Tìm hiểu về an ninh mạng và kỹ thuật liệt kê GVHD: Lê Tự Thanh
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh
vực, mạng thông tin đa phương tiện phủ khắp cả nước, nối với hầu hết các tổ
chức, các gia đình. Thông tin trở thành tài nguyên quan trọng nhất của nền
kinh tế. Để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, rút ngắn khoảng cách với
các nước phát triển, hầu hết các quốc gia đã hoạch định và thực hiện các
chiến lược phát triển kinh tế tri thức, trong đó đổi mới và số hóa bộ máy nhà
nước, làm cho bộ máy họat động nhanh nhạy hơn, linh hoạt hơn và có trách
nhiệm hơn.
Thông qua trao đổi điện tử các cá nhân và tổ chức có thể trao đổi
trực tiếp với nhau hoặc thực hiện giao dịch thương mại. Tuy nhiên có một số
phần tử hiện nay đang lợi dụng hoạt động đó để nhằm phục vụ cho các mục
đích không tốt không chỉ gây thiệt hại lớn về kinh tế mà còn gây hại đến an
ninh quốc gia. Vì vậy, an ninh, an toàn trong trao đổi dữ liệu là điều kiện
quan trọng không thể thiếu. Xuất phát từ yêu cầu đó, em đã chọn đề tài
nghiên cứu là: “Tìm hiểu vấn đề an ninh, an toàn trong trao đổi dữ liệu điện
tử”. Kết quả nghiên cứu của em được chia làm hai phần chính đó là: vấn đề
an ninh, an toàn trong thương mại điện tử và một số giải pháp nhằm đảm bảo
bí mật, an toàn trong trao đổi điện tử, mà chủ yếu là tìm hiểu các giải pháp
mật mã hóa dữ liệu.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy các cô trong khoa khoa học máy
tính đã giúp đỡ và trau dồi kiến thức cho em suốt quá trình học tập tại
trường.
Do khả năng và thời gian hạn chế nên trong đồ án này có lẽ còn nhiều
khiếm khuyết, em rất mong được các thầy cô chỉ bảo.
Sinh viên thực hiện: Đỗ Duy Sơn – MM03A Trang 1
Tìm hiểu về an ninh mạng và kỹ thuật liệt kê GVHD: Lê Tự Thanh
MỤC LỤC
Chương1. Tổng quan về an ninh mạng 7
1.1 Khái niệm về an toàn và an ninh mạng 7
4.3 Các công cụ liệt kê SNMP 24
Chương5. Liệt kê Unix/Linux 25
Sinh viên thực hiện: Đỗ Duy Sơn – MM03A Trang 2
Tìm hiểu về an ninh mạng và kỹ thuật liệt kê GVHD: Lê Tự Thanh
5.1 Linux là gì? 25
5.2 Liệt kê trên Unix 25
5.3 Công cụ liệt kê Linux 25
Chương6. Liệt kê LDAP 26
6.1 LDAP là gì? 26
6.2 Các công cụ liệt kê LDAP 26
Chương7. Liệt kê NTP 26
7.1 NTP là gì? 26
7.2 Các công cụ liệt kê NTP 26
Chương8. Liệt kê SMTP 27
8.1 SMTP là gì? 27
8.2 Công cụ liệt kê SMTP 27
Chương9. Liệt kê DNS 27
9.1 DNS là gì? 27
9.2 Liệt kê DNS Zone Transfer 27
Chương10. Liệt kê các biện pháp phòng chống 27
10.1 SNMP 27
10.2 DNS 27
10.3 SMTP 28
10.4 LDAP 28
10.5 SMB 28
Chương11. Liệt kê thử nghiệm phòng chống 29
11.1 Thử nghiệm phòng chống (Pen Testing) 29
11.2 Liệt kê các thử nghiệm phòng chống 29
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Chương1. Tổng quan về an ninh mạng 7
Chương3. Liệt kê NetBIOS 23
3.1 NetBIOS là gì? 23
3.2 Liệt kê NetBIOS 23
3.3 Các công cụ liệt kê NetBIOS 23
3.4 Các công cụ liệt kê tài khoản người dùng 23
3.5 Công cụ liệt kê hệ thống sử dụng các mật khẩu mặc định 23
Chương4. Liệt kê SNMP 24
4.1 SNMP là gì? 24
4.2 Liệt kê SNMP 24
4.3 Các công cụ liệt kê SNMP 24
Chương5. Liệt kê Unix/Linux 25
5.1 Linux là gì? 25
5.2 Liệt kê trên Unix 25
5.3 Công cụ liệt kê Linux 25
Chương6. Liệt kê LDAP 26
6.1 LDAP là gì? 26
6.2 Các công cụ liệt kê LDAP 26
Sinh viên thực hiện: Đỗ Duy Sơn – MM03A Trang 4
Tìm hiểu về an ninh mạng và kỹ thuật liệt kê GVHD: Lê Tự Thanh
Chương7. Liệt kê NTP 26
7.1 NTP là gì? 26
7.2 Các công cụ liệt kê NTP 26
Chương8. Liệt kê SMTP 27
8.1 SMTP là gì? 27
8.2 Công cụ liệt kê SMTP 27
Chương9. Liệt kê DNS 27
9.1 DNS là gì? 27
9.2 Liệt kê DNS Zone Transfer 27
Chương10. Liệt kê các biện pháp phòng chống 27
10.1 SNMP 27
Trong quá khứ, an ninh thông tin là một thuật ngữ được sử dụng để mô
tả các biện pháp bảo mật vật lý được sử dụng để giữ cho chính phủ hay
doanh nghiệp những thông tin quan trọng khỏi bị truy cập bởi công chúng và
để bảo vệ nó chống lại thay đổi hoặc tiêu hủy. Những biện pháp này bao gồm
lưu trữ tài liệu có giá trị trong tủ hồ sơ đã bị khóa hoặc két và hạn chế truy
cập vật lý đến các khu vực nơi mà các tài liệu đã được lưu giữ. Với sự phổ
biến của máy tính và các phương tiện truyền thông điện tử, cách truy cập dữ
liệu cũ thay đổi. Khi công nghệ tiếp tục phát triển, hệ thống máy tính được
kết nối với nhau để tạo thành mạng máy tính, cho phép các hệ thống chia sẻ
tài nguyên, bao gồm cả dữ liệu.
Các mạng máy tính cuối cùng, mà hầu hết các liên kết nối mạng máy
tính truy cập công cộng, là Internet. Mặc dù các phương pháp bảo vệ dữ liệu
đã thay đổi đáng kể, khái niệm về an ninh mạng vẫn giống như là các thông
tin bảo mật.
Bởi vì máy tính có thể thu hồi, và số tiền quá lớn của dữ liệu, chúng
được sử dụng trong gần như mọi khía cạnh của cuộc sống. Máy vi tính,
mạng, và Internet là một phần không thể thiếu của nhiều doanh nghiệp. Sự
phụ thuộc của chúng trên các máy tính tiếp tục tăng khi các doanh nghiệp và
cá nhân trở nên thoải mái hơn với công nghệ và tiến bộ công nghệ như là làm
cho hệ thống thân thiện với người dùng hơn và dễ dàng hơn để kết nối.
Một hệ thống máy tính duy nhất yêu cầu các công cụ tự động để bảo vệ
dữ liệu trên hệ thống từ những người dùng có quyền truy cập hệ thống. Một
hệ thống máy tính trên mạng (một hệ thống phân phối) đòi hỏi rằng dữ liệu
vào hệ thống đó được bảo vệ không chỉ từ truy cập địa phương mà còn từ các
truy cập từ xa trái phép và từ chặn hoặc thay đổi dữ liệu trong quá trình
truyền giữa các hệ thống. An ninh mạng không phải là một sản phẩm, quy
trình, hay chính sách mà là sự kết hợp của các sản phẩm và quy trình có hỗ
trợ một chính sách quy định. Mạng lưới an ninh được thực hiện của các thiết
bị an ninh, chính sách và quy trình để ngăn chặn truy cập trái phép vào tài
nguyên mạng, thay đổi hoặc hủy hoại tài nguyên hoặc dữ liệu.
Tấn công phá hủy tính săn sàng của hệ thống: Thực hiện các thao tác
vật lý tác động lên hệ thống.
Dịch vụ đảm bảo tính sẵn sàng phải ngăn chặn các ảnh hưởng lên thông
tin trong hệ thống, phục hồi khả năng phục vụ của các phần tử hệ thống trong
thời gian nhanh nhất.
1.3.3 Tính toàn vẹn (Integrity)
Đảm bảo tinh toàn vẹn cũng có thể áp dụng cho luồng thông điệp, một
thông điệp hay một số trường được lựa chọn của thông điệp.
Sinh viên thực hiện: Đỗ Duy Sơn – MM03A Trang 8
Tìm hiểu về an ninh mạng và kỹ thuật liệt kê GVHD: Lê Tự Thanh
Phương pháp hữu ích nhất là trực tiếp bảo vệ luồng thông điệp.
Có hai loại dịch vụ đảm bảo tính toàn vẹn:
- Hướng không liên kết.
- Hướng liên kết.
Dịch vụ đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu hướng liên kết:
- Tác động lên luồng thông điệp và đảm bảo rằng thông điệp được
nhận hoàn toàn giống khi được gửi, không bị sao chép, không bị sửa đổi,
thêm bớt.
- Các dữ liệu bị phá hủy cũng phải được khôi phục bằng dịch vụ này.
- Dịch vụ đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu hướng liên kết xử lý các vấn
đề liên quan tới sự sửa đổi của luồng các thông điệp và chối bỏ dịch vụ.
Dịch vụ đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu hướng không liên kết:
- Chỉ xử lý một thông điệp đơn lẻ. Không quan tâm tới những ngữ
cảnh rộng hơn.
- Chỉ tập trung vào ngăn chặn việc sửa đổi nội dung thông điệp.
1.4 Các lỗ hổng bảo mật
1.4.1 Khái niệm lỗ hổng
Để hiểu được các đợt tấn công, bạn phải nhớ rằng các máy tính, không
có vấn đề làm thế nào nâng cao, vẫn chỉ là máy hoạt động dựa trên bộ hướng
dẫn xác định trước. Hệ thống điều hành và các gói phần mềm khác chỉ đơn
Cho phép loại người dùng với quyền sử dụng hạn chế có thể tăng quyền
trái phép.
Ví dụ:
- Sendmail: cho phép người dùng bình thường có thể khởiđộng tiến
trình sendmail, lợi dụng sendmail khởi động chương trình khác với quyền
root.
- Tràn bộ đệm.
Sinh viên thực hiện: Đỗ Duy Sơn – MM03A Trang 10
Tìm hiểu về an ninh mạng và kỹ thuật liệt kê GVHD: Lê Tự Thanh
Hình 1.1 Lỗ hổng tấn công không cần xác thực
1.4.2.3 Lỗ hổng cho phép xâm nhập từ xa không xác thực
Là lỗi chủ quan của người quản trị hệ thống hay người dùng.
Do không thận trọng, thiếu kinh nghiệm và không quan tâm đến vấn đề
bảo mật.
Một số cấu hình thiếu kinh nghiệm:
- Tài khoản có password rỗng.
- Tài khoản mặc định.
- Không có hệ thống bảo vệ như Firewall, IDS, proxy.
- Chạy những dịch vụ không cần thiết mà không an toàn: SNMP,
pcAnywhere, VNC,…
1.4.3 Các kiểu tấn công mạng phổ biến
Các loại tấn công không gian mạng và động lực của họ quá nhiều và đa
dạng vào danh sách. Chúng bao gồm từ các hacker mới làm quen những
người bị thu hút bởi thách thức này, để các chuyên nghiệp có tay nghề cao
người tiêu một tổ chức cho một mục đích cụ thể (chẳng hạn như tội phạm có
tổ chức, hoạt động gián điệp công nghiệp, hoặc thu thập thông tin tình báo do
nhà nước tài trợ). Các mối đe dọa có thể bắt nguồn từ bên ngoài tổ chức hoặc
từ bên trong. Bên ngoài các mối đe dọa bắt nguồn từ bên ngoài tổ chức và cố
gắng để vi phạm một mạng hoặc từ mạng Internet hoặc thông qua quay số
truy cập. Bên trong các mối đe dọa bắt nguồn từ bên trong một tổ chức và
Hình 1.2 Tấn công từ xa không cần xác thực
Sinh viên thực hiện: Đỗ Duy Sơn – MM03A Trang 12
Tìm hiểu về an ninh mạng và kỹ thuật liệt kê GVHD: Lê Tự Thanh
1.4.3.2 Man-in-the-middle
Tấn công theo kiểu Main-in-the-middle là trường hợp trong đó hacker
sử dụng một AP để đánh cắp các node di động bằng cách gửi tín hiệu RP
mạnh hơn AP hợp pháp đến các node đó. Các node di động nhận thấy AP có
phát tín hiệu RP tốt hơn nên sẽ kết nối đến AP giả mạo này, truyền dữ liệu có
thể là những dữ liệu nhạy cảm đến AP giả mạo và hacker có toàn quyền xử
lý.
Để làm cho client kết nối lại đến AP giả mạo thì công suất phát cua AP
giả mạo phải cao hơn nhiều so với AP hợp pháp trong vùng phủ song của nó.
Việc kết nối lại với AP giả mạo được xem như là một phần của roaming nên
người dùng sẽ không hề biết được. Việc đưa nguồn nhiễu toàn kênh (all-band
interference – chẳng hạn như Bluetooth) vào vùng phủ sóng của AP hợp
pháp sẽ buộc client phải roaming.
Hacker muốn tấn công theo kiểu này thì trước tiên phải biết được giá trị
SSID là các client đang sử dụng ( giá trị này rất dễ dàng có được). Sau đó,
hacker phải biết được giá trị WEP key nếu mạng có sử dụng WEP. Kết nối
upstream (với mạng trục có dây) từ AP giả mạo được điều khiển thông qua
một thiết bị client như PC card hay Workgroup Bridge. Nhiều khi, tấn công
Man-in-the-middle được thực hiện chỉ với một laptop và hai PCMCIA card.
Phần mềm AP chạy trên máy laptop nơi PC card được sử dụng như là một
AP và một PC card thứ hai được sử dụng để kết nối laptop đến AP hợp pháp
gần đó. Trong cấu hình này, laptop chính là man-in-the-middle (người ở
giữa), hoạt động giữa client và AP hợp pháp. Từ đó hacker có thể lấy được
những thông tin giá trị bằng cách sử dụng các sniffer trên máy laptop.
phân biệt được dẫn đến các STA nằm trong dải tần nhiễu sẽ bị ngừng hoạt
động. Các thiết bị sẽ không thể phân biệt được tín hiệu mạng một cách
chính xác từ tất cả các nhiễu xảy ra ngẫu nhiên đang được tạo ra và do đó
sẽ không thể giao tiếp được. Tấn công theo kiểu này không phải là sự đe
doạ nghiêm trọng, nó khó có thể thực hiện phổ biến do vấn đề giá cả của
thiết bị, nó quá đắt trong khi kẻ tấn công chỉ tạm thời vô hiệu hóa được
mạng.
- Tấn công DOS tầng liên kết dữ liệu: Do ở tầng liên kết dữ liệu kẻ tấn
công cũng có thể truy cập bất kì đâu nên lại một lần nữa tạo ra nhiều cơ
hội cho kiểu tấn công DOS. Thậm chí khi WEP đã được bật, kẻ tấn công
có thể thực hiện một số cuộc tấn công DOS bằng cách truy cập tới thông
Sinh viên thực hiện: Đỗ Duy Sơn – MM03A Trang 14
Tìm hiểu về an ninh mạng và kỹ thuật liệt kê GVHD: Lê Tự Thanh
tin lớp liên kết. Khi không có WEP, kẻ tấn công truy cập toàn bộ tới các
liên kết giữa các STA và AP để chấm dứt truy cập tới mạng. Nếu một AP
sử dụng không đúng anten định hướng kẻ tấn công có nhiều khả năng từ
chối truy cập từ các client liên kết tới AP. Anten định hướng đôi khi còn
được dùng để phủ sóng nhiều khu vực hơn với một AP bằng cách dùng
các anten. Nếu anten định hướng không phủ sóng với khoảng cách các
vùng là như nhau, kẻ tấn công có thể từ chối dịch vụ tới các trạm liên kết
bằng cách lợi dụng sự sắp đặt không đúng này, điều đó có thể được minh
họa ở hình dưới đây.
Hình 1.4 Tấn công từ chối dịch vụ (DDOS)
- Anten định hướng A và B được gắn vào AP và chúng được sắp đặt
để phủ sóng cả hai bên bức tường một cách độc lập. Client A ở bên trái
bức tường, vì vậy AP sẽ chọn anten A cho việc gửi và nhận các khung.
Client B ở bên trái bức tường, vì vậy chọn việc gửi và nhận các khung với
anten B. Client B có thể loại client A ra khỏi mạng bằng cách thay đổi địa
chỉ MAC của Client B giống hệt với Client A. Khi đó Client B phải chắc
chắn rằng tín hiệu phát ra từ anten B mạnh hơn tín hiệu mà Client A nhận
keylogger theo mức độ nguy hiểm bằng các câu hỏi:
- Nhiễm vào máy không qua cài đặt/Cài đặt vào máy cực nhanh
(quick install)?
- Có thuộc tính ẩn/giấu trên trình quản lí tiến trình (process manager)
và trình cài đặt và gỡ bỏ chương trình (Add or Remove Program)
- Theo dõi không thông báo/PC bị nhiễm khó tự phát hiện
- Có thêm chức năng Capturescreen hoặc ghi lại thao tác chuột
- Khó tháo gỡ?
Sinh viên thực hiện: Đỗ Duy Sơn – MM03A Trang 16
Tìm hiểu về an ninh mạng và kỹ thuật liệt kê GVHD: Lê Tự Thanh
- Có khả năng lây nhiễm, chống tắt (kill process)
Cách hoạt động của keylogger
Thành phần của Keylogger: Có 3 thành phần chính.
- Chương trình điều khiển (Control Program): dùng để theo điều phối
hoạt động, tinh chỉnh các thiết lập, xem các tập tin nhật ký cho Keylogger.
Phần này là phần được giấu kỹ nhất của keylogger, thông thường chỉ có
thể gọi ra bằng một tổ hợp phím tắt đặc biệt.
- Tập tin hook, hoặc là một chương trình monitor dùng để ghi nhận lại các
thao tác bàn phím, capture screen (đây là phần quan trọng nhất).
- Tập tin nhật ký (log), nơi chứa đựng/ghi lại toàn bộ những gì hook ghi
nhận được.
Cách thức cài đặt vào máy:
- Các loại keylogger từ 1 - 3 thông thường khi cài đặt vào máy cũng
giống như mọi chương trình máy tính khác, đều phải qua bước cài đặt.
Đầu tiên nó sẽ cài đặt các tập tin dùng để hoạt động vào một thư mục đặc
biệt (rất phức tạp), sau đó đăng ký cách thức hoạt động rồi đợi người dùng
thiết lập thêm các ứng dụng. Sau đó nó bắt đầu hoạt động.
- Loại keylogger số 4 có thể vào thẳng máy của người dùng bỏ qua bước
cài đặt, dùng tính năng autorun để cùng chạy với hệ thống. Một số loại tự
thả (drop) mình vào các chương trình khác, để khi người dùng sử dụng các
mật khẩu không chính xác. Giới hạn tần suất đăng nhập nếu có thể.
- Không cho phép đăng nhập trực tiếp vào tài khoản quản trị (root,
administrator) qua SSH.
- Thay đổi cơ chế xác thực đăng nhập, dùng khóa cá nhân (private
key) thay cho mật khẩu (password). Trong trường hợp buộc phải dùng cơ
chế đăng nhập bằng mật khẩu thì đảm bảo mật khẩu phải an toàn, bí mật.
Sinh viên thực hiện: Đỗ Duy Sơn – MM03A Trang 18
Tìm hiểu về an ninh mạng và kỹ thuật liệt kê GVHD: Lê Tự Thanh
- Giới hạn chỉ cho phép những tài khoản cần thiết được đăng nhập vào
dịch vụ SSH.
- Cân nhắc sử dụng thiết lập "chroot" để giới hạn các thư mục được
phép truy xuất.
- Giới hạn các địa chỉ IP được kết nối và đăng nhập vào dịch vụ SSH.
1.4.3.6 Trojans, Viruses, and Worms
Trojans (con ngựa Thành Tơ Roa – Trolan House)
Còn gọi là cuộc chiến giữa người Hy Lạp và người thành Tơ Roa.
Phương pháp trên cũng chính là cách mà Trojan máy tính áp dụng. Trojan là
một đoạn mã chương trình hoàn toàn không có tính chất lây lan.
Đầu tiên, kẻ viết ra Trojan bằng cách nào đó lừa đối phương sử dụng
chương trình của mình hoặc ghép Trojan đi cùng với các vius (đặc biệt là các
virus dạng Worm) để cài đặt, xâm nhập lên máy nạn nhân. Đến thời điểm
thuận lợi, Trojan sẽ ăn cắp thông tin quan trọng trên máy tính nạn nhân như
số thẻ tín dụng, mật khẩu… để gửi về cho chủ nhân của nó ở trên mạng hoặc
có thể ra tay xóa dữ liệu nếu được lập trình trước.
Bên cạnh các Trooan ăn cắp thông tin truyền thống, còn có một số
Trojan mang tính chất riêng biệt như sau:
- Backdoor: Loại Trojan sau khi được cài đặt vào máy nạn nhân sẽ tự
mở ra một cổng dịch vụ cho phép hacker có thể kết nối từ xa đến máy nạn
nhân và thực hiện lệnh mà hacker đưa ra.
- Phần mềm quảng cáo bất hợp pháp (Adware) và phần mềm gián
- Lây từ các ổ đĩa USB.
- Lợi dụng các lỗ hổng phần mềm, kể cả hệ điều hành để xâm nhập,
lây nhiễm lên máy tính thông qua mạng.
Dấu hiệu nhận biết máy tính bị nhiễm Virus?
- Truy xuất tập tin, mở các chương trình ứng dụng chậm.
- Khi duyệt web, có các trang web lạ tự động xuất hiện.
- Duyệt web chậm, nội dung các trang web hiển thị trình duyệt chậm.
- Các trang quảng cáo tự động hiện ra, màn hình Desktop bị thay đổi.
Sinh viên thực hiện: Đỗ Duy Sơn – MM03A Trang 20
Tìm hiểu về an ninh mạng và kỹ thuật liệt kê GVHD: Lê Tự Thanh
- Góc phải màn hình xuất hiện cảnh báo tam giác màu vàng: “Your
computer is infected”, hoặc xuất hiện cửa sổ “Virus Alert”…
- Các file lạ tự động sinh ra khi bạn mở ổ đĩa USB.
- Xuất hiện các file có phần mở rộng .exe có tên trùng.
Worms
Là loại chương trình có khả năng tự sao chép và tự gửi bản sao chép đó
từ máy tính này sang máy khác thông qua đưởng truyền mạng. Tại máy nạn
nhân, Worm sẽ thực thi các chức năng theo ý đò xấu của người tạo ra nó.
Worm kết hợp cả sức phá hoại của Virus, đặc tính âm thầm của Trojan
và hơn hết là sự lây lan đáng sợ mà những kẻ viết Virus trang bị cho nó để
trở thành một kẻ phá hoại với vũ khí tối tân.
Ví dụ: Mellisa hay Love Letter. Với sự lây lan đáng sợ theo cấp số
nhân, trong vài tiếng đồng hồ, đã có thể lây lan tới hàng chục triệu máy tính
trên toàn cầu, làm tê liệt hàng loạt hệ thống máy chủ, làm ách tắc đường
truyền Internet.
Worm thường được cài thêm nhiều tính năng đặc biệt:
- Khả năng định cùng một ngày giờ và đồng loạt từ các máy nạn nhân
tấn công vào một địa chỉ nào đó.
- Mang theo các BackDoor thả lên máy nạn nhân, cho phép chủ nhân
của chúng truy cập vào máy nạn nhân và làm đủ mọi thứ như ngồi trên
Thông thường thì một mạng dùng giao thức Netbios thường là Netbios
Datagram Service (Port 138), Netbios Session Service (Port 139) hoặc cả 2.
3.2 Liệt kê NetBIOS
Kẻ tấn công có được các liệt kê:
- Danh sách máy tính thuộc một miền mạng.
- Danh sách các chia sẻ của các máy tính trên một miền mạng.
- Các chính sách và các mật khẩu
3.3 Các công cụ liệt kê NetBIOS
- SuperScan
- NetBios Enumertor
3.4 Các công cụ liệt kê tài khoản người dùng
- Ps Tools
- Trong Ps Tools có rất nhìu công cụ nhỏ như:
o PsExec
o PsFile
o PsGetSid
o PsKill
o PsInfo
o PsList
o PsLoggedOn
o PsLogList
3.5 Công cụ liệt kê hệ thống sử dụng các mật khẩu mặc định
- Trang web
Sinh viên thực hiện: Đỗ Duy Sơn – MM03A Trang 23
Tìm hiểu về an ninh mạng và kỹ thuật liệt kê GVHD: Lê Tự Thanh
Chương4. Liệt kê SNMP
4.1 SNMP là gì?
SNMP (Simple Network Management Protocol) là một tập hợp các
giao thức không chỉ cho phép kiểm tra nhằm đảm bảo các thiết bị mạng
như router, switch hay server đang vận hành mà còn vận hành một cách tối
Sinh viên thực hiện: Đỗ Duy Sơn – MM03A Trang 24
Tìm hiểu về an ninh mạng và kỹ thuật liệt kê GVHD: Lê Tự Thanh
Chương5. Liệt kê Unix/Linux
5.1 Linux là gì?
Linux là một hệ điều hành mã nguồn mở dạng Unix được xây dựng bởi
Linus Torvalds và sau đó được phát triển bởi cộng đồng lập trình mã nguồn
mở trên toàn thế giới thành nhiều nhiều phiên bản khác nhau. Phần lớn các
phiên bản Linux đều miễn phí nhưng hiện nay có một số công ty đã cho ra
đời một số phiên bản Linux thương mại.
Khác với Windows, Linux được tạo thành bởi các modul hoạt động độc
lập với nhau, người dùng có thể tự xây dựng kernel (nhân) cho hệ điều hành
của mình bằng cách thêm những modul cần thiết vào. Vì vậy hệ thống Linux
có tính linh hoạt cao hơn Windows. Thường Linux được sử dụng làm máy
chủ nhiều hơn là làm máy trạm vì việc cấu hình cho Linux phức tạp hơn
nhiều vì thường phải dùng command line để cấu hình chứ không có giao diện
đồ hoạ như Windows.
Hệ thống chạy trên Linux thường nhanh hơn và ổn định hơn là chạy
trên Windows. Sở dĩ Linux chưa được dùng nhiều cho máy tính cá nhân vì
nó hỗ trợ giao diện đồ hoạ chưa tốt.
5.2 Liệt kê trên Unix
Lệnh sử dụng để liệt kê tài nguyên mạng của Unix gồm những lệnh sau:
- Showmount: dùng để tìm các thư mục chia sẻ trên máy tính.
[root$] showmount –e 19x.16x.xxx.xx
- Finger: dùng để liệt kê về người dùng và máy chủ, cho phép xem
thời gian đăng nhập của người sử dụng thư mục, thời gian nhàn rỗi,
vị trí văn phòng, và thời gian cuối cùng cả hai đều nhận được hoặc
đọc thư.
[root$] finger –l @target.hackme.com
- Rpcclient: dùng để điều tra được tên người dùng trên Linux và OS
X.