DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Thứ tự Viết tắt Nghĩa
1 UBND Uỷ Ban nhân dân
2. CSHT Cơ sở hạ tầng
3. GTNT Giao thông nông thôn
4. NSNN Ngân sách nhà nước
5. ĐTPT Đầu tư phát triển
6. ĐTXDCB Đầu tư xây dựng cơ bản
7. GDP Tổng sản phẩm quốc nội
1
1 1
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế xã hội, huyện
Nông Cống đã có những bước chuyển biến đáng kể và đạt được nhiều thành tựu quan
trọng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn giữ ở mức cao; phát triển toàn diện nền kinh tế
cũng như ở từng ngành cụ thể; việc huy động các nguồn lực thực hiện mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội đạt nhiều kết quả tốt và đảm bảo. Những thành tựu đó đã làm cho
thế và lực huyện Nông Cống mạnh lên rất nhiều.
Để xác định hướng phát triển tiếp theo, đưa Nông Cống hoà nhịp với tiến trình
công nghiệp hoá hiện đại hoá của tỉnh,của đất nước cần thiết phải đánh giá đúng,nhận
dạng đủ các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình phát triển KT- XH của huyện. Một trong
những nhân tố quan trọng hàng đầu đó chính là cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn,
bởi cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn có vai trò quan trọng và quyết định đối với sự
phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia và từng tỉnh, huyện nói riêng. Những năm
qua đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật huyện Nông Cống hết sức quan tâm và ưu tiên đầu
tư hàng đầu.
Bên cạnh những kết quả đạt được của việc sử dụng vốn NSNN cho đầu tư phát
triển CSHT GTNT, vẫn còn tồn tại và hạn chế như: đầu tư manh mún, dàn trải…. dẫn
đến kém hiệu quả và làm thất thoát nguồn vốn của Nhà nước.Nông Cống là một huyện
thuần nông, việc huy đông nguồn vốn đầu tư từ nội bộ nền kinh tế của huyện còn hạn
+ Tổng quan các tư liệu hiện có về lĩnh vực đầu tư GTNT đã được đang tải trên
các sách báo, tạp chí, các báo cáo tổng kết hội nghị hội thảo, kết quả của các đợt điều
tra của các tổ chức, các cuộc trả lời phỏng vấn của các nhà khoa học, nhà quản lý, các
nhà hoạch định chính sách, các tài liệu đăng tải trên các phương tiện thông tin đại
chúng
+ Trao đổi ý kiến trực tiếp với các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực GTNT,
Ban quản lý dự án, một vài đơn vị thi công trên địa bàn huyện
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu chủ yếu: hiệu quả đầu tư phát triển CSHT GTNT sử dụng
vốn NSNN
3
3 3
- Đối tượng khảo sát: các chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng GTNT, Ban quản lí
dự án, người dân địa phương.
4.2.Phạm vi nghiên cứu
-Về không gian: các công trình đầu tư CSHT giao thông nông thôn trên địa bàn
huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
-Về thời gian: Phân tích đánh giá thực trạng giai đoạn 2009-2012 và đề xuất giải
pháp đến năm 2015.
4
4 4
PHẦN THỨ II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1: Những vấn đề lí luận và thực tiễn về hiệu quả đầu tư phát triển CSHT
GTNT sử dụng vốn NSNN.
1.1 Lý luận cơ bản về vốn NSNN
1.1.1. Khái niệm về NSNN
Vốn Ngân sách thường được gọi là vốn ngân sách Nhà nước vốn ngân sách
trung ương, vốn ngân sách cấp Tỉnh, vốn ngân sách cấp huyện, thị xã (Ngân sách
+ Vốn ngân sách từ các nguồn thu của địa phương được giữ lại ( cấp quyền sử
dụng đất, bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước, xổ số )
+ Vốn ngân sách sự nghiệp có tính chất XDCB.
1.1.2. Vai trò của vốn NSNN đối với phát triển CSHT GTNT
Vốn đầu tư từ NSNN là nguồn vốn đầu tư cơ bản và quan trọng nhất để đầu tư
phát triển CSHT như: bưu điện, thông tin liên lạc, đặc biệt là hệ thống giao thông ở
nông thôn… Các công trình giao thông này là những công trình công cộng đòi hỏi
một lượng vốn đầu tư lớn nhưng thời gian thu hồi vốn dài và lợi nhuận thấp. Do đó,
các nhà đầu tư thường không muốn đầu tư vào lĩnh vực này. Hiện nay, việc tham gia
đầu tư từ các nguồn vốn ngoài NSNN là quá ít, để đảm bảo thực hiện được các mục
tiêu phát triển đất nước, Nhà nước phải sử dụng vốn đầu tư cho phát triển các lĩnh vực
kết cấu hạ tầng. Từ khó khăn về huy động vốn dẫn đến tiến độ thi công các công trình
đầu tư phát triển các lĩnh vực kết cấu hạ tầng cũng rất chậm chạp, trì trệ, một số công
trình có tên trong mục đầu tư đã được phê duyệt cứ phải xếp hàng mãi đến lượt, nhiều
công trình không thể thực hiện được vì không đảm bảo vốn đầu tư. Ngoài ra vấn đề sử
dựng vốn cho phát triển các lĩnh vực kết cấu hạ tầng cũng đang là vấn đề nhức nhối
mà các ngành cần giải quyết. Đó là tình trạng thất thoát do tệ tham ô, tham nhũng, do
việc thực hiện không đúng tiến độ kỹ thuật. Mà thất thoát vốn đầu tư xây dựng CSHT
thì rất lớn, gây lãng phí lớn.
Ngoài ra vốn ngân sách còn có ý nghĩa rất quan trọng để khơi dậy các nguồn vốn
khác còn tiềm tàng đặc biệt là vốn trong dân cư, ở đây vốn ngân sách có tính chất
“vốn mồi”, vốn hỗ trợ một phần như: chi để lập các dự án, các quy hoạch cần thiết để
nhân dân và các tổ chức kinh tế khác đưa vốn vào đầu tư phát triển. Vốn ngân sách hỗ
trợ một phần làm đường ngõ xóm phần còn lại cộng đồng dân cư tự đóng góp và
quản lý sử dụng. Hình thức này được sử dụng phổ biến ở các nước đặc biệt trong việc
6
6 6
tham gia của nhân dân vào các dự án dịch vụ và hạ tầng đô thị mới với các hình thức
tài trợ xen kẽ, hợp vốn công - tư
1.2. Lý luận chung về đầu tư phát triển CSHT GTNT
đường xá, kho tầng bến bãi phục vụ trực tiếp cho việc vận chuyên hàng hóa, giao lưu
đi lại của dân cư.
+Mạng lưới và thiết bị phân phối, cung cấp điện, mạng lưới thông tin liên lạc…
+Những công trình xử lý, khai thác và cung cấp nước sạch sinh hoạt cho dân cư
nông thôn,
+Mạng lưới và cơ sỏ thương nghiệp, dịch vụ cung ứng vật tư, nguyên vật liệu…
mà chủ yếu là những công trình chợ búa và tụ điểm giao lưu buôn bán.
+Cơ sở nghiên cứu khoa học, thực hiện và chuyển giao công nghệ kĩ thuật, trạm
sản xuất và cung ứng giao giống vật nuôi cây trồng.
Nội dung của cơ sở hạ tầng trong nông thôn cũng như sự phân bố cấu trúc trình
độ phát triển của nó có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực, quốc gia cũng như các
địa phương, vùng lãnh thổ của đất nước. Tại các nước phát triển, CSHT nông thôn còn
bao gốm cả các hệ thống, công trình cung cấp gas, khí đốt, xử lí vá làm sạch nguồn
nước tưới tiêu nông nghiệp, cung cấp cho nông dân nghiệp vụ khuyến nông.
1.2.1.3.Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
CSHT GTNT là một bộ phận của CSHT nông thôn, bao gồm CSHT đường sông,
đường mòn, đường đất phục vị sự đi lại trong nội bộ nông thôn,nằm phát triển sản xuất
và phục vụ giao lưu kinh tế, văn hóa xã hội của các làng xã, thôn xóm. Hệ thống này
nhằm bảo đảm cho các phương tiện cơ giới loại trung, nhẹ và xe thô sơ qua lại.
Đối tượng hưởng lợi ích trực tiếp của hệ thống GTNT sau khi xây dựng mới,
nâng cấp là người dân nông thôn, bao gồm những nhóm người có nhu cầu và ưu tiên đi
lại khác nhau như nông dân, doanh nhân,những người không có ruộng đất, cán bộ
công nhân viên của các đơn vị phục vụ công cộng làm việc ở nông thôn…
*Hệ thống CSHT GTNT
CSHT GTNT bao gồm:
+Mạng lưới đường GTNT: đường huyện, đường xã và đường thôn xóm, cầu
cống, phà trên tuyến.
+Đường sông và các công trình trên bờ
8
8 8
9 9
GTNT. Đến lượt mình, sự phát triển CSHT về quy mô, chất lượng lại thể hiện định
hướng phát triển kinh tế - xã hội.
Thực thiện tốt chiến lược ưu tiên trong phát triển CSHT giao thông của toàn
nông thôn, toàn vùng, từng địa phương trong mỗi giai đoạn phát triển sẽ vừa quán triệt
tốt đặc điểm về tính tiên phong định hướng, vừa giảm nhẹ nhu cầu huy động vốn đầu
tư do chỉ tập trung cao vào những công trình ưu tiên.
1.2.2.3.Tính địa phương, tính vùng và khu vực
Việc xây dựng và phát triển CSHT GTNT phụ thuộc váo nhiều yếu tố như: địa
lí, địa hình, trình độ phát triển…Do địa bàn nông thôn rộng, dân cư phân bố không đều
và điều kiện sản xuất nông nghiệp vừa đa dạng, phức tạp lại vừa khác biệt lớn giữa
các địa phương, các vùng sinh thái.
Vì thế, hệ thống CSHT GTNT mang tính vùng và địa phương rõ nét. Điều này
thể hiện cả trong quá trình tạo lập, xây dựng cũng như trong tổ chức quản lí, sử dụng
chúng.
Yêu cầu này đặt ra trong việc xác định phân bố hệ thống GTNT, thiết kế,đầu tư
và sử dụng nguyên vật liệu, vừa đặt trong hệ thống chung của quốc gia, phải phù hợp
với đặc điểm, điều kiện từng địa phương, từng vùng lãnh thổ.
1.2.2.4. Tính xã hội và tính công công cao
Tính xã hội và công bằng cao của các công trình giao thông ở nông thôn thể hiện
trong xây dựng và sử dụng
Trong xây dựng, hầu hết các công trình đều được sử dụng nhằm phục vị việc đi
lại, buôn bán giao lưu cho tất cả người dân, tất cả các cơ sở kinh tế, dịch vụ.
Trong xây dựng, mỗi loại công trình khác nhau có những nguồn vốn khác nhau
từ các thành phần, các chủ thể trong nền kinh tế quốc dân. Để việc xây dựng, quản lí,
sử dụng các hệ thống đường nông thôn có kết quả cần lưu ý:
+Đảm bảo hài hòa giữa nhiệm vụ trong xây dựng và quyền lợi trong sử dụng các
tuyến đường cụ thể. Nguyên tắc cơ bản là gắn quyền lợi với nghĩa vụ.
+Thực hiện tốt việc phân cấp trong xây dựng và quản lí sử dụng hiệu quả CSHT
10
được duyệt.
11
11 11
Chi phí xây lắp :
Chi phí phá và tháo dỡ các vật kiến trúc cũ ( có tính đến giá trị vật tư, vật liệu
thu hồi để giảm vốn đầu tư). Chi phí san lấp mặt bằng xây dựng. Chi phí xây dựng
công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công ( đường thi công, điện, nước ),
nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công. Chi phí xây dựng các hạng mục
công trình. Chi phí lắp đặt thiết bị (đối với thiết bị cần lắp đặt). Chi phí di chuyển lớn
thiết bị thi công và lực lượng xây dựng (trong trường hợp chỉ định thầu nếu có)
Trong những năm qua ở Thị xã Hồng Lĩnh việc tính toán chi phí xây lắp đã
đúng với các văn bản của Nhà nước ban hành. Các nhà thầu đã sử dụng nhiều loại máy
móc cho công tác thi công, giải phóng mặt bằng
Chi phí thiết bị bao gồm:
Chi phí mua sắm thiết bị công nghệ (gồm cả thiết bị phi tiêu chuẩn cần sản xuất
gia công, các trang thiết bị khác phục vụ sản xuất, làm việc, sinh hoạt của công trình.
Chi phí vận chuyển từ cảng và nơi mua đến công trình, chi phí lưu kho, lưu bãi, lưu
Container tại cảng Việt Nam (đối với các thiết bị nhập khẩu), chi phí bảo quản , bảo
dưỡng tại kho bãi hiện trường. Thuế và các chi phí bảo hiểm thiết bị công trình.
Chi phí khác bao gồm:
Ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Chi phí lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đối với
các dự án nhóm A hoặc dự án nhóm B (nếu cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư yêu
cầu bằng văn bản), báo cáo nghiên cứu khả thi đối với dự án nói chung và các dự án
chỉ thực hiện lập báo cáo đầu tư. Chi phí tuyên truyền quảng cáo cho dự án. Chi phí
nghiên cứu khoa học, công nghệ có liên quan đến dự án (đối với dự án nhóm A và một
số dự án có yêu cầu đặc biệt được thủ tướng chính phủ cho phép). Chi phí và lệ phí
thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án đầu tư .
Ở giai đoạn thực hiện đầu tư: Chi phí khởi công công trình (nếu có). Chi phí
đền bù và tổ chức thực hiện trong quá trình đền bù đất đai, hoa màu, di chuyển dân cư
và các công trình trên mặt bằng xây dựng, chi phí phục vụ cho công tác tái định cư và
nghiên cứu.
Iv
r
- Vốn đầu tư được thực hiện trong kỳ nghiên cứu
C - Chi phí không làm tăng giá trị tài sản cố định.
Iv
e
- Vốn đầu tư thực hiện chưa được huy động chuyển sang kỳ sau.
Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn
>Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn ở tầm vĩ mô:
Ở tầm vĩ mô các hiệu quả kinh tế thường biểu hiện một cách không rõ nét, thường phải
chờ đợi một thời gian dài mới thấy hết hiệu quả của nó.
Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế
- xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó
trong một thời kỳ nhất định.
13
13 13
- Hệ số gia tăng vốn sản phẩm (hệ số ICOR)
Hệ số ICOR cho biết từng thời kỳ cụ thể muốn tăng thêm một đồng GDP thì
cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư. Hệ số này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
càng lớn.
ICOR = Vốn đầu tư / GDP do vốn tạo ra = Vốn đầu tư/
∆
GDP
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư. ở
các nước phát triển, ICOR thường lớn, từ 5-7 do thừa vốn, thiếu lao động, vốn được sử
dụng nhiều để thay thế cho lao động, do sử dụng công nghệ hiện đại có giá cao. Còn ở
các nước chậm phát triển thì ICOR thường chỉ 2-3 do thiếu vốn đầu tư, thừa lao động
nên có thể và cần phải sử dụng lao động để thay thế vốn do sử dụng công nghệ kém
hiện đại, giá rẻ.
độ toàn bộ nền kinh tế của một địa phương ta xét tổng hợp các chỉ tiêu này theo nhiều
góc độ khác nhau.
- Tỷ số lợi ích trên chi phí (B/C)
Tỷ lệ lợ ích trên chi phí xác định mối quan hệ giữa lợi ích thu được của dự án đầu tư
so với chi phí mà dụ án đầu tư bỏ ra. hay nói cách khác tỷ số lợi ích trên chi phí (B/C)
là tỷ số giữa hiện giá thu nhập và hiện giá chi phí. Để xác định được tỷ lệ này chúng ta
cần xác định được dòng lợi ích và dòng chi phí của dự án.
Tỷ lệ này được tính theo công thức:
Tổng hiện giá thu nhập ΣBt/(1+i)
t
B/C = =
Tổng hiện giá chi phí ΣCt/(1+i)
t = 1 → n
Dòng chi phí bao gồm chi phí vận hành hàng năm và dòng đầu tư.
Dòng lợi ích được xác định bằng dòng thu của dự án.
Trong đó: Bt: thu nhập của dự án năm t
Ct: chi phí dự án năm t
n: Tuổi thọ kinh tế hoặc thời gian hoạt động của dự án đầu tư
Nếu B/C >1 : Thu nhập > Chi phí, dự án có lãi (hiệu quả)
Nếu B/C = 1: Thu nhập = Chi phí, dự án không có lãi
Nếu B/C < 1: Thu nhập < chi phí, dự án bị lỗ
Ưu điểm của chỉ tiêu này cho thấy mức thu nhập của một đồng chi phí, nhưng nó có
nhược điểm là không cho chúng ta biết tổng số lãi ròng thu được (có dự án có tỷ lệ lợi
ích trên chi phí (B/C) lớn, nhưng tổng lãi ròng vẫn nhỏ).
15
15 15
- Thời hạn thu hồi vốn đầu tư ( T)
Thời hạn thu hồi vốn đầu tư xác định khoảng thời gian số vốn đầu tư bỏ vào thu hồi lại
được hoàn toàn.
Thời hạn thu hồi vốn đầu tư có thể xác định theo thời hạn thu hồi vốn giản đơn (ký
16 16
NPV > 0 thì dự án đầu tư có hiệu quả và chỉ tiêu này càng lớn hơn không, hiệu quả
càng cao. Khi NPV = 0 thì dự án không bị lỗ xét trên khía cạnh tài chính nhưng không
có lãi.
1.3.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tư
- Các nhân tố chủ quan của địa phương và đơn vị thực hiện đầu tư.
Một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc sử dụng hiệu quả vốn
đầu tư từ ngân sách Nhà nước là công tác quản lý đầu tư của địa phương, trình độ
quản lý và sử dụng vốn của cán bộ quản lý và thực hiện đầu tư tại địa phương.
Công tác thẩm định dự án đầu tư còn có nhiều mặt hạn chế, thậm chí còn mang tính
hình thức, thiếu các cán bộ có năng lực chuyên môn đảm nhiệm khâu thẩm định dự án,
thiết kế và dự toán tại các cơ quan quản lý nhà nước dẫn đến chất lượng dự án và thiết
kế chưa đảm bảo.
Công tác thẩm định thiết kế, dự toán và công tác xét thầu còn nhiều phiền hà,
phức tạp. Vai trò trách nhiệm của các cấp, các ngành, sự phối hợp chưa đồng bộ, chưa
nhịp nhàng ăn khớp. Mặt khác do thay đổi các chính sách về quản lý đầu tư và xây
dựng, đấu thầu và chỉ định thầu nên việc triển khai các thủ tục còn chậm.
Năng lực quản lý của các chủ đầu tư còn yếu, phần lớn các cán bộ đều kiêm
nhiệm thiếu thời gian, hơn nữa lại thiếu các cán bộ chuyên môn nghiệp vụ về XDCB,
nên quá trình chỉ đạo thực hiện từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án đến nghiệm
thu thường chậm, chất lượng lập dự án chưa cao, chủ yếu bằng lời văn, thiếu các dữ
liệu hoặc các dữ liệu mang tính chất ước lượng, năng lực nghiệm thu hồ sơ của các
nhà thầu không được đảm bảo, do vậy hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án thiếu sức
thuyết phục.
Công tác chuẩn bị đầu tư chưa được quan tâm đúng mức, chưa sát với tình hình
thực tế, việc bố trí vốn chuẩn bị đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu, các huyện, các
ngành chưa chủ động thực hiện việc chuẩn bị đầu tư
Do các công trình trọng điểm thường có quy mô lớn nên việc triển khai rất
chậm, kéo dài ảnh hưởng đến hiệu quả và không kịp đưa vào khai thác sử dụng.
17
phương trong từng thời kỳ, để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá
18
18 18
- hiện đại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao vật chất đời sống tinh
thần của nhân dân. Sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư do Nhà nước
quản lý, chống thất thoát lãng phí. Bảo đảm xây dựng dự án theo quy hoạch xây dựng
yêu cầu bền vững, mỹ quan, bảo vệ môi trưưòng sinh thái, tạo môi trường cạnh tranh
lành mạnh trong xây dựng, áp dụng công nghệ tiên tiến, đảm bảo chất lượng và thời
hạn xây dựng với chi phí hợp lý, bảo hành công trình xây dựng.
Về công nghiệp hoá:
Đầu tư là cái đầu tiên và là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển đất nước,
muốn đất nước phát triển thì chúng ta phải tiến hành các công cuộc đầu tư.Công
nghiệp hoá được coi là cái khởi đầu cho thời kỳ quá độ nền sản xuất nhỏ, lạc hậu lên
nền sản xuất lớn, hiện đại. Vì vậy, chiến lược công nghiệp hoá sẽ ảnh hưởng đến các
chính sách kinh tế khác. Lựa chọn chiến lược công nghiệp hoá đúng sẽ tạo cho việc
lựa chọn các chiến lược, các chính sách đúng đắn. Đó là điều kiện cực kỳ quan trọng
quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, tạo điều kiện
cho nền kinh tế tăng trưởng lâu bền, tạo nhiều việc làm, ổn định giá cả, đảm bảo nâng
cao mức sống của cộng đồng dân cư và thiết lập một xã hội cộng đồng văn minh, biểu
hiện của việc sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư.
1.4. Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển CSHT GTNT sử dụng vốn
NSNN.
1.4.1. Chung của cả nước
1.4.1.1. Tình hình chung
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Chính
phủ nền sản xuất nông nghiệp, đời sống người nông dân cũng như cơ sở hạ tầng giao
thông nông thôn đã cơ bản thay đổi và đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên,
đứng trước công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn nhiều thách thức
được đặt ra. Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn là yêu cầu cấp thiết và có
tính chất sống còn đối với xã hội, để xóa bỏ rào cản giữa thành thị và nông thôn, rút
thuộc nguồn vốn trong nước (NSNN, nhân dân đóng góp và các nguồn vốn khác ) và
gần 46 tỷ đồng các dự án thuộc nguồn vốn nước ngoài (WB3).
20
20 20
Hạ tầng GTNT được quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp cải tạo việc đi lại của
nhân dân thuận tiện, tạo điều kiện để nhân dân đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh,
rút ngắn dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Đây là nền tảng quan trọng để
Bắc Ninh tiếp tục thực hiện mục tiêu về xây dựng đường liên xã, đường nội đồng tiến
tới hoàn thiện mạng lưới GTNT một cách đồng bộ, hiện đại, sớm thực hiện thành công
mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh
*Phong trào làm giao thông nông thôn ở Lâm Thao ( Phú Thọ)
Là huyện đồng bằng duy nhất của Phú Thọ, Lâm Thao có hệ thống giao thông
đường bộ phân bổ tương đối đồng đều ở các xã, thị trấn. Toàn huyện có 683 km đường
giao thông các loại, trong đó có 452 km đường giao thông nông thôn và 231 km giao
thông nội đồng.
Trước năm 2009, với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, toàn huyện
đã đổ bê tông xi măng được 114,02 km và có 10,3 km đường nhựa, không kể các
tuyến quốc lộ và tỉnh lộ. Hầu hết các xã, thị trấn đều xây dựng nghị quyết chuyên đề
về phát triển giao thông nông thôn và hàng năm tiến hành đầu tư theo khả năng nguồn
vốn của địa phương và sự hỗ trợ của cấp trên. Với điều kiện ngân sách còn nhiều khó
khăn, bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước, các địa phương trong huyện đã bám sát
phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” để tuyên truyền, vận động nhân
dân đóng góp kinh phí. Do đó việc duy tu, nâng cấp và làm mới các tuyến đường giao
thông nông thôn trên địa bàn huyện đã chủ yếu được thực hiện theo phương thức: Nhà
nước hỗ trợ xi măng, nhân dân đóng góp vật tư và nhân côngTrong 3 năm qua,
huyện đã huy động kinh phí từ mọi nguồn 61,142 tỷ đồng để thực hiện mục tiêu nâng
cấp các tuyến đường bằng bê tông, đá răm nhựa. Trong đó đã nâng cấp 74,87 km
đường bê tông và đường nhựa; làm mới 19,12 km đường đất, đường nhựa và đường bê
tông xi măng; duy tu sửa chưa 106 km; làm mới 5 cầu các loại với khối lượng đất đào
đắp đạt 604.400 m3. Một số đơn vị có số lượng đường giao thông được cứng hóa đạt
Đến nay, huyện đã quy hoạch xong mạng lưới giao thông trên địa bàn các xã, thị
trấn rà soát, bổ sung quy hoạch phù hợp với tình hình thực tế và theo tiêu chí
22
22 22
XDNTM. Căn cứ vào quy hoạch, các xã tập trung xây dựng chương trình, kế hoạch
đầu tư cụ thể phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Đồng thời tuyên truyền,
vận động nhân dân hiểu rõ lợi ích của việc đầu tư xây dựng đường giao thông nông
thôn, vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư.
Từ năm 2009 đến hết năm 2012, trên địa bàn huyện Thiệu Hóa đã huy động hơn
120 tỷ đồng xây dựng đường giao thông nông thôn và hệ thống cầu, cống, trong đó
nhân dân đóng góp 34,5 tỷ đồng. Đã kiên cố được 206,6 km/tổng 274,89 km đường
xã, đường liên thôn; 454,8km/tổng 536,89 đường thôn, xóm; xây dựng cải tạo, sửa
chữa 20 cầu, 772 cống các loại. Sau đầu tư xây dựng, huyện chỉ đạo các xã xây dựng
và ban hành quy định quản lý lòng, lề đường, hành lang an toàn giao thông, tăng
cường công tác tuyên truyền và tổ chức thực hiện. Công an huyện tăng cường công tác
quản lý hoạt động và ngăn chặn có hiệu quả tình trạng xe quá tải trên địa bàn
*Phong trào giao thông nông thôn (GTNT) ở xã Quảng Thịnh, huyện Quảng
Xương.
Ngay sau khi được chọn là xã thí điểm xây dựng NTM giai đoạn 1 (2010-2015),
Đảng ủy, UBND xã đã lập đề án xây dựng NTM, rà soát, đánh giá hiện trạng và xây
dựng kế hoạch, lộ trình triển khai thực hiện cụ thể cho từng năm. Xã đề ra kế hoạch
trong 2 năm đầu tập trung hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và hệ
thống giao thông nông thôn theo tiêu chí NTM. Xã thành lập tổ công tác, cử cán bộ
trực tiếp xuống từng thôn, đội để nắm tình hình; kịp thời giải đáp các thắc mắc của
nhân dân, đồng thời thống nhất với các thôn về việc xây dựng phương án DĐĐT.
Triển khai việc xây dựng hệ thống giao thông nội đồng, xã đề ra phương thức huy
động vốn theo tỷ lệ nhân dân đóng góp 30% tổng kinh phí xây dựng, bằng nhiều hình
thức như đóng góp bằng tiền theo nhân khẩu, tự nguyện hiến đất hoặc ngày công, còn
lại 70% từ kinh phí hỗ trợ của Nhà nước và ngân sách xã. Nhân dân trong xã đã đóng
góp 139.229m
khác, địa hình Nông Cống còn bị chia cắt bởi hệ thống sông Yên bắt nguồn từ vùng
núi các huyện Triệu Sơn, Như Thanh bao gồm 4 sông chính: sông Hoàng, sông Nhơm,
sông Mực, sông Thị Long. Hệ thống sông suối trên là một lợi thế để phát triển giao
24
24 24
thông đường thủy, song nó đòi hỏi phải đầu tư xây dựng hệ thống cầu đường, đường
sắt và nguồn vốn lớn.
Huyện Nông Cống nằm ở vùng trũng vì vậy địa chất chủ yếu là đất lầy lụt, do
đó ảnh hưởng đến xây dựng nói chung, giao thông nói riêng về độ bền vững của công
trình, việc bảo trì hệ thống công trình đòi hỏi nhiều công sức và tiền vốn.
*Khí hậu thời tiết
Huyện Nông Cống thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa
hè khí hậu nóng ẩm, mùa đông khô hanh, xen kẽ giữa 2 mùa chính là khí hậu chuyển
tiếp giữa hè sang Đông là mùa thu ngăn thường gây bão lụt, giữa đông sang hè là mùa
xuân không rõ rệt thường ẩm ướt, mưa phùn.
Nhiệt độ: Tổng nhiết độ trung bình trong năn từ 8500 - 8600
o
C, biên độ năm
11-12
o
C, biên độ ngày 6 - 7
o
C. Nhiệt độ trung bình tháng 1 : 16,5 - 17
o
C, thấp nhất
tuyệt đối không quá 2
o
C. Nhiệt độ trung bình tháng 7 : 28,5 - 29
o
C, nhiệt độ cao nhất