TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
CÂU 1: Trình bày nguồn gốc hình thành của tư tưởng HCM. Ý nghĩa của việc học tập và
nghiên cứu tư tưởng HCM đối với bản thân.
Khái niệm: “TTHCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản
của CMVN, từ CMDTDCND đến CMXHCN là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo
CN Mác Lênin, vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ
thời đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con
người, bao gồm:
Tư tưởng HCM về dân tộc và Cách Mạng giải phóng dân tộc.
Tư tưởng HCM về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Tư tưởng HCM về Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Tư tưởng HCM về Đại Đoàn Kết dân tộc.
Tư tưởng HCM về Quân sự.
Tư tưởng HCM về Xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Tư tưởng HCM về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại.
Tư tưởng đạo đức HCM.
Tư tưởng nhân văn HCM.
Tư Tưởng văn hóa HCM.
I. Cở sở hình thành TTHCM: 2 cơ sở(khách quan và chủ quan)
1. Khách quan:
a. Bối cảnh lịch sử(VN và TG):
* XHVN cuối TK XĨ đầu TK XX:
- Năm 1858, Pháp xâm lược VN -> Biến VN thành nước thuộc địa nửa PK -> Tác động đến XH
VN((tích cực và tiêu cực)
- Triều đình nhà Nguyễn thỏa hiệp -> đời sống nhân dân khổ cực
- Phong trào yêu nước phát triển mạnh nhưng đều thất bại do: Bị đàn áp, chưa có hệ tư tưởng,
đường lối, chưa có sự đoàn kết, chưa có vị lãnh tụ đủ sức lãnh đạo phong trào. Nhu cầu lịch sử
cần phải có những điều kiện trên
* Bối cảnh thời đại:
- CNTB chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, 9 nước đế quốc thâu tóm toàn bộ các nước Á,
Phi, Mĩ Latinh -> những mâu thuẩn do CNĐQ gây ra qua 2 cuộc chiến tranh thế giới(1,2) -> đòi
không phải là tất cả lịch sử nhân loại”
2. Nhân tố chủ quan: Năng lực tư duy và hoạt động thực tiễn của NAQ
- Bác là người thông minh, tư duy độc lập, có đầu óc phê phán, sống có hoài bão, lí tưởng
- Bác là người yêu nước, thương dân, chịu đựng gian khổ hi sinh
- Bác là người mẫu mực về đạo đức CM, tác phong giản dị khiêm tốn, có sức cảm hóa đối với
mọi người
II. Quá trình hình thành và phát triển TTHCM: 5 giai đoạn
1. Thời kì hình thành TT yêu nước(1890-1911)
2. Thời kì tìm tòi con đường cứu nước giải phóng DT(1911-1920)
3. Thời kì hình thành cơ bản tư tưởng của CMVN(1921-1930)
4. Thời kì kiên trì thử thách giữ vững quan điểm nêu cao tư tưởng độc lập tự do và quyền DT cơ
bản(1930-1945)
5. Thời kì tiếp tục phát triển TT về ĐLDT + CNXH(1945-1969)
III. Giá trị TTHCM:
1. Đối với CMVN:
* TTHCM là di sản văn hóa tinh thần của DT VN: chứa đựng những giá trị văn hóa tâm hồn
người Việt, có kế thừa chọn lọc tinh hoa VH nhân loại
* Là nền tảng TT và kim chỉ nam cho hành động của CM VN: định hướng con đường phát triển
của DT(trong quá khứ+hiện tại)
2. Đối với sự nghiệp CMTG:
- TTHCM phản ánh khát vọng của các dân tộc bị áp bức -> tìm ra con đường giải phóng các dân
tộc trên thế giới, cổ vũ các dân tộc đấu tranh thoát khỏi ách thống trị của CNTD
- TTHCM bổ sung thêm kho tàng lí luận Mác-Lenin: giải phóng các dân tộc thuộc địa, ĐLDT +
CNXH, mối quan hệ giữa vấn đề DT + GC, sự chủ động sáng tạo không trông chờ vào các dân
tộc khác
* Ý nghĩa của việc học tập nghiên cứu TTHCM
- TTHCM soi đường cho Đảng và nhân dân VN trên con đường xây dựng đất nước vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
- Đối với thế hệ trẻ nói chung với học sinh, sinh viên trong các trường cao đẳng, đại học nói
riêng cần đặc biệt coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, đặc biệt là giasoo
đó.
- ĐLDT là khác vọng lớn nhất của các dân tộc thuộc đia. HCM nói:”tự do cho đồng bào
tôi, ĐL cho tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là những điều tôi hiểu”.
- Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống,
quyền sung sướng và quyền tự do.
- Năm 1919, NAQ gửi tới hội nghị Vacxay(Pháp) bảng yêu sách gồm 8 điểm, đòi quyền tự
do dân chủ cho nhân dân VN.
- Năm 1930 trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, HCM xác định mục tiêu:”đánh
đổi độc quyền chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam hoàn toàn ĐL”
- Năm 1941 người chỉ đạo VN thành lập đồng minh (Việt Minh), ra báo VNĐL, ban bố 10
chính sách của Việt Minh, trong đó mục tiêu là “cờ treo ĐL, nền xây binh quyền”
- Năm 1945 người thay quyền chính phủ lâm thời đọc Tuyên Ngôn Độc Lập, long trọng
khẳng định trước toàn thế giới:”Nước VN có quyền hưởng tự do và ĐL và sự thật đã
thành 1 nước tự do ĐL. Toàn thể dân tộc VN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng tính
mạng và của cải để giữ vững quyền tự do ĐL ấy”
- Ngày 19/12/1946 kháng chiến toàn quốc bùng nổ thực hiện quyết tâm bảo vệ ĐL và chủ
quyền dân tộc. Người ra lời kêu gọi vang dội núi sông:”Không!chúng ta thà hy sinh tất cả
chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”
- Ngày 17/7/1966 HCM nêu lên một chân lý:”không có gì quý hơn ĐLTD” ; “trên đời
ngàn vạn điều cay đắng, cay đắng chi bằng mất tự do”
• Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta phải làm gì để giữ vững quyền độc lập tự do
của đất nước.
- Khơi dậy sức mạnh của CN yêu nước là tinh thần dân tộc, nguồn động lực mạng mẽ để
xây dựng và bảo vệ đất nước.
- Nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên quan điểm giai cấp.
- Chăm lo khối Đại Đoàn Kết dân tộc giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc anh em và
trong cộng động DTVN
Vì vậy, đi đôi với tăng cường giáo dục CN Mác-Leenin cần làm cho TTHCM về sự kết hợp
dân tộc và giai cấp, CN yêu nước và CNĐQ, ĐLDT và CNXH, được quán triệt sâu sắc trong
toàn Đảng, toàn dân, lấy đó làm định hướng cho việc nhận thức và giải quyết các vấn đề của
+ Theo HCM, do kinh tế còn lạc hậu chưa phát triển nên sự phân hóa giai cấp ở Đông
Dương chưa triệt để nên vì thế cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương
Tây. Các giai cấp vẫn còn có sự tương đồng lớn dù là địa chủ hay nông dân họ đều chung số
phận là mất nước.
+ Từ sự phận tích đó, người kiến nghị về cương lĩnh hoạt động của quốc tế cộng sản là:”phát
động CNDT bản xứ nhân danh quốc tế cộng sản khi CNDT của họ thắng lợi nhất định
CNDT ấy sẽ biến thành CNQT”
- HCM đã đánh giá cao sức mạnh của CNDT mà những người Cộng Sản phải nắm lấy và
phát huy. Người cho đó là một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời. CNDT bản xứ
nhân danh QTCS mà HCM đề cập ở đây là CNDT chân chinhsm chứ không phải là
CNDT hẹp hòi.
* Trách nhiệm bản thân
Câu 4: Trình bày tư tưởng HCM về những mục tiêu, động lực của chủ nghĩa xã hội.
Khái quát khái niệm TTHCM, Báo cáo chính trị Đại hội 9 (tháng 4/2001) khẳng định: “TTHCM
là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của CMVN, từ
CMDTDCND đến CMXHCN là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo CN Mác Lênin,
vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại trong sự
nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người
• Mục tiêu:
- Mục tiêu chung:
+ Mục tiêu trực tiếp: Ở HCM mục tiêu của CNXH và mục tiêu phấn đấu của Người là một,
đó là Độc Lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân, Người nói:”tôi chỉ có 1 sự ham
muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn Độc Lập, dân ta được hoàn
toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”
+ Mục tiêu gián tiếp: Có khi người nói 1 cách gián tiếp không nhắc đến CNXH, nhưng xét
về bản chất đó cũng chính là mục tiêu của CNXH theo quan niệm của Người. Kết thúc di
chúc,HCM viết:”Điều mong muốn cuối cùng của tôi là toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta
đoàn kết phấn đấu, xây dựng 1 nước VN hòa bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu
mạnh, góp phần xứng đáng 1 nước Vn hòa bình thống nhất”
+ Mục tiêu cao nhất: Là nâng cao đời sống nhân dân, đó là sự tin tưởng cao độ vào lý tưởng
và các nhân.
- Cộng đồng: Khơi dậy sức mạnh của CN yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc -> nguồn
động lực chủ yếu để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước
- Cá nhân: + Tác động nhu cầu lợi ích chính đáng của người lao động, các chính sách
thưởng, khoán, tiền lương
+ Tác động vào các động lực tinh thần: dân chủ, công bằng
2. Khắc phục thành công các trở lực kìm hãm sực phát triển của CNXH
- CN cá nhân
- Tham ô, lãng phí, quan liêu: chủ tịnh HCM gọi là đồng minh của đế quốc phong kiến.
- Bảo thủ, trì trệ, lười biếng không chịu học tập cái mới
- Chia rẽ bè phái mất đoàn kết nội bộ.
Câu 5: Tại sao nói: Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược bảo đảm thành
công của cách mạng. Liên hệ với thực tiễn cách mạng ở nước ta.
• Cơ sở hình thành TTHCM về Đđk dân tộc:
Cơ sở nhận thức lý luận
- Từ truyền thống yêu nước nhân ái, đoàn kết của dân tộc VN
+ Là 1 thứ tình cảm tự nhiên của người Việt
+ Là 1 thứ triết lý nhân sinh
+ Là 1 phép ứng xử của tư duy chính trị: tình làng nghĩa xóm, nước mất nhà tan
- Theo CN Mác-Lênin
+ CM là sự nghiệp của quần chúng
+ Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử
+ Vô sản các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đoàn kết lại
Cơ sở thực tiễn:
- Các phong trào cứu nước của nhân dân ta và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới ở
cuối TK 20 thể hiện sức mạnh đoàn kết chống giặc ngoại xâm, luôn luôn tìm ẩn trong
mỗi người VN và trong các dân tộc bị áp bức để chống lại CNĐQ, CNTD, CNPK. Đó là
cơ sở thực tiễn của Dđk dân tộc.
• Định nghĩa Dđk dân tộc theo TTHCM
Dđk dân tộc là 1 hệ thống những quan niệm, những luận điểm, những nguyên tắc,
rõ ràng . Sang đầu thế kỷ 20 sau khi dập tắt các phong trào đấu tranh vũ trang of nông dân, Thực dân
Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất mà XH VN xuất hiện những tầng lớp mới tiểu tư sản, tư
sản, công nhân hay vô sản. Phong trào yo nc dần dần chuyển sang xu hướng dân chủ tư sản điển hình p
trào Phan Bội Châu, P trào Đông Du , P trào Duy Tân nhưng cuối cùng các p trào thất bại vì chưa đoàn kết
đc đông đảo quần chúng nhân dân.HCM cho rằng, cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta cuối TK19 đầu
thế kỷ 20 bị thất bại có 1 nguyên nhân sâu xa là cả nước đã ko đoàn kết đc thành 1 khối thống nhất , người
thấy rằng muốn đưa CM đến thành công phải có lực lượng CM đủ mạnh để chiến thắng kẻ thù và XD
thành công XH mới , muốn có lực lượng CM mạnh phải thực hiện đại đoàn kết , quy tụ mọi lực lượng CM
thành 1 khối vững chắc . Do đó đoàn kết trở thành vấn đề chiến lược lâu dài of CM, là nhân tố đảm bảo
cho thắng lợi of CM , do co long yo nước và đại đoàn kết dân tộc của nhân dân ta đã làm cho cuộc CM
tháng 8 ở nước ta thành công .
Câu 6: Phân tích tư tưởng HCM về một nhà nước của dân, do dân, vì dân. Chúng ta phải
làm gì để xây dựng được nhà nước trong sạch, vững mạnh.
• Cơ sở hình thành TTHCM về NN:
- HCM đã tiếp thu những kinh nghiệm NN trong lịch sử dân tộc và nghiên cứu các loại
hình NN trên TG
+ NN sơ khai của VN là NN văn lang-Âu lạc
+ NN thứ 2 là NN quân chủ phong kiến
- Nghiên cứu loại hình NN trên thế giới gồm: NN tam dân của Tôn Trung Sơn, NN xô
viết(Nga)-chính quyền công-nông-binh
• Quan điểm của CN Mác-Leenin về nhà nước
- Theo Angwghen định nghĩa thì NN là lực lượng đặc biệt để chấn áp và NN xuất hiện là
do mâu thuẫn giai cấp
- Theo quan điểm của CN Mác-Leenin thì vấn đề chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi
cuộc CM
- HCM đã nghiên cứu những đặc điểm của NN vô sản để xây dựng NN VN theo kiểu này:
+ NN của nhân dân lao động (là NN của dân, do dân, vì dân. Hoặc dân biết, daan làm, dân
kiểm tra)
+ NN tổ chức xây dựng về chức năng trấn áp bạo lực, trong đó chức năng trấn áp lả chủ yếu
+ Thống nhất giữa tính dân tộc và tính quốc tế
vào dân, liên hệ chặt chẽ với dân, lắng nghe ý kiến của dân và chịu sự giám sát của dân
- Chính vì vậy, HCM thường nhấn mạnh nhiệm vụ của những người CM là phải làm cho
dân hiểu, làm cho dân giác ngộ để nâng cao được trách nhiệm làm chủ. HCM khẳng định:
việc nước là việc chung, mỗi người đều phải có trách nhiệm “ghé vai gánh vác 1 phần”.
Quyền lợi, quyền hạn bao giờ cũng đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ.
• NN vì dân
- NN vì dân là một NN lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêu, tất cả đều vì lợi
ích của nhân dân, ngoài ra không có bất cứ một đặc quyền, đặc lợi nào. Trên tinh thần đó
HCM nhấn mạnh: mọi đường lối, chính sách đều chỉ nhằm đưa lại quyền lợi cho dân;
việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố gắng làm,việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố
gắng tránh.
- HCM đã nhấn mạnh:” việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố gắng làm,việc gì có hại cho
dân dù nhỏ cũng cố gắng tránh. Bên cạnh đó HCM luôn tâm niệm: phải cho dân có ăn,
phải làm cho dân có mặc, phải làm cho dân có chỗ ở, phải làm cho dân được học hành
- Cho nên HCM đã viết:”khi tôi ẩn lấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự
hiểm nghèo là vì mục đích đó”
- Ngay như chức vụ Chủ Tịch nước của mình, HCM cũng quan niệm là do dân ủy thác cho
và như vậy phải phục vụ nhân dân, tức là làm đày tớ cho nhân dân. HCM nói:”tôi tuyệt
nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức chủ tịch là
vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như 1 người lính vâng mệnh lệnh của
quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui Riêng
phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa,
sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng
danh lợi”
• Làm gì?
Đề phòng và khắc phục những mục tiêu trong hoạt động của NN
HCM thường đề cấp đến nhuwngc tiệu cực sau đây và nhắc nhở mọi người đề phòng và khắc
phục
- Đặc quyền,đặc lợi: xây dựng NN trong sạch, vững mạnh đòi hỏi phải tẩy trừ những thói
cậy mình là người trong cơ quan chính quyền để cửa quyền, hách dịch với dân, lạm
- Chỉ 1 ngày sau khi đọc bản tuyên ngôn độc lập(3/9), trong phiên họp đầu tiên của chính
phủ lâm thời, HCM đã đề nghị tố chức tổng tuyển cử càng sớm càng tốt để lập Quốc hội
rồi từ đó lập ra chính phủ và các cơ quan, bộ máy chính thức khác của NN mới
- Ngày 2/3/1946 Quốc hội khóa I đã họp phiên đầu tiên lập ra các tố chức, bộ máy và các
chức vụ chính thức của NN
• Quản lý NN bằng pháp luật và chú trọng đưa PL vào trong cuộc sống
- Quản lý NN là quản lý bộ máy và bằng nhiều biện pháp khác nhau nhưng quan trọng nhất
là quản lý bằng hệ thống luật, trong đó quan trọng bật nhất là hiến pháp-đạo luật cơ bản
của nước nhà
- Năm 1919 HCM đã đề cập vấn đề “thần linh pháp quyền” trong đời sống XH hiện đại.
Có hiến pháp và pháp luật đưa vào trong cuộc sống
- “Thần linh pháp quyền” là sức mạnh do con người và vì con người, trong việc thực thi
pháp luật, có quan hệ rất lớn tới trình độ dân trí của nhân dân. Vì vậy, HCM chú trọng tới
vấn đề nâng cao dân trí, phát huy tính tích cực của nhân dân , làm cho nhân dân có ý thức
chính trị trong việc tham gia công việc chính quyền của các cấp
• Để tiến tới xây dựng 1 NN pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ cần phải tích
cực xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của NN đủ đức và tài, có trình độ văn
hóa, có am hiểu pháp luật, thành thạo nghĩa vụ hành chính, có đạo đức, cần, kiệm,
liêm, chính, chí công, vô tư
- HCM nêu lên những yêu cầu sau đây về đội ngũ xây dựng cán bộ, công chức gồm 6
phẩm chất
1. Tuyệt đối trung thành với CM
2. Hăng hái, thành thạo công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ
3. Phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân
4. Cán bộ, công chức phải là những người dám phụ trách, dám quyết đoán, dám chịu trách
nhiệm, nhất là trong tình huống khó khăn, “thắng không kiêu,bại không nản”
• Vận dụng tư tưởng này vào công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta
- NN đảm bảo quyền làm chủ thực sự của nhân dân
+ Cần chú ý đến việc đảm bảo cho mọi người được bình đẳng trước PL, xử pháp nghiêm minh
mọi hành động vi phạm PL, bất kể sự vi phạm đó do tập thể hoặc cá nhân nào gây ra. Có như
nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và NN
• Cần, kiệm,liêm, chính, chí công, vô tư
- Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai
- Kiệm là tiết kiệm vật tư, tiền bạc, của cải, thời gian, không xa xỉ không hoan phí
- Liêm là trong sạch, không tham lam tiền của, địa vị, danh tiếng
- Chính là không tà, thẳng thắn, đứng đắn
- Các đức tính có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cần mà không kiệm giống như 1 chiếc
thùng không đáy. Kiệm mà không cần thì lấy gì mà kiệm. Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của
chính. Nhưng 1 cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả thì mới hoàn chỉnh
HCM viết: “trời có 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông
Đất có 4 phương: Đông, tây, nam, bắc
Người có 4 đức: Cần, kiệm, liêm, chính
Thiếu 1 mùa, thì không thành trời
Thiếu 1 phương thì không thành đất
Thiếu 1 đức thì không thành người”
- Chí công vô tư là không nghĩ đến mình trước, chỉ biết vì Đảng, vì tố quốc, vì đồng bào; là
đặt lợi ích của CM, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Thực hành chí công vô tư cũng
có nghĩa là phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức CM
• Thương yêu co người
• Tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung
• Liên hệ thực tiễn:
Giản dị và tiết kiệm
Bà Nguyễn Thị Liên, nguyên cán bộ Văn phòng Phủ Chủ tịch, kể lại rằng:
Khi làm việc ở văn phòng Bác, đôi khi bà còn đảm nhận việc khâu, vá quần áo, chăn, màn, áo
gối cho Bác. Công việc này giúp bà có điều kiện được gần Bác và học tập được rất nhiều. Học
tập Bác đức tính giản dị, tiết kiệm. Áo Bác rách, có khi vá đi vá lại, Bác mới cho thay. Chiếc áo
gối màu xanh hoà bình của Bác, được ông Cần (người phục vụ Bác) đưa bà vá đi vá lại. Cầm
chiếc áo gối của Bác, bà rưng rưng nước mắt, bà nói với ông Cần thay áo gối khác cho Bác dùng
nhưng Bác chưa đồng ý. Người vẫn dùng chiếc áo gối vá.
Những năm tháng giúp việc ở văn phòng Bác tôi có những kỷ niệm không bao giờ quên.
ngược với phương châm và chính sách của Đảng và chính phủ”
- Theo HCM hơn bất kì 1 lĩnh nào khác, trong lĩnh vực đạo đức đặc biệt phải chú trọng “đạo làm
gương”. Làm gương ở nhiều cấp độ, phạm vi và hệ quy chiếu khác nhau, tùy theo nhiệm vụ và
tình hình cụ thể và tấm gương đó được biểu hiện khác nhau. Bên cạnh đó, việc bồi dưỡng, nêu
gương “người tốt, việc tốt” là rất quan trọng và cần thiết, không được xem thường
- Xây dựng đạo đức mới, nêu gương đạo đức phải chú trọng tính chất phổ biến, rộng khắp, vững
chắc của toàn XH và những hạt nhân “người tốt, việc tốt” tiêu biểu.
* Xây đi đôi với chống phải tạo thành quần chúng rộng rãi
- Làm CN là quá trình kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và chống. Xây dựng đạo đức mới lại càng
phải quan tâm điều này. Bởi vid trong Đảng và mỗi con người, vì những lí do khác nhau, nên
không phải lúc nào “người người đều tốt, việc việc đều hay. Mặt khác, con người tiến lên
CHXH là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, cuộc chiến đấu khổng lồ. Trong cuộc chiến đấu đó
có nhiều kẻ địch nhưng thông thường có 3 loại. CNTB và bọn đế quốc là kẻ địch rất nguy hiểm;
thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to nó ngấm ngầm ngăn cản CM tiến bộ; loại
địch thứ 3 là chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn lấp trong người mỗi chúng ta; nó
chờ dịp-hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi để ngóc đầu dậy nó là đồng minh của 2 kẻ địch kia
- Xây là giáo dục những phẩm chất đạo đức mới, đạo đức CM cho con người VN trong thời đại
mới theo TTHCM. Tất nhiên, giáo dục đạo đức phải phù hợp với lứa tuổi, ngành nghề, giai cấp,
tầng lớp và trong từng môi trường khác nhau. Đồng thời, phải chú ý tới hoàn cảnh, nhiệm vụ
từng giai đoạn CM. Xa rời thực tiễn và khư khư giữ lấy những nội dung cũ khi thực tiễn đã vượt
qua đều không phù hợp với quan điểm xây dựng đạo đức của HCM
* Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời
- Tu dưỡng đạo đức là truyền thống tốt đẹp của dân tộc và văn hóa phương Đông. HCM
nói:”chúng ta phải nhớ câu “chính tâm, tu thân” để “trị quốc bình thiên hạ”. Chính tâm tu thân
tức là cải tạo. Cải tạo cũng phải trường kỳ gian khổ, vì đó là 1 cuộc CM trong bản thân của mỗi
người, Bồi dưỡng tư tưởng mới để đánh thắng tư tưởng cũ, đoạn tuyệt với con người cũ để trở
thành con người mới không phải là 1 việc dễ dàng dù khó khăn gian khổ, nhưng muốn cải tạo
thì nhất định thành công”
- Đạo đức CM, đạo đức mới khác đạo đức cũ ở chỗ nó gắn liền với thực tiễn CM và phục vụ
CM, phục vụ nhân dân. Vì vậy, việc rèn luyện, tu dưỡng bền bỉ suốt đời phải như công việc rửa
+ Sinh viên phải tự trang bị và trao dồi kiến thức để rèn luyện và ngày càng hoàn thiện đạo
đức bản thân