theo hướng thị trường.
Chế độ vàng – bạc – đồng
Chế độ đơn bản vị:
* Khái niệm:
Chế độ đơn bản vị là chế độ tiền tệ, trong đó lấy một thứ kim loại quý nào đó đóng vai
trò vật ngang giá chung và là cơ sở của toàn bộ chế độ lưu thông tiền tệ nước đó.Trong lịch
sử đã có những chế độ đơn bản vị cơ bản sau đây:
2.2.1. Chế độ bản vị đồng:
Chế độ bản vị đồng là chế độ tiền tệ lấy kim loại đồng làm tiêu chuẩn giá cả, xuất hiện từ
thời thượng cổ, sau cuộc phân công lao động lần thứ II của loài người khi thủ công nghiệp
tách ra khỏi công nghiệp. Trong chế độ bản vị đồng, người ta dùng kim loại đồng để đúc
tiền đưa vào lưu thông, vàng cũng được đúc tiền nhưng chiếm số lượng không đáng kể vì
lúc này quan hệ trao đổi hàng hóa chưa phát triển nên chưa có nhu cầu giao dịch giá trị lớn
2.2.2 Chế độ bản vị bạc:
Chế độ đơn bản vị bạc là chế độ lưu thông tiền tệ lấy bạc làm cơ sở để xác
định giá trị đồng tiền, dùng kim loại bạc để đúc tiền, vàng cũng đúc thành tiền phục vụ
những giao dịch lớn.
Khi giao dịch, người bán phải cân đếm tiền để xác định giá trị nên gọi là tiền cân. Về
sau, tiền do những người, tổ chức có uy tín đúc, đánh dấu và in giá trị lên đồng bạc, người

1 USD bạc bằng 24,06 gam bạc ròng. Do đó, trọng lượng 1 USD bạc bằng 15 lần
trọng lượng 1 USD vàng. Chế độ này từng được áp dụng ở Anh, Hoa Kỳ trước thế kỷ 19.
5
- Chế độ bản vị kép : tiền đúc bằng vàng và tiền đúc bằng bạc được lưu thông theo
tỷ giá bắt buộc do Nhà nước quy định (tỷ giá pháp định).
2.3.3. Đặc điểm:
- Mọi người được tự do đúc tiền vàng và tiền bạc.
- Tiền vàng và tiền bạc được tự do lưu thông trong phạm vi quốc gia và giữa các quốc gia
với nhau.
* Ưu – nhược điểm của chế độ song bản vị:
+ Ưu điểm :
- Thúc đẩy thương mại quốc tế diễn ra nhanh chóng.
- Trong lưu thông hàng hoá, việc sử dụng chế độ song bản vị có nhiều tiến bộ hơn so với
thời kỳ nền kinh tế đổi chác hiện vật.
+ Nhược điểm :
- Nhà nước khó kiểm soát lượng vàng, bạc của mỗi quốc gia.
- Hai thước đo giá trị, hai hệ thống giá cả còn gây trở ngại trong việc tính toán và lưu thông
hàng hoá.
Quy luật Gresham:
Một kinh tế gia người Anh ở thế kỷ 17 tên là Gresham đã đưa ra một định luật, được gọi là
định luật Gresham. Đinh luật này cho rằng: trong một quốc gia, khi nào hai thứ tiền tệ cùng
dược pháp luật chấp nhận theo một giá trị chênh lệch, đồng tiền xấu sẽ dần trục xuất đồng
tiền tốt ra khỏi thị trường. Tiền xấu được hiểu là đồng tiền đang mất giá, tiền tốt là tiền
đang có giá.
Giả thuyết kinh tế do Grêsơm (T. Gresham; 1519 - 79) đưa ra. Theo giả thuyết này, “tiền
xấu sẽ đuổi tiền tốt ra khỏi lưu thông”. Vd. khi có hai kim loại (chẳng hạn vàng và bạc)
cùng lưu thông và giá trị thị trường của chúng khác với giá trị hợp pháp của chúng, thì kim
loại nào có giá trị thị trường lớn hơn giá trị hợp pháp sẽ được người ta tích trữ. Ở Hoa Kì
trong thời kì 1837 - 73, áp dụng chế độ song bản vị (vàng và bạc), hệ thống tiền tệ bị mất
ổn định vì khi thì bạc bị tích trữ, khi thì vàng bị tích trữ, tức “bị đuổi khỏi lưu thông” do giá

Tại mỹ ,quyết định chuyển đổi từ USD ra vàng mà không chuyển đổi sang bạc vào năm
1879 là bước ngoặt quan trọng cho sự ra đời của hệ thống bản vị vàng. Nhưng đến năm
1900, hệ thống này mới chính thức phê chuẩn thông qua đạo luật bản vị vàng. Trong
7
khoảng thời gian 30 năm từ năm 1880 đến năm 1914, hệ thống bản vị vàng đã phát triển ở
hầu hết các quốc gia, nó đã liên kết các quốc gia chặt chẽ với nhau cũng như giữa các nước
thống trị và các nước thuộc địa.
2.4.3. Nguyên tắc cơ bản :
- Tỷ giá của các đồng tiền được xác định bởi một khối lượng vàng nhất định. Hay nói
một cách khác mỗi chính phủ ấn định giá vàng theo đồng tiền quốc gia, đồng
thời sẵn sàng không hạn chế mua và bán vàng tại mức giá đã định. Ví dụ, tại Mỹ, giá 1
troy ounce vàng nguyên chất (480grains) là $20.67, do đó, sở đúc tiền của Mỹ
sẵn sàng và khônghạn chế mua vàng vào và bán vàng ra ở mức giá này.
- Tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền được xác định dựa trên nguyên tắc
ngang giá vàng. Tức là thông qua giá vàng được ấn định tính bằng các
đồng tiền này. Ví dụ, 1ounce vàng nguyên chất ở Anh có giá là ₤4.24 và ở Mỹ là
$20.67, từ đó suy ra tỷ giá hối đoái sẽ là $4.87/ ₤ ($20.67/₤4.24). Tỷ giá $4.87/₤ được duy
trì từ năm 1880 đến 1914.
- Dưới chế độ bản vị vàng, NHTW luôn phải duy trì một lượng vàng dự trữ trong mố
iquan hệ trực tiếp với số tiền phát hành. Tiền do NHTW phát hành được “đảm
bảo bằngvàng 100%” và tiền được chuyển đổi tự do không hạn chế ra vàng. Kết
quả là, khả năng thay đổi cung ứng tiền chính là sự thay đổi lượng tiền có sẵn
trong tay những người cưtrú. Chúng ta có thể nhận ra rằng, vai trò của NHTW
trong chế độ bản vị vàng là muavàng từ người cư trú và thông qua đó phát
hành tiền ra lưu thông. Như vậy, vô hìnhchung chế độ bản vị vàng đã hạn chế
sự năng động của NHTW trong việc điều tiết lượng tiền lưu thông.
- Vàng có thể được xuất khẩu hay nhập khẩu không hạn chế, được tự do mua bán trên
thị trường thế giới. Do vàng được chu chuyển tự do giữa các quốc gia, cho nên tỷ giá trao
đổi thực tế trên thị trường tự do không biến đổi đáng kể so với bản vị vàng, bởi
lẽ tất cả đều được quy ra vàng.

tỷgiá hối đoái giữa các quốc gia. Ví dụ, trước chiến tranh thế giới 1USD có thểđổi được
gần 1/20 lượng vàng, 1GBPcó thể đổi được gần 1/4 lượng vàng, nêntỷ giá hối đoái giữa
GBP và USD là gần 5 đôla Vàng được tự do luân chuyển giữa các nước, nghĩa
là vàng vừa là tiền tệ quốcgia, vừa là tiền tệ quốc tế.
9
Với những đặc trưng trên, chế độ bản vị vàng cổ điển có tác dụng tích cực đối với sự
phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa:
- Thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của nền sản xuất TBCN- góp phần thúc đẩy sự
phát triển của hệ thống tín dụng TBCN – tạo điều kiện phát triển ngoại thương.
Tuy nhiên, chế độ bản vị vàng cũng có những hạn chế của nó như. -Chính phủ các
nước không còn kiểm soát được chính sách tiền tệ của mình vì lượng cung
ứng tiền tệ của nước đó được xác định bởi các luồng vàng được di chuyển giữa các nước.
- Chính sách tiền tệ trên toàn thế giới bị chi phối rất lớn bởi việc sản
xuất vàngvà việc phát hiện các mỏ vàng. Khi lượng vàng đủ cho lưu thông thì nền kinh
tế phát triển tốt, không có lạm phát. Nhưng nếu lượng vàng cung ứng khôngăn
nhịp với tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ làm giá cả hàng hóa sụt giảm, ngược lại, nếu lượng
cung ứng tiền vàng quá lớn sẽ làm giá cả hàng hóa tăng lên.
2.4.6. Ưu – nhược điểm của chế độ bản vị vàng:
* Ưu điểm:- Giúp cho thương mại và đầu tư thế giới phát triển và hưng thịnh.
Điều này được chứng minh trong thời kỳ 1880-1914, với hang rào thương mại
vàng được gỡ bỏ hoàn toàn và kiểm soát ngoại hối , chu chuyển vốn ít khi được áp dụng
cộng với việc không cómột sự phá giá hay nâng giá nào giữa các đồng tiền của các quốc gia
lớn trên thế giới đã giúp cho thị trường vốn quốc tế phát triển với trung tâm là London.
- Khuyến khích phân công lao động quốc tế, giúp gia tăng phúc lợi thế giới.
Trong chế độ bản vị vàng, các nhà đầu tư gần như được dảm bảo chắc chắn
trước những rủi rovề tỷ giá, điều này khiến cho thương mại và đầu tư thế giới
phát triển, luồng vốn lưu chuyển tự do giữa các quốc gia để tìm kiếm lợi nhuận cao
nhất.
- Cơ chế điều chỉnh ván vân thanh toán vận hành trơn tru. Với cơ chế dòng
vàng – giá cả, những bất cân đối trong cán cân thanh toán của các quốc gia sẽ tự động

đều, 2/3 lượng vàng trên thế giới tập trung vào 5 nước lớn làAnh, Mỹ, Pháp,
Đức, Nga, còn dự vàng các nước khác sụt giảm nghiêm trọng làm mấtkhả năng
chuyển tiền giấy ra vàng. Chế độ bản vị vàng cổ điển sụp đổ, sau hơn 40 năm
đem lại sự thịnh vượng cho các nước.
11
Chủ đề 2: Hệ thống tiền tệ quốc tế giữa hai cuộc đại chiến và hệ thống Bretton
Woods.
Hệ thống tiền tệ quốc tế là gì ?
Hệ thống tiền tệ quốc tế được hình thành trên cơ sở quan hệ thương mại – tài
chính giữa các nước.
Là hệ thống bao gồm các chế độ tiền tệ, chế tài điều tiết quan hệ tài chính giữa
các quốc gia và các định chế tài chính quốc tế. Cụ thể bao gồm:
12
Các chế độ tiền tệ và quy tắc xác định, điều tiết tỷ giá giữa đồng tiền của các nước
khác nhau với nhau.
Các chế tài điều tiết các mối quan hệ và hoạt động tài chính quốc tế và các quốc gia.
Hệ thống thị trường tài chính quốc tế
Các tổ chức tài chính quốc tế.
Nghiên cứu hệ thống tiền tệ quốc tế là nghiên cứu các chế độ tiền tệ và chế tài
điều tiết quan hệ tài chính giữa các quốc gia và các định chế tài chính quốc tế trong
các giai đoạn lịch sử khác nhau. Cụ thể:
Chế độ tiền tệ, phương thức xác định tỷ giá và các quy tắc điều tiết.
Hoạt động của các định chế tài chính quốc tế.
Chế độ bản vị giữa hai cuộc đại chiến (1914-1944)
Sơ lược về các chế độ bản vị giữa hai cuộc đại chiến:
Sự chấm dứt bản vị vàng và chế độ tỷ giá thả nổi: tài trợ chiến tranh và lạm phát bùng
nổ, phá vỡ khả năng duy trì quan hệ tiền – vàng.
Việc tái ấn định lại bản vị vàng 1920: sự hồi sinh chế độ bản vị vàng và mang đặc điểm
của chế độ bản vị hối đoái vàng 1925-1931.
Sự sụp đổ của hệ thống thương mại và tài chính quốc tế sau Đại khủng hoảng 1929-

gian là đồng tiền mình có quan hệ chuyển đổi ra vàng.
2.2.5. Nhược điểm của chế độ bản vị vàng mới:
Vẫn mang những nhược điểm của chế độ bản vị vàng cổ điển. Áp dụng chế độ bản
vị vàng mới mang lại những lợi ích nhất định cho các nước như Anh làm chính
phủ Anh lạm dụng quyền phát hành Bảng Anh khiến đồng Bảng Anh liên tục bị khủng
hoảng và mất uy tín. Những nỗ lực nhằm quay trở lại với thời bản vị vàng sau Thế chiến I
đã không được quản lý đúng cách với việc tái áp dụng tỷ lệ trao đổi như thời trước chiến
tranh ở một số nước mặc cho có sự xuất hiện của lạm phát, tỷ lệ trao đổi thấp hơn ở những
nước khác và sự kìm hãm những cơ chế điều chỉnh cần thiết.
14
Theo các nhà nghiên cứu thì đây là bước lùi của hệ thống tiền tệ TBCN: sự
liên kết giữa vàng và tiền giấy đã trở nên lõng lẽo, trong chế độ bản vị vàng gián tiếp
người ta thấy sự xuất hiện của hiện tượng lạm phát.
2.2.6. So sánh chế độ bản vị vàng cổ điển và chế độ bản vị vàng mới:
Chế độ bản vị vàng cổ điển là chế độ trong đó tiền giấy khả hoán được chuyển đổi
thành vàng theo một định nghĩa chính thức. Ví dụ, vào năm 1930, 1USD = 1,504 gr
vàng,1FRF = 0,065gr vàng. Lượng tiền giấy phát hành luôn được đảm bảo bằng lượng
vàng dự trữ. Trong chế độ tiền tệ này, mọi người được tự do đúc tiền, đổi tiền giấy hoặc
vàng thoi lấy tiền vàng. Tiền tệ có giá trị trao đổi đúng bằng giá trị nội tại của nó. Giá trị
thật sự của tiền đúng bằng giá trị ghi trên đồng tiền. Trong chế độ bản vị vàng thoi,
Nhà Nước hạn chế quyền tự do đổi tiền lấy vàng bằng cách chỉ cho chuyển đổi từ
một khối lượng tối thiểu khá lớn, dưới hình thức vàng thoi. Tức là, vào thời kì này
không còn tiền dưới hình thức những đồng tiền vàng mà chỉ có hình thức vàng thoi, tiền
vàng không còn là phương tiện thanh toán chủ yếu trên thị trường nữa. Còn chế độ
bản vị hối đoái vàng là chế độ định nghĩa đơn vị tiền tệ quốc gia theo đơn vị tiền tệ của
nước khác. Đơn vị tiền tệ của nước được chọn để định nghĩa lại theo chế độ kim
bản vị. Ví dụ, Ấn Độ đã định nghĩa đồng Roupie theo đồng bảng Anh, đồng bảng
Anh lại được định nghĩa theo bản vị vàng.
2.2.7. Sự sụp đổ của chế độ bản vị vàng mới:
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 làm cho hàng ngàn ngân hàng

giật thị trường tiêu thụ hàng hoá. Để có thể đứng vững trong cạnh tranh, các nước đã tự tập
họp thành các khu vực tiền tệ, mỗi khu vực do một nước lớn cầm đầu đối địch với các nước
khác.
16
 Đặc điểm:
Phần lớn dự trữ ngoại hối của các nước thành viên được tập trung vào ngân hàng của các
nước cầm đầu.
Quan hệ tiền tệ giữa tiền tệ của các nước cầm đầu khu vực tiền tệ với tiền tệ của các
nước thành viên được thực hiện theo một tỷ giá hối đoái nhất định.
Phần lớn thanh toán quốc tế của các nước trong khu vực tiền tệ được thực hiện bằng
tiền tệ của nước cầm đầu khu vực tiền tệ.
* Chế độ tiền tệ theo khu vực hình thành và phát triển từ năm 1933 và kết thúc vào
năm 1939 do cuộc đại chiến tranh thế giới thứ II làm cho tình hình kinh tế chính trị và tài
chính của các nước ngày càng xấu đi, phong trào giải phóng dân tộc dâng cao đã làm tan rã
khối thuộc địa, do đó kéo theo sự sụp đổ của các khu vực tiền tệ.
=> Như vậy, thời kỳ giữa 2 cuộc thế chiến, HTTTQT mang tính chất hỗn loạn.
Hệ thống Bretton Woods (1944-1973).
Sự hình thành hệ thống Bretton Woods
Ngay trước khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các nước đồng minh đã bắt đầu
việc xây dựng một hệ thống tiền tệ quốc tế mới nhằm thúc đẩy các quan hệ tiền tệ và
Khu vực tiền tệ Các quốc gia sử dụng
Khu vực bảng Anh
Anh và các nước thuộc địa, nửa thuộc địa,
các nước có mối quan hệ mật thiết với Anh
về thương mại, tài chính như: Ai Cập, I
Rắc, Thái Lan, Bồ Đào Nha, Đan Mạch…
Khu vực Đô-la Mỹ
Do Mỹ cầm đầu bao gồm: Mỹ, Canada và
các nước ở Châu Mỹ LaTinh…
Khu vực Frăng Pháp

giới. Chính phủ Mỹ cam kết đổi đôla ra vàng không hạn chế. Một cách gián tiếp, các quốc
gia có thể hoàn toàn tin tưởng khi neo giá đồng tiền nước mình với đồng đôla. Trong những
trường hợp mất cân bằng nghiêm trọng trong cán cân thanh toán, các quốc gia có thể tiến
hành phá giá hay nâng giá đồng tiền với biên độ nhỏ hơn 10% trước khi IMF phải can
thiệp.
Thứ hai, là dự trự quốc tế. Muốn duy trì tỷ giá hối đoái cố định, các quốc gia phải có
một lượng dự trữ quốc tế đủ lớn bằng vàng và ngoại tệ. Theo quy định của IMF, tổ chức
18
này sẽ giám sát và hỗ trợ hợp tác quốc tế trên lĩnh vực tiền tệ và thương mại. Để cho các
quan hệ thương mại ổn định, cần phải duy trì một hệ thống tỷ giá ổn định, hiệu quả. Nhằm
trành cho các quốc gia thành viên thực hiện phá giá hoặc nâng giá đồng tiền, IMF cung cấp
cho các thành viên một hạn mức tín dụng thường xuyên để tài trợ cho thâm hụt cán cân
thanh toán. Hạn mức tín dụng phụ thuộc vào quy mô của các nền kinh tế và tỷ trọng đóng
góp của các quốc gia đó vào IMF. Các quốc gia đóng góp vào IMF theo tỷ lện ¼ là tài sản
dự trữ (chủ yểu là vàng), ¾ bằng đồng tiền quốc gia. Khi gặp khó khăn, mỗi thành viên
được rút 25% hạn mức trong lần đầu, sau đó muốn rút thêm phải tuân thủ nghiêm ngặt các
chính sách kinh tế của IMF đưa ra, có thể rút trong 4 lần, mỗi lần 25% hạn mức.
Thứ ba là khả năng chuyển đổi các đồng tiền. Các quốc gia tham gia vào quỹ tiền tệ
quốc tế (IMF) và Hiệp định chung về thương mại và thuế quan GATT phải cam kết chuyển
đổi không hạn chế đồng nội tệ đối với các giao dịch trong cán cân vãng lai (có thể hạn chế
kiểm soát chu chuyển vốn nhưng không kiểm soát các chuyển đổi tiền tệ phục vụ mục đích
thương mại).
3.3. Hoạt động của hệ thống Bretton Woods
Thời gian tồn tại của hệ thống BW có thể chia thành hai giai đoạn: giai đoạn “đói Đôla”
(1940 – 1958) và giai đoạn “bội thực Đôla” ( 1959 – 1971).
Giai đoạn “đói đôla” (1940-1958):
Trong chiến tranh thế giới II, Mỹ đã thu được nguồn vàng lớn từ bên ngoài bằng việc
buôn bán vũ khí cho các nước tham chiến. Sau chiến tranh, Mỹ đã có 1 nguồn dự trữ vàng
lên tớI 26 tỉ đôla chiếm 60% dự trữ vàng trên toàn thế giới. Do đó, đồng đôla của Mỹ được
coi là tốt như vàng.

đã bãi bỏ các mức ngang giá chính thức với đồng $ và thực hiện thả nổi độc lập (hoặc tập
thể) đồng tiền của mình, sau khi Mỹ phá giá đồng $ lần thứ 2. Điều này đánh dấu sự thất
bại hoàn toàn trong việc cải tổ hệ thống Bretton Woods và sự sụp đổ của hệ thống bản vị $
này.
4.4. Nguyên nhân sụp đổ của hệ thống Bretton Woods
Hệ thống Bretton Woods hoạt động với sự thành công rõ ràng và đáng ghi nhận, trong
suốt những năm từ 1947 đến 1971 chỉ xảy ra một số lần điều chỉnh đột xuất. Việc giải thích
sự sụp đổ của Bretton Woods thường tập trung vào vấn đề thanh khoản và sự thiếu vắng
một cơ chế điều chỉnh phù hợp.
20
- Vấn đề thanh khoản:
Với mức giá $35 /ounce thì tổng tài sản nợ của chính phủ Mỹ đã vượt tổng tài sản có
bằng vàng. Điều này có nghĩa là khả năng chuyển đổi toàn bộ tài sản nợ bằng USD ra vàng
tại mức giá $35/ounce là không thể thực hiện. Triffin đã tiên đoán rằng: một khi chính phủ
Mỹ đã bộc lộ mất khả năng thanh toán (chuyển đổi USD ra vàng tại mức giá $35/ounce
như cam kết), tức USD được dự tính là sẽ phá giá đối với vàng; do đó, các ngân hàng trung
ương nước ngoài sẽ chuyển đổi USD dự trữ của mình ra vàng, do lượng vàng không đủ nên
chính phủ Mỹ cuối cùng buộc phải từ chối việc chuyển đổi USD ra vàng, nghĩa là chấm dứt
duy trì tỷ giá cố định với USD, làm cho Bretton Woods sụp đổ.
- Sự thiếu vắng một cơ chế điều chỉnh:
Bretton Wood cho phép điều chỉnh tỷ giá chính thức như là biện pháp cuối cùng để điều
chỉnh sự mất cân đối cơ bản trong BOP của các nước thành viên. Tuy nhiên trong thực tế
các quốc gia có BOP mất cân đối tỏ ra rất miễn cưỡng khi thực hiện cac biện pháp như: phá
giá, nâng giá, hay các chính sách kinh tế khác nhằm duy trì trạng thái cân bằng của BOP.
Về phía Mỹ: Cho dù tỷ lệ lạm phát sau nhiều năm tuy có cao, nhưng chính phủ Mỹ
không thể phá giá USD đối với vàng được, bởi vì nếu phá giá sẽ làm xói mòn lòng tin vào
toàn hệ thống Bretton Woods. Hơn nữa, giả sử chính phủ Mỹ phá giá USD so với vàng thì
cũng không cải thiện được sức cạnh tranh thương mại quốc tế nếu như các bạn hàng vẫn
duy trì tỷ giá cố định đối với USD. Như vậy, để duy trì và kiểm soát được thâm hụt BOP
chính phủ Mỹ buộc phải áp dụng các chính sách thiểu phát nền kinh tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status