BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI
_______o0o_______
Tên đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu địa phương và
đắp đê trên nền đất yếu từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
Thuộc Chương trình: Nghiên cứu KHCN phục vụ xây dựng đê biển và
công trình thuỷ lợi vùng cửa sông ven biển
Tên cơ quan chủ trì đề tài:
Viện Khoa học Thuỷ lợi
Địa chỉ: 171- Tây sơn - Đống Đa – Hà nội
Chủ nhiệm đề tài:
Họ và tên: PGS.TS Nguyễn Quốc Dũng
Địa chỉ: Trung tâm Thuỷ công; số 3 Ngõ 95, Chùa Bộc, Hà nội
TẬP II
TỔNG HỢP CÁC BÁO CÁO KHOA HỌC
1. TỔNG QUAN PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ;
2. TỔNG QUAN PHƯƠNG PHÁP ĐẮP ĐÊ TRÊN NỀN ĐẤT YẾU;
3. GIẢI PHÁP THI CÔNG ĐÊ BIỂN VẬT LIỆU ĐỊA PHƯƠNG;
4. LỰA CHỌN VÀ ĐỀ CƯƠNG HOÀN THIỆN CÁC PHƯƠNG PHÁP
THIẾT KẾ VÀ THI CÔNG HIỆN CÓ.
7579-30
Chủ nhiệm đề tài: PGS. TS Nguyễn Quốc Dũng
Thực hiện chính: ThS. Khổng Trung Duân
KS. Nguyễn Hồng Điệp
ThS. Đỗ Thế Quynh
ThS. Phùng Vĩnh An
Hà nội, tháng 01 năm 2008
Tổng quan phương pháp thiết kế và thi công đê biển vật liệu địa phương từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
ĐVTH: Trung tâm Thủy công - VKHTL
1
Mục lục
MụC LụC 1
CHƯƠNG I 3
TỔNG QUAN CHUNG HỆ THỐNG ĐÊ BIỂN TỪ QUẢN NINH ĐẾN QUẢNG NAM 3
1.1 TÌNH HÌNH CHUNG 3
1.2. ĐÊ BIỂN VIỆT NAM - QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 4
1.3. HIỆN TRẠNG ĐÊ BIỂN CÁC TỈNH TỪ QUẢN NINH ĐẾN QUẢNG NAM 6
1.3.1. Đặc điểm chung của đê biển 6
1.3.2. Hiện trạng đê biển các tỉnh trước khi thực hiện kế hoạch củng cố, nâng cấp theo Quyết định
số 58/2006/QĐ-TTg ngày 14/3/2006 13
1.3.3. Thực hiện chương trình củng cố, nâng cấp đê biển theo Quyết định số 58/2006/QĐ-TTg ngày
13/4/2006 17
1.4. CƠ CHẾ PHÁ HUỶ ĐÊ BIỂN (QUA CÁC CƠN BÃO NĂM 2005) VÀ ĐỊNH HƯỚNG CỦNG CỐ, NÂNG
CẤP ĐÊ BIỂN GIAI ĐOẠN 2006 ĐẾN 2010 18
1.4.1. Cơ chế phá huỷ đê biển 18
1.4.2. Định hướng củng cố, nâng cấp đê biển 19
1.5. CÁC GIẢI PHÁP CỦNG CỐ, NÂNG CẤP ĐÊ BIỂN 22
3.3.1. Chỉ dẫn chung 46
3.3.2. Xác định cao trình đỉnh đê 46
3.3.3. Mặt cắt và kết cấu các bộ phận 50
3.4. GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỀN 52
3.4.1. Thay thế một phần lớp đất nền bằng lớp đất tốt hơn 52
3.4.2. Bệ phản áp - cơ đê 54
3.4.3. Cọc cát 56
3.4.4. Phụt vữa xi măng hoặc xi măng đất sét 58
3.4.5. Khống chế tốc độ thi công 59
3.4.6. Gia cố nền bằng lớp xơ dừa hoặc mảng cừ tràm 61
3.4.7. Gia cố nền bằng cọc tràm (cọc tre) 66
Tổng quan phương pháp thiết kế và thi công đê biển vật liệu địa phương từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
ĐVTH: Trung tâm Thủy công - VKHTL
2
3.4.8. Gia cố nền bằng cọc xi măng - đất 73
3.4.9. Xử lý nền bằng vải địa kỹ thuật 82
3.4.10. Gia cố nền bằng cọc cát - xi măng - vôi 84
3.5. GIẢI PHÁP XỬ LÝ ĐẤT KHỐI ĐẮP 88
3.5.1. Đất đắp vận chuyển từ nơi khác đến 88
3.5.2. Vật liệu tại chỗ 89
3.5.3. Khối đắp pha trộn - chế bị 90
3.6. LỰA CHỌN VÀ TÍNH TOÁN MỘT SỐ KẾT CẤU BẢO VỆ MÁI ĐÊ BIỂN 90
3.6.1. Dạng kết cấu và thành phần cụm công trình 90
3.6 2. Thiết kế lớp bảo vệ mái 93
3.6.3. Thiết kế tầng đệm, tầng lọc 95
3.6.4. Thiết kế chân khay 96
CHƯƠNG IV 98
PHƯƠNG PHÁP THI CÔNG ĐÊ BIỂN VẬT LIỆU ĐỊA PHƯƠNG 98
4.1. THI CÔNG BẰNG THỦ CÔNG 98
5,2.4. Các giải pháp gia cố bảo vệ mái đê biển truyền thống 125
5.3. THI CÔNG ĐÊ BIỂN 126
5.3.1. Quy định chung 127
5.3.2. Thi công bằng thủ công 127
5.3.3. Thi công bằng cơ giới 127
5.3.4. Thi công bằng cơ giới thuỷ lực 128
Tổng quan phương pháp thiết kế và thi công đê biển vật liệu địa phương từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
ĐVTH: Trung tâm Thủy công - VKHTL
3
Chương I
TỔNG QUAN CHUNG HỆ THỐNG ĐÊ BIỂN TỪ QUẢN NINH ĐẾN
QUẢNG NAM
1.1 TÌNH HÌNH CHUNG
Nước ta có trên 3.200km bờ biển, là thuận lợi lớn trong việc phát triển kinh
tế, nhưng cũng là thách thức không nhỏ trong vấn đề đảm bảo an toàn dân sinh,
kinh tế khu vực ven biển. Dọc theo ven biển, hệ thống đê biển đã được hình thành
với quy mô khác nhau, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội,
góp phần t
ăng cường quốc phòng an ninh.
Hệ thống đê biển, đê cửa sông thuộc các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng
Nam có tổng chiều dài khoảng 1.700km. Trước năm 2005, được sự quan tâm của
Nhà nước và các tổ chức quốc tế thông qua các dự án PAM 4617, PAM 5325,
OXFAM, CEC có khoảng 719km đê biển thuộc các đoạn đê xung yếu đã được đầu
tư củng cố, nâng cấp nhằm đảm bảo chống v
ới gió bão cấp 9 với mức nước triều tần
suất 5%. Tuy nhiên, do nguồn vốn đầu tư còn hạn chế nên hệ thống đê biển chưa
đảm bảo kiên cố, chưa đồng bộ, ít được duy tu bảo dưỡng thường xuyên nên bị
xuống cấp nhanh.
Năm 2005 vùng ven biển nước ta liên tiếp chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhiều
cơn bão mạnh vượt mức thiết kế
đê bảo vệ trực tiếp các khu dân cư tập trung phải được
thiết kế bảo đảm an toàn chống với gió bão cấp 12, với mực nước triều trung bình
tần suất 5%.
- Đối với tuyến đê ngoài, đê bảo vệ sản xuất, nuôi trồng thuỷ sản thiết kế
chống gió bão cấp 9, cấp 10 với mức triều trung bình tần suất 5%, chấp nhận một
phần sóng leo tràn qua
đỉnh đê khi gió bão vượt mức thiết kế nhưng không gây vỡ
đê.
Về tiêu chuẩn thiết kế đê biển: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã
ban hành tiêu chuẩn ngành 14 TCN 130 - 2002 Hướng dẫn thiết kế đê biển.
Sau một năm thực hiện Chương trình củng cố, nâng cấp đê biển hiện có
các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Nam, nhóm nghiên cứu tổng hợp đánh giá
một số điểm cơ bản của việc áp dụng quy chuẩn thiế
t kế đê biển của các đơn
vị tư vấn, nhằm khắc phục những tồn tại trong việc thiết kế và tạo sự đồng bộ
giữa các địa phương trong việc củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển hiện có đề
xuất những vấn đề cần làm rõ trong những năm tiếp theo, để từng bước hoàn
thiện quy chuẩn phục v
ụ lâu dài cho việc thiết kế đê biển.
1.2. ĐÊ BIỂN VIỆT NAM - QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
Vùng ven biển nước ta có địa hình thấp trũng, thường xuyên chịu tác động
của thuỷ triều có biên độ lớn, bão với nước biển dâng cao, sóng to, gió lớn gây ảnh
hưởng đến sản xuất, sinh hoạt của nhân dân. Như vậy, hệ thống đê biển được hình
thành từ nhu cầu tất yếu để bảo vệ dân cư và sản xuất của các vùng ven biển. Các
tuyế
n đê biển được đắp từ lâu và thường xuyên được củng cố hàng năm, đê biển
vùng đồng bằng Bắc Bộ phần lớn được đắp từ đời nhà Trần, đê biển Thanh Hoá,
Nghệ An được hình thành từ những năm 1930, phần lớn đê biển và đê cửa sông khu
vực miền Trung được đắp trước và sau năm 1975. Các tuyến đê biển ban đầu được
hình thành chủ y
xây dựng và th
ường xuyên được tu bổ sau mỗi mùa mưa bão. Một số dự án đầu tư
lớn được thực hiện trong những năm gần đây như sau:
- Từ năm 1993 đến năm 1998, cùng với sự giúp đỡ của Chương trình Lương
thực thế giới và đầu tư của Nhà nước thông qua Dự án PAM 4617 đã tập trung khôi
phục, nâng cấp được 456km đê và xây dựng được 224,3km kè thuộc các tỉnh ven
biển mi
ền Trung gồm Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam;
- Từ năm 1996 đến 2000 một số tuyến đê biển xung yếu thuộc các tỉnh
Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình tiếp tục được đầu tư
nâng cấp thông qua dự án PAM 5325. Tổng chiều dài đã khôi phục, nâng cấp
307,98km đê và xây dựng được 75,61km kè tại một số tuyến trọng điểm.
- Sau cơn bão số 4 năm 2000, một số tuyến đê biển, đê cửa sông thuộc tỉnh
Hà Tĩnh bị hư hỏng nặng cũng đã và đang được đầu tư củng cố, nâng cấp bằng
nguồn vốn ngân sách địa phương, đầu tư của Trung ương và hỗ trợ của Ngân hàng
phát triển Châu á nhằm khắc phục hậu quả bão lụt.
- Ngoài ra, với sự hỗ tr
ợ của các tổ chức quốc tế thông qua các dự án như
CARE, CEC, OXFAM khoảng 200km đê biển, đê cửa sông thuộc khu vực miền
Trung cũng đã được đầu tư, nâng cấp đảm bảo chống được với mức triều trung bình
có sóng ứng với gió cấp 7, cấp 8.
Các tuyến đê được đầu tư nâng cấp thông qua dự án PAM, đến nay nhìn
chung ổn định, có thể chống được với mức tri
ều tần suất p = 5% và gió bão cấp 9.
Theo tổng kết của các tỉnh và của Ban Quản lý dự án PAM, các vùng được
đầu tư nâng cấp đê biển đã thay đổi đáng kể mang lại hiệu quả thiết thực, nhờ có
tuyến đê được cải tạo, nâng cấp mà nhân dân yên tâm đầu tư cho sản xuất, xây dựng
cơ sở hạ tầng, tuyến đê biển được nâng cấp góp phần ổn
định sản xuất, tăng diện
c
(Thanh Hoá), chất lượng đất thân đê là thịt nhẹ, đất phù sa cửa sông. Hàm lượng cát tăng
đối với các tuyến đê xa dần cửa sông; một số tuyến đoạn đê được đắp hoàn toàn bằng cát
như đê Hải Thịnh (Nam Định); (2) những tuyến đê biển “ít quan trọng” bảo vệ diện tích
canh tác dưới 2.000 ha đến vài trăm ha, các tuyến đê này phần lớn là các tuyến đê khoanh
2 phía các sông, lạch nh
ỏ các tuyến ven biển tỉnh Quảng Ninh và Thanh Hoá và đê quai lấn
biển. Ngoài 1 số tuyến đê có nhiệm vụ bảo vệ sản xuất là lúa, nhiều tuyến đê là đê nuôi
trồng thủy sản, đê muối, bảo vệ khu du lịch, , chất lượng đất đắp đê là đất thịt nhẹ, đất
phù sa sông. Đê bảo vệ thân đê bằng cát và cát pha này, thân đê thường được bọc bằng một
lớp đất thịt, nhiều tuyến đê không có lớp bọc này nên nguy cơ bị bào mòn và các hư hỏng
cục bộ là rất lớn.
b. Mặt cắt đê:
Mặt cắt đê phổ biến có dạng hình thang. Một số đoạn đê ở Nam Định có dạng hình
thang kép (làm cơ đê phía trong đồng). Đê biển có bề rộng mặt đê nhỏ khoảng từ 3,0m ÷
4,0m, nhiều đoạn đê có chiều rộng mặt đê < 2,0m như một số đoạn thuộc các tuyến đê Hà
Nam, đê biển Bắc Cửa Lục,
đê Hoàng Tân (tỉnh Quảng Ninh), đê biển số 5, số 6, số 7 và số
8 (tỉnh Thái Bình), đê Cát Hải (TP. Hải Phòng); Mái dốc phía biển 2/1 ÷ 3/1 (đối với đoạn
đê đã được nâng cấp từ 3/1 ÷ 4/1), mái phía đồng từ 1,5/1 ÷ 2/1 (đối với đoạn đê được
nâng cấp từ 2/1 ÷ 3/1); Cao độ đỉnh đê dao động từ +3,5 ÷ +5,0, một số nơi sau khi được
đầu tư
bởi dự án PAM 5325 có cao độ đỉnh đê (hoặc tường chắn sóng) là +5,5 như đê biển
Hải Hậu, Giao Thủy (Nam Định), đê biển số I và số II (Hải Phòng). Hình 1.1 dưới đây là
tổng hợp một số mặt cắt đê biển điển hình của 6 tỉnh miền Bắc.
Tng quan phng phỏp thit k v thi cụng ờ bin vt liu a phng t Qung Ninh n Qung Nam
VTH: Trung tõm Thy cụng - VKHTL
7
m
=
3
,
5
+5,00
Tổng quan phương pháp thiết kế và thi công đê biển vật liệu địa phương từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
ĐVTH: Trung tâm Thủy công - VKHTL
8
Hình 1.1.b. Mặt cắt ngang đê biển Hải Phòng
+ Loại I: Kè mái bằng hai kết cấu: phía trên (từ cao trình +3,5 đến +5) kè bằng hình thức
khung đá xây bên trong lát đá hộc, phía dưới là kết cấu bê tông đúc sẵn. Đỉnh kè có tường
chắn sóng bằng đá xây vữa M100, chân kè chôn ống buy cao 2m, bên trong đổ một lớp cát
dày 50cm sau đó đổ đá hộc lên trên kết hợp thả rọ đá gia cố phía ngoài.
+ Loại II: Hình thức gần giống với kết cấu kè loại một chỉ khác là trong ống buy chỉ đổ đá
hộc và phía ngoài thả đá hộc gia cố chân.
+ Loại III: Tại một số đoạn đê chưa hoàn thiện cao trình đỉnh đạt từ 3 ÷ 4,5m, bề rộng
đỉnh từ 3 ÷12m, kè mái bằng đá lát đá khan đến cao trình +3,5.
+ Loại IV: Kè mái bằng hình thức đá lát khan trong khung đá xây, đỉnh kè có tường chắn
sóng cao 0,5m, chân kè lót một lớp đệm bằng tre rộng 2m bên trên thả đá hộc, phía ngoài
đóng cọc tre dài 2m gia cố.
Tổng quan phương pháp thiết kế và thi công đê biển vật liệu địa phương từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
ĐVTH: Trung tâm Thủy công - VKHTL
9
+ Loại II
: Kè mái bằng hình thức thả rồng đá lát mái hộ bờ dưới chân thả đá hộc gia cố.
Tổng quan phương pháp thiết kế và thi công đê biển vật liệu địa phương từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
ĐVTH: Trung tâm Thủy công - VKHTL
11
+ Loại III: Kết cấu mặt cắt đê không gia cố.
m
=
3
m
=
2
Mặt cắt đại diện cho đoạn đê cửa sông
m
=
4
m
=
2
sóng gây sạt lở.
e. Tình trạng ổn định đê biển:
Qua thu thập tình hình làm việc của đê biển ở các tỉnh ven biển Bắc Bộ có thể đánh
giá tình trạng ổn định của đê biển chung như sau:
- Để ổn định trong điều kiện khí tượng hải văn bình thường; mực nước triều trung bình đến
cao, có gió dưới cấp 7. Dưới điều kiện như vậy đê biển không có hư hỏng đáng kể đối v
ới
các tuyến đê trực tiếp với biển và đê vùng cửa sông (nếu mái đê được bảo vệ). Trừ trường
hợp đê biển Hải Hậu khi gió mùa đông Bắc cấp 6, 7 duy trì thời gian dài gặp triều cường
đê kè bị hư hỏng nhiều nơi.
Trong điều kiện bình thường có thể xẩy ra những hư hỏng nhỏ cục bộ đối với đê bi
ển như
xói mái đê phía biển dưới tác dụng của sóng và làm dịch chuyển các hòn đá kè lát mái. Xói
mặt và mái đê 2 phía thành rãnh sâu do mưa, nhất là những đoạn đê có thành phần hạt cát
nhiều; sạt trượt mái đê phía đồng hoặc hiện tượng rò rỉ thẩm lậu với đê cửa sông khi gặp lũ
và triều cao.
- Đê mất ổn định trong điều kiện khí tượng hải văn không bình thường: m
ực nước triều cao
hoặc trung bình, có gió cấp 8 trở lên; là trường hợp đê biển phải làm việc trong bão khi gió
cấp 8, 9 gặp triều cao hoặc gió cấp 10, 11 gặp triều bình thường. Các dạng đê biển Bắc Bộ
hư hỏng trong trường hợp này thường gặp là:
Sạt trượt mái đê phía biển những đoạn có mái đá lát hoặc mái cỏ dọc theo tuyến đê,
đặc biệt là các đoạn đ
ê trực tiếp sóng gió và có độ dốc bãi lớn (1 ≥ 0,002). Có trường hợp
mái sạt sập và sóng nước cuốn mất 1/2 ÷ 1/3 thân đê. Sạt trượt mái đê phía biển trong gió
bão là hiện tượng phổ biến nhất và hư hỏng đê biển Bắc Bộ không chỉ đối với các tuyến đê
chất lượng đất là cát mà ngay cả những đoạn đê lát đá kè bảo vệ mái, , sau các trận bão
phần l
ớn khối lượng đê khối phục đê biển là đắp trả lại mái đê phía biển.
được hình thành qua nhiều thế hệ, bảo vệ cho sản xuất, dân sinh kinh tế của các
vùng trũng ven biển. Tuy nhiên, hệ thống đê sông, đê biển hiện nay mới chỉ có thể
đảm bả
o an toàn ở mức độ nhất định tuỳ theo tầm quan trọng về dân sinh, kinh tế
từng khu vực được bảo vệ, một số tuyến đê đã được đầu tư khôi phục, nâng cấp
thông qua các dự án PAM và các dự án hỗ trợ của ADB có thể chống với gió bão
cấp 9 và mức nước triều tần suất 5%, nhiều tuyến chưa được tu bổ, nâng cấp chỉ có
thể đảm b
ảo an toàn với gió bão cấp 8. Mặt khác, do điều kiện kinh tế việc đầu tư
chưa được tập trung đồng bộ, kiên cố, lại chịu tác động thường xuyên của mưa bão
nên hệ thống đê, kè biển vẫn tiếp tục bị xuống cấp như đê biển tại các tỉnh miền
Trung, Nam Định, Hải Phòng, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, đặc biệt đê biển Giao Thuỷ,
Hải H
ậu - Tỉnh Nam Định.
Đê biển nước ta không liền tuyến do bị chia cắt bằng nhiều cửa sông lớn nhỏ,
các tuyến đê biển thường nối tiếp với các tuyến đê cửa sông để tạo thành các tuyến
khép kín bảo vệ các vùng ven biển, tổng chiều dài đê cửa sông cũng gần xấp xỉ với
chiều dài đê trực tiếp biển. Các tuyến đê biển, đ
ê cửa sông từ Quảng Ninh đến
Quảng Nam có tổng chiều dài khoảng 1.700 km, trong đó có khoảng 853 km đê
biển, đê cửa sông là đê cấp III hoặc là đê được đầu tư chủ yếu bằng ngân sách
Trung ương.
Sau quá trình đầu tư khôi phục, cải tạo, nâng cấp thông qua các dự án và việc
đầu tư tu bổ hàng năm, hiện trạng các tuyến đê biển tại các khu vực có thể tóm tắt
chung như sau:
1. Đê biển các tỉnh Bắc Bộ: Các tỉnh từ Quảng Ninh đến Ninh Bình.
Vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ là nơi có địa hình thấp trũng, là một trung
tâm kinh tế của cả nước - đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, tập trung dân cư đông
đúc. Đây là vùng biển có biên độ thuỷ triều cao (khoảng 4 mét) và nước dâng do
bão cũng rất lớn. Để bảo vệ sản xuất và sinh hoạt c
nay rừng cây chắn sóng bị phá huỷ, đê trở thành trực tiếp chịu tác động của sóng,
thuỷ
triều nên nếu không được bảo vệ sẽ có nguy cơ vỡ bất cứ lúc nào. Có đoạn
trước đây đê có 2 tuyến nên tuyến đê trong không được bảo vệ mái, đến nay tuyến
đê ngoài đã bị vỡ nên tuyến đê trong cấp thiết phải được củng cố, bảo vệ chống vỡ.
- Còn 257,5 km đê biển, đê cửa sông chưa đảm bảo cao trình thiết kế
,
cao độ đỉnh đê khoảng từ +3,5 ÷ + 5,0m trong khi cao độ thiết kế là từ +5,0 ÷
+5,5m.
- Đa số các tuyến đê ban đầu được đắp có chiều rộng mặt đê ≤ 3,0m, đến nay
trừ các tuyến đê biển số I, II, III (chiều dài khoảng 46,913km) thuộc Hải Phòng
có chiều rộng mặt đê B = 5,0m, còn lại 152,5km đê có chiều rộng khoảng 4,0 ÷
4,5m, 150 km có chiều rộng 3,0 ÷ 4,0m và 125 km có chiều rộng <3,0m, cá bi
ệt
có nơi chỉ rộng 1,6 ÷ 2,5m. Chiều rộng mặt đê nhỏ gây khó khăn cho việc giao
thông cũng như kiểm tra, ứng cứu đê như các tuyến đê Hà Nam (tỉnh Quảng Ninh),
đê biển Hải Hậu, Giao Thuỷ (Nam Định), đê biển số 5, 6, 7, 8 (Thái Bình), v.v
- Trừ một số đoạn đê đã được cải tạo nâng cấp để kết hợp giao thông ở Hải
Phòng,
hầu hết mặt đê chưa được gia cố cứng hoá nên khi mưa lớn hoặc trong
mùa mưa bão mặt đê thường bị sạt lở, lầy lội, nhiều đoạn không thể đi lại được.
Tổng quan phương pháp thiết kế và thi công đê biển vật liệu địa phương từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
ĐVTH: Trung tâm Thủy công - VKHTL
15
- Đến nay mới xây dựng được khoảng gần 90km kè bảo vệ mái/484km đê
biển, nên những nơi mái đê phía biển chưa có kè bảo vệ hoặc không còn cây chắn
sóng vẫn thường xuyên bị sạt lở hoặc có nguy cơ sạt lở đe doạ đến an toàn của đê
biển, đặc biệt là trong mùa mưa bão.
- Đất đắp đê chủ yếu là đất cát pha, có độ chua lớn không trồng cỏ
được, có
các tuyến đê biển Bắc Trung Bộ như sau:
- Còn khoảng 222,8 km đê biển, đê cửa sông thấp, nhỏ, chưa đảm bảo cao
trình chống lũ, bão theo tần suất thiết kế
(cao độ đỉnh đê còn thiếu từ 0,5 ÷ 1,0m so
với cao độ thiết kế).
- Chiều rộng mặt đê còn nhỏ: chỉ có khoảng 29 km có chiều rộng khoảng
4,0m, 192km có chiều rộng B = 3,0 ÷ 4,0m, vẫn còn 185,4 km có chiều rộng mặt
đê dưới 3,0m, nhiều đoạn mặt đê nhỏ hơn 2,0m gây khó khăn trong việc chống
lũ, bão cũng như giao thông (nhiều tuyến đê xe ô tô không thể đi lại dọc theo tuy
ến
đê).
Tổng quan phương pháp thiết kế và thi công đê biển vật liệu địa phương từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
ĐVTH: Trung tâm Thủy công - VKHTL
16
- Bãi biển ở một số đoạn vẫn có xu hướng bị bào mòn, hạ thấp gây sạt lở
chân kè, đe doạ đến an toàn của đê biển như đoạn Ninh Phú, Hậu Lộc (tỉnh Thanh
Hoá), đoạn kè Cẩm Nhượng, đê Hội Thống (tỉnh Hà Tĩnh).
- Toàn bộ mặt đê chưa được gia cố cứng hoá, lại không bằng phẳng nên về
mùa mưa bão mặt đê th
ường bị sạt lở, lầy lội nhiều đoạn không thể đi lại được.
- Mái phía biển nhiều nơi chưa được bảo vệ, vẫn thường xuyên có nguy cơ
sạt lở đe doạ đến an toàn của đê, đặc biệt là trong mùa mưa bão.
- Mái đê phía đồng chưa được bảo vệ nên bị xói, sạt khi mưa lớn hoặc sóng
tràn qua.
- Dải cây chắn sóng trước đê bi
ển, đặc biệt là đê cửa sông nhiều hơn ở vùng
biển Bắc Bộ nhưng chưa đủ, cần tiếp tục trồng cây chống sóng và tăng cường công
tác quản lý, bảo vệ.
- Một vấn đề tồn tại lớn đối với các tuyến đê biển Bắc Trung Bộ là hệ thống
cống dưới đê rất nhiều về số lượng, hầu hế
động của sóng, gió được xây dựng kè bảo vệ, hầu hết mái đê được bảo vệ bằng cỏ,
Tổng quan phương pháp thiết kế và thi công đê biển vật liệu địa phương từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
ĐVTH: Trung tâm Thủy công - VKHTL
17
đê vùng cửa sông được bảo vệ bằng cây chắn sóng với các loại cây sú, vẹt, đước.
Một số tồn tại chính của các tuyến đê biển Trung Trung Bộ như sau:
- Còn 238,8 km đê biển, đê cửa sông chưa được đầu tư tu bổ, nâng cấp
nên còn thấp nhỏ, chưa đảm bảo cao độ thiết kế.
- Trừ 1,5km đê Liên Hiệp thuộc thành phố Đà Nẵng có chiều rộ
ng mặt đê ≥
4,0m, còn lại 562km có chiều rộng mặt đê < 3,5m, trong đó có đến 272 km mặt
đê chỉ rộng từ 1,5 ÷ 3,0m. Chiều rộng mặt đê nhỏ gây khó khăn rất lớn trong việc
giao thông cũng như cứu hộ đê.
- Toàn bộ mặt đê chưa được gia cố cứng hoá, về mùa mưa bão mặt đê
thường bị lầy lội nhiều đoạn không th
ể đi lại được.
- Đến nay mới có khoảng 165km được xây dựng kè bảo vệ mái, phần lớn
mái đê phía biển chưa được bảo vệ, một số nơi đã được bảo vệ nhưng chưa đồng bộ
hoặc chưa đủ kiên cố nên vẫn thường xuyên bị sạt lở đe doạ đến an toàn của các
tuyến đê biển.
- Ngoài 22,5km
đê thuộc Thừa Thiên Huế và một số đoạn đê thuộc Quảng
Nam được gia cố 3 mặt, còn lại đa số mặt đê và mái đê phía đồng chưa được gia cố
nên rất dễ bị xói, sạt khi lũ, bão gây nước dâng tràn qua.
- Chưa đủ các đường tràn hoặc đoạn đê bảo vệ ba mặt có thể hoạt động như
đường tràn.
- Cần tiếp tục trồ
ng cây chống sóng và tăng cường công tác quản lý, bảo vệ.
- Cũng như vùng Bắc Trung Bộ, số lượng cống dưới đê rất lớn và đã được
xây dựng từ vài chục năm trước, với kết cấu tạm bợ, có khi cống không có cánh mà
Sau gần một năm triển khai Chương trình còn một số vấn đề như sau:
- Các tỉnh mới tập trung vốn đầu tư xây dựng công trình đê, kè, việc trồng
cây chắn sóng trước đê chưa được quan tâm đúng mức
- Việc triển khai thực hiện ở các tỉnh không đồng đều, chỉ mới có một số tỉnh
đã triển khai tốt công việc đó là: Quảng Ninh, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa,
Thừ
a Thiên Huế khối lượng thực hiện đến nay đã vượt mức kế hoạch được giao,
còn lại các địa phương khác triển khai rất chậm nhất là Hải Phòng, Quảng Bình,
Quảng Trị.
1.4. CƠ CHẾ PHÁ HUỶ ĐÊ BIỂN (qua các cơn bão năm 2005) VÀ ĐỊNH
HƯỚNG CỦNG CỐ, NÂNG CẤP ĐÊ BIỂN GIAI ĐOẠN 2006 ĐẾN 2010
1.4.1. Cơ chế phá huỷ đê biển
Năm 2005, trong một th
ời gian ngắn 3 trận bão mạnh là bão số 2, số 6, số 7
(bão Damrey) đổ bộ vào đất liền làm nhiều đoạn thuộc các tuyến đê biển Cát Hải,
đê biển I, đê biển II (Hải Phòng), đê biển Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng (Nam
Định), đê biển I Vích - Hậu Lộc, Hoằng Thanh - Hoằng Hoá (Thanh Hoá) đã bị
tràn, vỡ, sạt lở nghiêm trọng. Trong khi đó, các tuyến đê biển thuộc các tỉ
nh Thái
Bình, Ninh Bình hoặc một số đoạn của đê biển I - Đồ Sơn (Hải Phòng) chỉ bị hư
hỏng nhẹ, ảnh hưởng không đáng kể. Từ thực tế vỡ đê qua các cơn bão trong năm
2005 có thể tổng kết một số cơ chế phá huỷ như sau:
1. Kết cấu kè bảo vệ mái đê phía biển những đoạn trực tiếp chịu tác
động của sóng
còn chưa đủ kiên cố, đồng bộ để chống gió bão cấp 11, cấp12:
Hầu hết các đoạn đê bị phá hỏng là trực diện với biển chịu tác động trực tiếp
của sóng lớn. Thực tế qua các trận bão năm 2005 cho thấy, những đoạn đê trực tiếp
biển, mái phía biển được bảo vệ bằng đá hộc lát khan, đá xây t
ừ cao trình +3,50 trở
lên (từ cao trình +3,50 trở xuống bảo vệ bằng cấu kiện bê tông do trước đây không
thành với khoảng 3.000 km đê biển, đê cửa sông cùng với hệ thống
đê sông tạo
thành những vùng khép kín.
Sau khi thống nhất đất nước, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và được
sự giúp đỡ của các tổ chức Quốc tế, hệ thống đê biển đã được đầu tư và liên tục
được củng cố cả về quy mô và chất lượng.
Cùng với sự phát triển của đất nước, sự gia tăng về dân số, trong những năm
qua d
ải đất đồng bằng ven biển ngày càng được quan tâm đầu tư khai thác, cơ cấu
sản xuất chuyển đổi theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công
nghiệp, dịch vụ, du lịch và nuôi trồng, khai thác thuỷ, hải sản, Kinh tế phát triển,
dân số tăng nhanh, nhiều công trình hạ tầng quan trọng như giao thông, thuỷ lợi,
nhiều nhà máy, xí nghiệp, vùng kinh tế, du lịch trọng điểm đ
ã được đầu tư xây dựng
đã làm thay đổi bộ mặt vùng đất ven biển vốn hoang vu, nghèo nàn và lạc hậu. Tuy
nhiên sự phát triển không đồng bộ, khai thác thiếu quy hoạch như xây dựng quá sát
biển, chặt phá rừng phòng hộ ven biển cùng với sự thay đổi khí hậu toàn cầu làm
thiên tai lũ bão ngày càng khốc liệt, số cơn bão tăng cả về tần suất và cường độ,
mực nước biển có xu thế dâng cao; hệ th
ống đê biển, đê cửa sông chưa được đầu tư
tương xứng, chỉ một số đoạn đê xung yếu mái đê được bảo vệ bằng lát cấu kiện bê
tông và đá lát khan, việc tu bổ hàng năm chưa được như mong muốn (do kinh phí
hạn chế) nên bị xuống cấp, khó đảm bảo an toàn khi gặp tổ hợp triều và bão vượt
thiết kế. Điề
u đó đã đặt vùng đất ven biển hiện nay đứng trước nguy cơ phát triển
không bền vững. Điển hình như trận bão số 2, số 6, số 7 và số 8 năm 2005 đã gây
tràn, vỡ và hư hỏng nhiều đoạn đê biển ở phía Bắc, và Bắc Trung Bộ nơi có hệ
Tổng quan phương pháp thiết kế và thi công đê biển vật liệu địa phương từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
ĐVTH: Trung tâm Thủy công - VKHTL
20
ải pháp công trình và
phi công trình, trong đó chú trọng trồng dải cây chắn sóng tạo rừng ngập mặn,
phòng hộ trước đê biển để đảm bảo ổn định lâu dài và có các biện pháp, cơ chế
thích hợp để quản lý, bảo vệ cây chắn sóng, coi đây là một bộ phận của đê biển. Cụ
thể:
(i) Về mức bảo đảm an toàn đối với đê biển: Mong muốn của chúng ta là
ch
ống được với mức càng cao thì càng tốt, đặc biệt sau bão số 7 năm 2005 dư luận
chung mong muốn hệ thống đê biển phải chống đỡ được bão cấp 12. Tuy nhiên do
mức đảm bảo của đê liên quan đến yếu tố kinh tế - kỹ thuật và tiềm lực của Quốc
gia, đồng thời ngoài việc củng cố bản thân con đê vẫn có những biện pháp khác để
nâng mức đả
m bảo khả năng chống đỡ của con đê. Do vậy hiện nay chọn mức đảm
bảo cho đê là chống gió bão cấp 10, đối với những khu dân cư chọn cấp 12, mức
triều tần suất 5%.
(ii) Về tuyến: Việc lựa chọn tuyến đê biển có vai trò quyết định. Đối với
Tổng quan phương pháp thiết kế và thi công đê biển vật liệu địa phương từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
ĐVTH: Trung tâm Thủy công - VKHTL
21
những tuyến đê hiện có điều chỉnh tuyến về phía đồng, hạn chế những đoạn đê sát
ven biển (như khu vực Ninh Phú - tỉnh Thanh Hoá và một số tuyến đê thuộc tỉnh
Nghệ An, Nam Định, ) hoặc xây dựng đê biển theo 2 tuyến, tuyến ngoài chủ yếu
bảo vệ sản xuất, tuyến trong là tuyến đê dự phòng bảo vệ dân cư. Ngoài ra cần rà
soát xây d
ựng khép kín tuyến đê nhằm đảm bảo hiệu quả trong việc ngăn lũ, ngăn
triều.
(iii) Kết cấu đê biển: Đê phải được xây dựng đồng bộ, kiên cố hơn theo
hướng củng cố vững chắc, làm đâu được đấy.
- Chiều rộng mặt đê tối thiểu phải từ 5,0m đến 6,0m để kết hợp phục vụ giao
thông và là tuyế
đảm bảo hiệu quả cắt giảm sóng.
Trường hợp bãi trước đê rộng có thể xem xét cho khai thác một phần diện
tích phục vụ nuôi trồng thuỷ sản nhưng phải đảm bảo cách xa chân đê tối thiểu
200m theo như qui định tại Nghị định 171/2003/NĐ-CP ngày 26/12/2003 của Chính
phủ, đồng thời không được đắp b
ờ bao khép kín làm chết cây chắn sóng trước đê.
Tổng quan phương pháp thiết kế và thi công đê biển vật liệu địa phương từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
ĐVTH: Trung tâm Thủy công - VKHTL
22
Khu vực bãi hiện đang nuôi trồng thuỷ sản, làm muối, khai thác du lịch trước đê thì
cần có phương án, kế hoạch cụ thể đền bù cho nhân dân và thu hồi phần đất đã giao
sử dụng cho các mục đích khác để trồng cây chắn sóng.
- Đối với các khu vực chưa có bãi hoặc khu vực biển tiến: Xây dựng công
trình giữ bãi bảo vệ đê biển như xây dựng hệ thống kè mỏ hàn ngang, mỏ hàn d
ọc
để chống hạ thấp bãi (có thể gồm cả mỏ hàn cứng truyền thống như ống buy bê tông
đúc sẵn, mỏ hàn kết cấu mềm như lươn cát, )
- Đối với những khu vực chưa có bãi: Có biện pháp tạo bãi như gây bồi,
phun cát nuôi bãi, sau đó trồng cây chắn sóng để đảm bảo ổn định lâu dài.
(v) Các cống dưới đê: Củng cố, nâng cấp đảm bảo phù hợp vớ
i quy hoạch
phát triển sản xuất, đáp ứng yêu cầu tránh trú bão của ngư dân theo hướng gom
cống để hạn chế số lượng cống dưới đê.
Về lâu dài, để nâng tiếp tục mức bảo đảm an toàn của đê biển, trên cơ sở
tuyến đê đã được củng cố, nâng cấp sẽ kết hợp với các biện pháp khác như trồng
cây tạo rừng ngậ
p mặn chắn sóng, xây dựng hệ thống mỏ hàn tạo bãi, bơm cát nuôi
bãi nhằm giảm sóng, v.v
1.5. CÁC GIẢI PHÁP CỦNG CỐ, NÂNG CẤP ĐÊ BIỂN
1.5.1. Giải pháp về tuyến (tuyến đê hiện có)
vụ giao thông nông thôn và tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, ứng cứu, hộ
đê trong mùa mưa, bão. Đồng thời về lâu dài các tuyến đê biển cần nâng tầm lên là
tuyến giao thông trọng điểm phục vụ phát triển kinh tế ven biển, du lịch và tạo
tuyến vành đai bảo vệ quốc phòng, an ninh.
(iv). Bảo vệ mái đê phía biển:
- Xây dựng kè bảo vệ mái đê phía biển bằng cấu kiện phù hợp, bảo đảm ổn
định và mỹ quan công trỡnh.
- Xây dựng hệ thống mỏ hàn giữ bói hoặc kè giảm súng.
- Tạo rừng ngập mặn chống sóng b
ảo vệ đê, đồng thời cải tạo hệ sinh thái
ven biển tại các khu vực có điều kiện trồng cây chắn sóng.
(v). Bảo vệ mái đê phía đồng:
- Gia cố bằng vật liệu cứng, trồng cỏ mái phía đồng tại những đoạn đê chịu
tác động mạnh của sóng.
- Xây dựng các đường ngang (đường xương cá) phía đồng: Vừa để kết hợp
cứu h
ộ, cứu nạn khi cần vừa giảm diện tích ngập lụt khi xẩy ra tình huống vỡ đê
giảm thiểu thiệt hại.
(vi). Đối với đê vùng cửa sông không chịu tác động mạnh của sóng: Trồng
cỏ mái thượng lưu và mái hạ lưu.
(vii). Đối với đê miền trung: Gia cố bảo vệ 3 mặt để đảm bảo ổn định khi lũ,
triều vượt t
ần suất thiết kế.
(viii). Qui hoạch, xây dựng, nâng cấp các cống dưới đê bảo đảm an toàn đê
và phù hợp với sự phát triển sản xuất, tiêu úng, kiểm soát mặn,
1.4.3. Giải pháp phi công trình
- Tăng cường công tác dự báo, cảnh báo nguy cơ sạt lở, xói mòn bãi biển, bờ
biển.
- Nghiên cứu ban hành các văn bản mang tính pháp lý để quản lý vùng bãi
ven biển nhằm hạn chế thiệt hại do việc xây dựng công trình, nhà cửa vào các khu