Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ
GS.TS MẠCH QUANG THẮNG
1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ
Hồ Chí Minh là một trong những người tham gia thành lập ĐCS Pháp năm 1920; là
người sáng lập ĐCS Việt Nam đầu năm 1930; là cán bộ của Ban Phương Đông Quốc
tế Cộng sản. Hồ Chí Minh là lãnh tụ của ĐCS Việt Nam, suốt cả cuộc đời chăm lo
lãnh đạo, rèn luyện Đảng, đồng thời là một chiến sĩ kiên cường của phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế.
Trong hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng đến việc xây dựng đội
ngũ cán bộ để có đủ sức mạnh hoàn thành sự nghiệp vẻ vang của Đảng. Tư tưởng Hồ
Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp cách mạng
Việt Nam.
Về vị trí của cán bộ, Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là giây chuyền của bộ máy Đảng,
Nhà nước, đoàn thể nhân dân, “là những người đem chính sách của Đảng, của Chính
phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân
chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”[1]. Như
vậy, cán bộ có vị trí chủ thể của sự nghiệp cách mạng nước ta do Đảng lãnh đạo. Vị
trí lãnh đạo, vị trí chủ thể của cán bộ là do Đảng, Nhà nước, đoàn thể phân công, và
quyền lực của cán bộ cũng như nhiệm vụ của người cán bộ là do nhân dân giao cho.
Về vai trò của cán bộ, Hồ Chí Minh khẳng định rằng: cán bộ là cái gốc của mọi công
việc; muôn việc thành công hay thất bại đều là do cán bộ tốt hay kém. Với ý nghĩa
như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, cán bộ là lực lượng tinh tuý nhất của xã hội, có vị
trí vừa tiên phong vừa là trung tâm của xã hội và có vai trò cực kỳ quan trọng của hệ
thống chính trị nước ta.
Luận điểm khái quát nhất của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ là: cán bộ vừa
là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành, là trâu ngựa của nhân dân.
2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của công tác cán bộ
Trong quá trình xây dựng Đảng, công tác cán bộ là một trong những công tác chiếm
vị trí quan trọng hàng đầu, có vai trò quyết định thành công tới toàn bộ công tác xây
dựng lực lượng cách mạng của Đảng. Khi nào, nơi nào làm tốt công tác cán bộ thì khi
đó, nơi đó cách mạng sẽ có nhiều thuận lợi và giành được thắng lợi, và ngược lại. Với
Đảng”[4]; đảng viên và cán bộ “phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết…
Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra
trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính
Đảng””[5].
Ba là: Người cán bộ phải có một đời tư trong sáng, phải là một tấm gương sáng
trong cuộc sống. Điểm nổi bật của Hồ Chí Minh so với nhiều danh nhân khác ở trong
nước và trên thế giới là toàn bộ cuộc đời của Người là tấm gương sáng về đạo đức.
Sức mạnh của đạo đức đã lan toả, thẩm thấu trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc,
trở thành giá trị cốt lõi, vĩnh hằng của văn hoá trong các thế hệ các dân tộc ở trên đất
nước Việt Nam. Nếu cán bộ không có một đời tư trong sáng thì sẽ không thuyết phục,
vận động được nhân dân trong các phong trào cách mạng. Người cán bộ, ngoài việc
phải hoàn thành tốt công việc chung của Đảng đã được phân công, lại phải còn là một
thành viên tốt của gia đình, là một người công dân tốt, kiểu mẫu ở khu dân cư và
ngoài xã hội, sống cuộc sống chan hoà, gần gũi với mọi người chung quanh trong
cùng bản làng, phum, sóc, thôn xóm…
Yêu cầu về phẩm chất, năng lực. Trước hết, cán bộ phải có đạo đức cách mạng. Đây
là yêu cầu “gốc”, “nguồn” đúng như Hồ Chí Minh đã nêu.
Đây cũng chính là quan
điểm xuất phát, một yêu cầu có tính chất tiên quyết đối với cán bộ cách mạng. Không
ít lần, Hồ Chí Minh lưu ý rằng: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát
tài”[6], người cán bộ cách mạng không phải là người “làm quan cách mạng”, không
phải vào Đảng, không phải làm cán bộ là để “thăng quan tiến chức”, không phải như
dưới thời thực dân-phong kiến “một người làm quan cả họ được nhờ”, không phải làm
cán bộ để “đè đầu cưỡi cổ dân chúng như dưới thời thực dân-phong kiến”, v.v. Người
cán bộ phải tận tụy với sự nghiệp cách mạng, phải trung thành với Đảng, với Tổ quốc,
“phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào
sung sướng”[7]. Trung thành ở đây trước hết đòi hỏi cán bộ phải hoàn thành tốt, hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ của mình được giao, kể cả trong thời kỳ cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân và kể cả khi thời bình, xây dựng đất nước; khi gặp thắng lợi thì
Minh học không phải là để có bằng cấp, để thăng chức.
Cán bộ phải có phong cách tốt. Theo Hồ Chí Minh, muốn có phong cách công tác tốt,
phải phòng và chống tác phong chủ quan, tác phong quan liêu, đại khái, ham chuộng
hình thức, phô trương cho oai, làm đại khái, qua loa. Phải sâu sát, tỷ mỉ; nắm việc lớn,
phải giải quyết bắt dầu từ những việc cơ bản, không cận thị (tức là chỉ nhìn gần mà
không nhìn xa trông rộng được), có đầu óc quan sát; phải chân đi, miệng nói, tay làm,
không như thế thì đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo công văn nhưng công việc không
chạy.
Hồ Chí Minh đã nêu lên những vấn đề lý luận cơ bản nhất về quy luật Đảng thường
xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn bản thân mình. Điều này đúng như điều tất yếu mà Hồ
Chí Minh đã nêu: Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra, do
đó, Đảng phải thường xuyên phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, và đó chính là quy luật
phát triển của một Đảng Mác – Lênin, một Đảng chiến đấu dưới lá cờ của chủ nghĩa
cộng sản, vì một xã hội tốt đẹp, vì sự nghiệp cao cả là giải phóng con người.
Riêng về phong cách công tác của cán bộ, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới các vấn đề chủ
yếu: Sửa cách lãnh đạo về công tác cán bộ; Biết chọn trình tự ưu tiên công việc;
Thường xuyên tổng kết công tác; Phải luôn luôn có sáng kiến; Sâu sát, gần gũi nhân
dân, có tinh thần phụ trách trước dân; Phải kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ; Có lãnh đạo
chung, nhưng có chỉ đạo điểm.
4. Quan điểm của Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
Phạm vi của vấn đề công tác cán bộ trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng, xin nêu chủ
yếu một số nội dung sau đây:
- Hiểu và đánh giá đúng cán bộ để lựa chọn và sử dụng đúng cán bộ. Đây là yêu cầu
xuất phát để tiến hành các mặt khác của công tác cán bộ. Nếu không đánh giá đúng
cán bộ và tình hình công tác cán bộ thì không thể đề ra chính sách cán bộ một cách
đúng đắn được. Hồ Chí Minh cho rằng, cứ mỗi lần xem xét lại cán bộ, một mặt sẽ tìm
thấy những nhân tài mới, mặt khác thì những người yếu kém sẽ bị lòi ra. Hiểu và đánh
giá đúng cán bộ và tình hình công tác cán bộ phải có những yêu cầu riêng. Đồng thời,
hiểu và đánh giá đúng cán bộ phải có có những chuẩn mực phù hợp với từng thời kỳ,
từng địa phương, từng lĩnh vực, đánh giá một cách hoàn toàn công minh, khách quan.
khéo sửa chữa chỗ xấu cho họ”[9].
Phải “khéo dùng cán bộ”, “dùng người đúng chỗ, đúng việc”. Hồ Chí Minh nhấn
mạnh: dùng người như dùng gỗ, người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy
chỗ mà dùng được. Hồ Chí Minh phê bình rằng, thường chúng ta không biết tùy tài
mà dùng người, thí dụ: thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao, thành
thử hai người đều lúng túng, nếu biết tùy tài mà dùng người thì hai người đều thành
công.
Hồ Chí Minh phê bình nghiêm khắc tệ “kéo bè kéo cánh” trong công tác cán bộ. Tệ
này phát sinh từ bệnh bè phái, ai hợp với mình thì thì dù người xấu cũng cho là tốt,
việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau; ai không hợp với
mình thì người tốt cũng cho là người xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm
pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Khuyết điểm này, như Hồ Chí Minh chỉ
ra, nó rất tai hại, nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính
sách của mình, làm hại sự thống nhất, nó làm mất sự thân ái, đoàn kết đồng chí, gây ra
những mối nghi ngờ…
Hồ Chí Minh nêu ra quan điểm toàn diện khi xem xét để đề bạt, bổ nhiệm cán bộ: Khi
cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gụi quần chúng, có được quần
chúng tin cậy và mến phục không. Lại phải xem người ấy xứng với việc gì. Nếu
người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc. Nếu cất nhắc
không cẩn thận, không khỏi đem người bô lô ba la, chỉ nói mà không biết làm, vào
những địa vị lãnh đạo, như thế rất có hại.
Hồ Chí Minh phê phán những bệnh sau đây: 1. Ham dùng người bà con, anh em quen
biết, bầu bạn, vì cho họ tốt hơn người bên ngoài; 2. Ham dùng những kẻ khéo nịnh
hót mình mà chán ghét những người chính trực; 3. Ham dùng những người tính tình
hợp với mình mà tránh những người tính tình không hợp với mình.
Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm dùng cán bộ đúng với 5 nội dung:
- Phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể có thái độ và tinh thần chí công vô tư đối với
cán bộ, không có thành kiến, khiến cán bộ không bị bỏ rơi.
- Phải có tinh thần rộng rãi mới có thể gần gụi với những người mà mình không ưa.
- Phải có tính chịu khó dạy bảo mới có thể nâng đỡ những cán bộ còn kém, giúp cho
phải chết. Nếu không có cán bộ mới thế vào, thì ai gánh vác công việc của Đảng”[11].
Hồ Chí Minh phân tích rằng, cán bộ mới “vì công tác chưa lâu, kinh nghiệm còn ít, có
nhiều khuyết điểm. Nhưng họ lại có những ưu điểm hơn cán bộ cũ: họ nhanh nhẹn
hơn, thường giàu sáng kiến hơn”[12]. Do đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ cũ phải
hoan nghênh, dạy bảo, dìu dắt, yêu mến cán bộ mới…Hai bên phải tôn trọng nhau,
giúp đỡ nhau, học lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ với nhau…Cán bộ cũ thường giữ địa vị
lãnh đạo. Vì vâỵ, nếu từ nay, quan hệ giữa hai hạng cán bộ ấy không ổn thoả, thì cán
bộ cũ phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. Như thế mới chữa khỏi bệnh hẹp hòi”[13].
- Phải chú trọng đến công tác đề bạt cán bộ. Hồ Chí Minh lưu ý việc phải xem xét
thật kỹ trước khi đề bạt cán bộ, sau khi đã đề bạt rồi thì phải theo dõi, giúp đỡ, kiểm
tra người cán bộ đó; nếu không như thế thì hỏng việc. Hồ Chí Minh viết rõ: cất nhắc
cán bộ không nên làm theo lối giã gạo, nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ,
khi cất nhắc rồi thì không giúp đỡ họ, khi họ sai lầm thì đẩy họ xuống, chờ lúc họ làm
khá lại cất nhắc lên; một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời.
Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm quý trọng cán bộ khi cho rằng: “Đảng phải nuôi dạy
cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài,
trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”[14].
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Trong công tác cán bộ, phải chú ý việc đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, mà Hồ Chí Minh cho rằng, đây là công việc gốc của Đảng khi đặt
trong mối quan hệ với nội dung vai trò của cán bộ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ là một công việc quan trọng, phải được tiến hành thường xuyên. Ở đây, có mấy
điểm đáng chú ý mà Hồ Chí Minh đã nêu:
- Học phải thiết thực, “lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”[15].
- Học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắn với thực tế.
- Sắp xếp thời gian và bài học phải hợp lý.
- Tuyệt đối chống bệnh chủ quan, hẹp hòi, ba hoa.
- Các tài liệu huấn luyện phải do cơ quan lãnh đạo xét kỹ.
- Những giờ học tập đều tính như những giờ làm việc.
- Khi cất nhắc cán bộ, phải xem kết quả học tập cũng như kết quả công tác khác mà
định.
xâm lăng, là lực lượng gánh vác những công việc nặng nề, khó khăn vất vả nhất trong lao
động sản xuất. Từ thực tiễn của phong trào thanh niên thế giới Người càng thấy rõ tính cấp
thiết của việc khơi dậy phong trào cách mạng của thanh niên Việt Nam.
Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, xuất bản 1925 Người nêu: “Hỡi
Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người
không sớm hồi sinh”. Đoạn viết trên chứa đựng nội dung tư tưởng của Hồ Chí Minh về vị trí,
vai trò của thanh niên Việt Nam đối với vận mệnh của dân tộc. Thanh niên là lớp người tiêu
biểu cho sức sống của một dân tộc. Bởi vậy, Người kêu gọi muốn “hồi sinh” dân tộc trước
hết phải “hồi sinh” thanh niên. Để thực hiện được điều đó Người đã tiếp xúc ngay với những
thanh niên yêu nước trong nhóm Tâm Tâm xã và tổ chức ra một nhóm cách mạng đầu tiên.
Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để quy tụ tất cả những thanh niên
Việt Nam yêu nước đầy nhiệt huyết vào một tổ chức và tờ báo “Thanh niên” là cơ quan
trung ương của tổ chức Hội.
Công lao to lớn của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là đưa giai cấp công
nhân Việt Nam nhanh chóng phát triển thành một lực lượng chính trị độc lập, giác ngộ nhiều
người yêu nước đi theo đường lối đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc, làm phá tan mọi khuynh
hướng tư tưởng của chủ nghĩa cải lương tư bản, đẩy lùi tư tưởng quốc gia dân tộc tư sản
của Việt Nam quốc dân đảng, đồng thời đưa phong trào cách mạng của công nông tiến lên
thành lập một phong trào có tính độc lập rõ rệt. Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời,
thanh niên Việt Nam có lý tưởng cách mạng soi đường đã hăng hái tham gia các phong trào
đấu tranh, sẵn sàng chấp nhận mọi hi sinh gian khổ cùng với Đảng, với dân tộc làm nên
thắng lợi cách mạng Tháng 8 năm 1945. Chủ tịch Hồ Chí Minh không những chỉ ra khả năng
cách mạng to lớn của tuổi trẻ trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân mà Người
còn chỉ ra tiềm năng to lớn của tuổi trẻ trong công cuộc kiến thiết, xây dựng nước nhà.
“Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà.
Hai là,
thanh niên là một lực lượng to lớn, là đội quân xung kích trên mọi mặt trận
của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh ngoài việc tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn
cho dân tộc đồng thời người cũng xác định đúng đắn lực lượng cách mạng Việt Nam. Bác
- Vì trong mọi công việc, thanh niên thi đua thực hiện khẩu hiệu “Đâu cần thanh
niên có, việc gì khó thanh niên làm”
- Vì hai người đầu tiên chinh phục vũ trụ: Hai anh hùng Liên Xô, đồng chí Gararin
và đồng chí Titốp cũng là thanh niên.”
Người khẳng định tuổi trẻ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã phát huy cao vai
trò của mình đóng góp công lao to lớn vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Ba là,
thanh niên phải có tổ chức phù hợp, Đoàn thanh niên là lực lượng hậu bị tin
cậy của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ: “Thanh niên ta rất hăng hái. Ta biết hợp lòng
hăng hái đó lại và dìu dắt đúng đắn thì thanh niên sẽ thành một lực lượng rất mạnh mẽ”.
Theo Người hạt nhân để đoàn kết, tập hợp thanh niên, đồng thời là người trực tiếp tổ chức,
động viên thanh niên phải là Đoàn Thanh niên Cộng sản. Thực hiện tư tưởng của Người, chỉ
một năm sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ngày 26 tháng 03 năm 1931 Đoàn Thanh
niên Cộng sản cũng ra đời. Về chức năng nhiệm vụ của Đoàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “
Đoàn thanh niên là cánh tay và đội hậu bị của Đảng, là người phụ trách, dìu dắt các cháu
nhi đồng”. Đoàn thanh niên vừa là tổ chức gần gũi Đảng lại là lực lượng tích cực, xung
phong gương mẫu trong việc thực hiện chủ trương đường lối chính sách cách mạng, là lực
lượng kế thừa sự nghiệp cách mạng của Đảng của dân tộc, là người thường xuyên bổ xung
đảng viên trẻ cho Đảng, là người trực tiếp giúp Đảng giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho
thanh niên, vận động thanh niên đi theo lý tưởng của Đảng, đồng thời lôi cuốn, tập hợp
đông đảo thanh niên xung phong vào những nơi khó khăn gian khổ nhất… Người còn nói:
“Tổ chức của Đoàn phải rộng hơn Đảng”, Đoàn phải có tổ chức chặt chẽ từ Trung ương
xuống các cơ sở, phải xây dựng được đội ngũ cán bộ Đoàn có đủ phẩm chất, năng lực vì
thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém mà thôi.
Người luôn đề cao vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng sản trong việc tổ chức, tập
hợp đoàn kết giáo dục thanh niên. Mặt khác thông qua các tổ chức thanh niên Đảng nắm
được lực lượng thanh niên và phát huy được vai trò thanh niên trong sự nghiệp cách mạng,
chống lại các âm mưu của các thế lực thù địch tìm mọi cách phá hoại phong trào thanh
niên, muốn đẩy thanh niên xa rời khỏi Đảng, xa rời cách mạng. Trong việc tập hợp thanh
phong gương mẫu trong trong công việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Ưu điểm của
thanh niên là hăng hái, giàu tinh thần xung phong. Khuyết điểm là ham chuộng hình thức,
thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh “anh hùng”. Do vậy, theo Người thanh niên muốn xứng
đáng là người chủ tương lai của đất nước thì yếu tố tự giác rèn luyện của thanh niên là hết
sức quan trọng. “Muốn xây dựng Chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ
nghĩa” vì vậy “thanh niên phải rèn luyện và thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa”. Rèn
luyện ở đây là rèn luyện trên mọi phương diện: rèn luyện đạo đức cách mạng, rèn luyện ý
trí và lòng dũng cảm, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ văn hóa, nghiệp vụ chuyên
môn,.v.v Người động viên thế hệ trẻ phải có quyết tâm lớn, vì sự nghiệp cách mạng là quá
trình lâu dài, khó khăn, đầy hi sinh gian khổ, thanh niên là một lực lượng to lớn của cách
mạng nên phải có quyết tâm lớn mới có thể đưa sự nghiệp cách mạng đến thành công.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về tinh thần
quyết tâm cách mạng. Từ kinh nghiệm quý báu của cuộc đời hoạt động của mình, Người
khẳng định dù sự nghiệp cách mạng có khó khăn bao nhiêu nếu có sự quyết tâm, đoàn kết
đồng lòng, chúng ta đều vượt qua được. Và lời khuyên của Người với thanh niên được xem
như một chân lý, phương châm sống và hành động của thế hệ trẻ: “Không có việc gì khó/
Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết trí ắt làm nên”.
Năm là,
bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng
và rất cần thiết. “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau” là một quy luật của cách mạng,
là một quy luật của sự vận động lịch sử. Đây chính là trách nhiệm của nhân dân, các cơ
quan giáo dục, của Đảng, đến các đoàn thể quần chúng trước hết là Đoàn thanh niên.
Người dặn Đảng ta: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái
xung phong, không ngại khó khăn, có trí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức
cách mạng cho họ, đào tạo họ thành người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”
vừa “chuyên”.Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần
thiết”. Người coi giáo dục, đào tạo, rèn luyện thế hệ trẻ là sự nghiệp “trồng người”. Bác Hồ
nêu tư tưởng chiến lược: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải
trồng người” do vậy quan tâm đến giáo dục đào tạo thế hệ trẻ chính là thực hiện quy luật
TƯ TƯƠNG HCM VỀ VAI TRÒ CON NGƯỜI
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa
Mác - Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng
dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư
tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và
giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt
lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung
tư tưởng của Người.
Vũ Thị Kim Dung
Khoa Giáo dục Chính trị - Trường ĐHSP Hà
Nội
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác -
Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí
Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con
người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là
vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người. Tin
ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, bồi
dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân (ở từng cá nhân riêng lẻ và
của cả cộng đồng), đó là tư tưởng được Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển
trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc cũng
như xây dựng đất nước. Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản ủa toàn
bộ tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.
Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại vừa tư cách cá nhân, vừa
là thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc
sống cá nhân hài hòa, phong phú. Người đã nêu một định nghĩa về con
người: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa
rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người". Quan điểm đó thể
hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn nhận con người một cách chung chung,
các tác phẩm của Người) bàn về cách mạng (chiến lược giải pháp; bàn về
người cách mạng và đạo đức cách mạng, về hoạch định và thực hiện các
chính sách xã hội; về rèn luyện và giáo dục con người v.v ) về thực chất
chỉ là sự cụ thể hóa bằng thực tiễn tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được khái niệm vừa là mục
tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực
của chính sự nghiệp đó. Tư tưởng đó được thể hiện rất triệt để và cụ thể
trong lý luận chỉ đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta.
Trong lý luận về xây dựng chế độ mới, Hồ Chủ tịch đã khẳng định xây
dựng chế độ dân chủ nhân dân gắn liền với việc thực hiện bước tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Trong kháng chiến giải phóng dân tộc cần xây dựng chế độ
dân chủ nhân dân để đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, đồng thời tạo ra
những tiền đề cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong xây dựng chủ nghĩa
xã hội cần phải thực hiện chế độ dân chủ nhân dân, vì như Người nói: "Đây
là cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo
ra những cái mới mẻ, tốt tươi". Cuộc chiến đấu ấy sẽ không đi đến thắng lợi,
nếu không "dựa vào lực lượng của toàn dân". Về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí
Minh không bao giờ quan niệm hình thái xã hội đó như một mô hình hoàn
chỉnh, một công thức bất biến. Bao giờ Người cũng coi trọng những điều
kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa khách quan. Người chỉ đề ra những
mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những bước đi thiết
thực và những nội dung cơ bản nhất. Theo Người: "Nói một cách tóm tắt,
mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát
khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và được
sống đời hạnh phúc"; "Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất
và văn hóa của nhân dân" xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là làm cho nhân dân
ta có một đời sống thật sung sướng, tốt đẹp. Người dạy xây dựng chủ nghĩa
xã hội phải thiết thực, phù hợp với điều kiện khách quan, phải nắm được
quy luật và phải biết vận dụng quy luật một cách sáng tạo trên cơ sở nắm
có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết toàn dân", thì các nhà Nho phong kiến
xưa kia mặc dù có những tư tưởng tích cực "lấy dân làm gốc", mặc dù cũng
chủ trương khoan thư sức dân", nhưng quan điểm của họ mới chỉ dừng lại ở
chỗ coi việc dựa vào dân cũng như một "kế sách", một phương tiện để thực
hiện mục đích "trị nước", "bình thiên hạ". Ngay cả những bậc sĩ phu tiền bối
của Hồ Chí Minh, tuy là những người yêu nước một cách nhiệt thành, nhưng
họ chưa có một quan điểm đúng đắn và đầy đủ về nhân dân, chưa có đủ
niềm tin vào sức mạnh của quần chúng nhân dân. Quan điểm tin vào dân,
vào nhân tố con người của Người thống nhất với quan điểm của Mác,
Ăngghen, Lênin: "Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra
lịch sử".
Tin dân, đồng thời lại hết lòng thương dân, tình thương yêu nhân dân
của Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ trong truyền thống dân tộc, truyền
thống nhân ái ngàn đời của người Việt Nam. Cũng như bao nhà Nho yêu
nước khác có cùng quan điểm "ái quốc là ái dân", nhưng điểm khác cơ bản
trong tư tưởng "ái dân" của Người là tình thương ấy không bao giờ dừng lại
ở ý thức, tư tưởng mà đã trở thành ý chí, quyết tâm thực hiện đến cùng sự
nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại cần lao,
xóa bỏ đau khổ, áp bức bất công giành lại tự do, nhân phẩm và giá trị làm
người cho con người. ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước gắn bó không
tách rời với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Tình thương yêu cũng như toàn
bộ tư tưởng về nhân dân của Người không bị giới hạn trong chủ nghĩa dân
tộc hẹp hòi mà nó tồn tại trong mối quan hệ khăng khít giữa các vấn đề dân
tộc và giai cấp, quốc gia với quốc tế. Yêu thương nhân dân Việt Nam,
Người đồng thời yêu thương nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế
giới. Trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng sức
mạnh đoàn kết toàn dân và sự đồng tình ủng hộ to lớn của bè bạn khắp năm
châu, của cả nhân loại tiến bộ. Người cũng xác định sự nghiệp cách mạng
của nước ta là một bộ phận không thể tách rời trong toàn bộ sự nghiệp đấu
tranh giải phóng nhân loại trên phạm vi toàn thế giới.
chính sách của Đảng trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong sự
nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng đó tiếp tục được Đảng ta quán
triệt vận dụng và phát triển. Con người Việt Nam đang là trung tâm trong
"chiến lược phát triển toàn diện"; đang là động lực của công cuộc xây dựng
xã hội mới với mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh,
vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội".
Tạp chí Khoa học chính trị, số 2-
1998