Hoàn thiện công tác trả lương, trả thưởng cho CBCNV và người lao động ở Công ty Cổ phần Tư vấn - Đầu tư Xây dựng Ba Đình - Pdf 13

Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
LỜI CAM ĐOAN
Kính gừi: Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế quốc dân.
Đồng kính gửi: Khoa Kinh tế và quản lý nguồn nhân lực
Tên em là : Nguyễn Thị Hồng Vân
Sinh ngày : 25/10/1982.
Mã số sinh viên : CT071034
Sinh viên lớp : HCKT – QTNL – K7.
Trong thời gian vừa qua được sự phân công em đã liên hệ và thực tập tại Công ty
Cổ phần Tư vấn - Đầu tư Xây dựng Ba Đình. Trong quá trình thực tập được sự hướng dẫn
tận tình của cô giáo Vũ Hoàng Ngân, và được sự giúp đỡ của các cô chú phòng Tổ chức kế
hoạch và hành chính Công ty em đã hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp có tên là: “
Hoàn thiện công tác trả lương, trả thưởng cho CBCNV và người lao động ở Công ty Cổ
phần Tư vấn - Đầu tư xây dựng Ba Đình”.
Em xin cam đoan tất cả những gì được viết trong chuyên đề này không được sao
chép từ bất kỳ một chuyên đề nào khác. Nếu có em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng Vân.
-1-
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
1
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
LỜI MỞ ĐẦU
Tiền lương, tiền thưởng là một phạm trù kinh tế tổng hợp và có ý nghĩa to lớn vì
vậy nó luôn được xã hội quan tâm. Tiền lương, tiền thưởng có ý nghĩa vô cùng quan trọng
đối với người lao động và được họ hết sức quan tâm và nó là nguồn thu nhập chủ yếu giúp
đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình họ. Đồng thời tiền lương, tiền thưởng cũng là
một yếu tố động viên vật chất quan trọng, nó kích thích người lao động trong việc tăng
năng suất lao động. Ngoài ra tiền lương, tiền thưởng cũng là một loại chi phí sản xuất kinh
doanh thường xuyên của doanh nghiệp và được cấu thành vào giá thành sản phẩm. Hình
thức trả lương, thưởng hợp lý sẽ động viên người lao động nâng cao trình độ lành nghề,

Cổ phần Tư vấn - Đầu tư Xây dựng Ba Đình và các cô, các chú phòng Tổ chức kế hoạch
và hành chính Công ty đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành bản báo cáo này.
-3-
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
3
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG
VÀ TIỀN THƯỞNG
1.1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG
1.1.1 Bản chất và ý nghĩa của tiền lương.
1.1.1.1 Bản chất của quỹ tiền lương.
Quỹ tiền lương là tổng số tiền dùng để trả lương cho người lao động, do cơ quan
(doanh nghiệp) quản lý. Có các loại quỹ tiền lương như sau:
 Căn cứ vào mức độ ổn định các bộ phận quỹ tiền lương được chia thành các loại
như sau:
- Quỹ lương cố định (còn gọi là quỹ lương cấp bậc, cơ bản, bộ phận lương
cứng) là quỹ tiền lương được tính dựa vào hệ thống thang lương, bảng
lương.
- Quỹ lương biến đổi: Bao gồm các khoản phụ cấp, tiền thưởng.
 Căn cứ vào sự hình thành và tình hình sử dụng quỹ lương, quỹ tiền lương được chia
ra như sau:
- Quỹ lương kế hoạch: là quỹ lương dự tính tại thời kỳ nào đó.
- Quỹ lương báo cáo (thực hiện): là số tiền thực tế đã chi, trong đó bao gồm cả
các khoản không được lập trong kế hoạch
 Căn cứ vào đơn vị thời gian quỹ tiền lương được chia thành các loại như sau:
- Quỹ tiền lương giờ.
- Quỹ tiền lương ngày.
- Quỹ tiền lương tháng.
- Quỹ tiền lương năm.
1.1.1.2 Ý nghĩa của tiền lương.

góp phần làm tăng nguồn thu của Chính phủ cũng như giúp cho Chính phủ điều tiết
được thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.
1.1.2 Tiền lương là bộ phận chính của quỹ lương
1.1.2.1 Khái niệm tiền lương.
Tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người
-5-
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định
hoặc hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng.
1.1.2.2 Chức năng của tiền lương.
a) Chức năng tái sản xuất sức lao động: Tiền lương phải đảm bảo được tái sản xuất
sức lao động (bao gồm tái sản xuất đơn tức, tức là khôi phục sức lao động và tái
sản xuất sức lao động mở rộng). Điều này có nghĩa là với tiền lương, người lao
động không chỉ đủ sống mà còn dư để nâng cao trình độ về mọi mặt cho bản
thân và con cái họ, thậm chí có một phần nhỏ để tích luỹ.
b) Chức năng kích thích người lao động: Tiền lương đảm bảo và góp phần tác
động để tạo ra cơ cấu lao động hợp lý trong toàn bộ nền kinh tế, khuyến khích
phát triển kinh tế ngành và lãnh thổ. Tiền lương đồng thời là đòn bẩy kinh tế thu
hút người lao động hăng say làm việc. Là động lực thúc đẩy tăng năng suất,
khuyến khích nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, gắn trách nhiệm cá nhân
với tập thể và công việc.
c) Chức năng thanh toán của tiền lương: Dùng tiền lương để thanh toán các khoản
chi tiêu phát sinh trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, giúp cho người lao động
tính toán các khoản chi tiêu và họ sẽ tự điều chỉnh, cân đối chi tiêu cho hợp lý
với số tiền họ nhận được khi kết thúc một quá trình lao động.
d) Tiền lương là thước đo mức độ cống hiến của người lao động: Chức năng này là
biểu hiện của quy luật phân phối theo lao động.
1.1.2.3 Các nguyên tắc tiền lương.

sản xuất tư liệu tiêu dùng (khu vực II). Quy luật tái sản xuất mở rộng đòi hỏi khu vực I
phải nhanh hơn khu vực II. Do vậy tổng sản phẩm xã hội (khu vực I cộng với khu vực
II) có tốc độ tăng cao hơn tốc độ tăng cảu tổng sản phẩm của riêng khu vực II. Do đó,
tổng sản phẩm xã hội tính theo đầu người (cơ sở của năng suất lao động bình quân)
tăng nhanh hơn tốc độ tăng sản phẩm bình quân tính theo đầu người của khu vực II (cơ
sở của tiền lương thực tế). Ta cũng thấy rằng, không phải toàn bộ sản phẩm của khu
vực II được dùng cho tiêu dùng để nâng cao tiền lương, mà một phần trong đó được
dùng để tích luỹ. Điều này cũng chỉ ra rằng, muốn tăng tiền lương thì phải tăng năng
suất lao động xã hội với tốc độ cao hơn.
Trong từng doanh nghiệp thì thấy rằng, tăng tiền lương dẫn đến tăng chi phí sản
xuất kinh doanh; tăng năng suất lao động lại làm giảm chi phí cho từng đơn vị sản
phẩm. Một doanh nghiệp chỉ thực sự kinh doanh có hiệu quả khi chi phí nói chung
-7-
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
cũng như chi phí cho một đơn vị sản phẩm giảm đi. Tức là mức giảm chi phí do tăng
năng suất lao động phải lớn hơn mức tăng chi phí do tăng tiền lương bình quân.
Rõ rang nguyên tắc này là cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp, nâng cao đời sống của người lao động và phát triển kinh tế.
 Nguyên tắc 3: Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa người lao động làm
các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân.
Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động làm việc
trong các ngành nghề khác nhau nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong trả
lương cho người lao động. Thực sự nguyên tắc này là cần thiết, dựa trên những cơ sở
sau đây:
Thứ nhất là trình độ lành nghề bình quân của người lao động ở mỗi ngành: Do đặc
điểm và tính chất phức tạp khác nhau về kỹ thuật và công nghệ ở các ngành nghề khác
nhau nên trình độ lành nghề bình quân giữa các ngành khác nhau cũng khác nhau. Sự
khác biệt này cần thiết phải được phân biệt trong trả lương có như vậy mới khuyến

vùng, miền của đất nước.
1.1.2.4 Các hình thức tiền lương.
a) Hình thức trả lương theo sản phẩm.
Trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương cho người lao động dựa trực tiếp
vào số lượng và chất lượng sản phẩm (hay dịch vụ) mà họ hoàn thành. Đây là hình
thức trả lương được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp.
Công thức: TC = Đ
G
x Q
TT
(1)
Trong đó:
- TC: Tiền công
- Đ
G
: Đơn giá
- Q
TT
: Số lượng sản phẩm thực tế.
Ưu điểm của hình thức trả lương theo sản phẩm:
- Quán triệt tố nguyên tắc trả lương theo lao động, vì tiền lương mà người lao
động nhận được phụ thuộc vào số lượng và chất lượng sản phẩm đã hoàn thành.
Điều này có tác dụng làm tăng năng suất lao động của người lao động.
- Trả lương theo sản phẩm có tác dụng trực tiếp khuyến khích người lao động
ra sức học tập nâng cao trình độ lành nghề, tích luỹ kinh nghiệm, rèn luyện kỹ
năng, phát huy sáng tạo… để nâng cao khả năng làm việc và năng suất lao
-9-
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL

1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
thực hiện khá phổ biến trong ngành nông nghiệp, xây dựng cơ bản, hoặc trong
một số ngành khác khi công nhaâ làm các công việc mang tính đột xuất, công
việc không thể xác định được một định mức lao động ổn định trong thời gian
dài. Tuỳ thuộc vào hình thức khoán (tập thể, cá nhân) mà đơn giá, thanh toán
lương, chia lương áp dụng theo lương sản phẩm cá nhân hoặc tập thể. Lương
sản phẩm khoán khác lương sản phẩm khác ở chỗ thời gian bắt đầu và kết thúc
công việc, khối lượng công việc đã được xác định rõ.
- Chế độ trả lương sản phẩm có thưởng: Chế độ trả lương này là sự kết hợp
trả lương theo sản phẩm (theo các chế độ đã trình bày ở phần trên) và tiền
thưởng.
Chế độ trả lương theo sản phẩm có thưởng gồm hai phần:
o Phần trả lương theo đơn giá cố định và số lượng sản phẩm thực tế đã
hoàn thành.
o Phần tiền thưởng được tính dựa vào trình độ hoàn thành và hoàn
thành vượt mức các chỉ tiêu thưởng cả về số lượng và chất lượng sản
phẩm.
- Chế độ trả lương theo sản phẩm luỹ tiến: Chế độ trả lương này thường được áp
dụng ở những “khâu yếu” trong sản xuất. Đó là khâu có ảnh hưởng trực tiếp đến
toàn bộ quá trình sản xuất.
Trong chế độ trả lương này dùng hai loại đơn giá:
o Đơn giá cố định: dùng để trả cho những sản phẩm thực
tế đã hoàn thành.
o Đơn giá luỹ tiến: Dùng để tính lương cho những sản
phẩm vượt mức khởi điểm. Đơn giá lũy tiến là đơn giá cố định nhân
với tỷ lệ tăng đơn giá.
b) Hình thức trả lương theo thời gian
Tiền lương trả theo thời gian chủ yếu áp dụng đối với những người làm công tác

Công thức tính: L
TT
= L
CB
x T (2)
Trong đó:
- L
TT
: Tiền lương thực tế người lao động nhận được
-12-
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
- L
CB
: Tiền lương cấp bậc tính theo thời gian.
- T: Thời gian làm việc thực tế của người lao động.
Có 3 loại lương theo thời gian đơn giản:
o Lương giờ: tính theo mức lương cấp bậc giờ và số giờ làm việc.
o Lương ngày: tính theo mức lương cấp bậc ngày và số ngày làm việc thực
tế trong tháng.
o Lương tháng: tính theo mức lương cấp bậc tháng.
Chế độ trả lương này có nhược điểm là mang tính chất bình quân, không
khuyến khích sử dụng hợp lý thời gian làm việc, tiết kiệm nguyên vật liệu, tập
trung công suất của máy móc thiết bị để tăng năng suất lao động.
- Chế độ trả lương theo thời gian có thưởng: Chế độ này là sự kết hợp giữa chế
độ trả lương theo thời gian đơn giản với tiền thưởng, khi đạt được chỉ tiêu về số
lượng hoặc chất lượng đã quy định.
Chế độ này chủ yếu áp dụng đối với những công nhân phụ làm công việc
phục vụ như công nhân sửa chữa, điều chỉnh thiết bị… Ngoài ra, còn áp dụng

Tiền thưởng là một dạng khuyến khích tài chính được chi trả một lần (thường là
vào cuối quý hoặc cuối năm) để thù lao cho sự thực hiện công việc của người lao động.
Tiền thưởng cũng có thể đuợc chi trả đột xuất để ghi nhận những thành tích xuất sắc như
hoàn thành dự án công việc trước thời hạn, tiết kiệm ngân sách hoặc cho các sáng kiến cải
tiến có giá trị.
1.2.2 Nội dung của tổ chức tiền thưởng
Những nội dung của tổ chức tiền thưởng bao gồm:
- Chỉ tiêu thưởng: Chỉ tiêu thưởng là một trong những yếu tố quan trọng nhất
của hình thức tiền thưởng. Yêu cầu của chỉ tiêu tiền thưởng là: rõ ràng;
chính xác; cụ thể.
Chỉ tiêu thưởng bao gồm cả nhóm chỉ tiêu về số lượng và chỉ tiêu về chất
luợng trong đó xác định được một hay một số chỉ tiêu chủ yếu.
- Điều kiện thưởng: Điều kiện thưởng đưa ra để xác định những tiền đề,
chuẩn mực để thực hiện một hình thức tiền thưởng nào đó. Đồng thời các
điều kiện đó còn được dùng để kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu thưởng.
-14-
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
14
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
- Nguồn tiền thưởng: Nguồn tiền thưởng là những nguồn tiền có thể được
dùng (toàn bộ hay một phần) để trả tiền thưởng cho người lao động. Trong
các doanh nghiệp thì nguồn tiền thưởng có thể gồm nhiều nguồn khác nhau
như: từ lợi nhuận, từ tiết kiệm quỹ lương…
- Mức tiền thưởng: Mức tiền thưởng là số tiền thưởng cho người lao động khi
họ đạt các chỉ tiêu và điều kiện thưởng. Mức tiền thưởng trực tiếp khuyến
khích người lao động. Tuy nhiên, mức tiền thưởng cao hay thấp tuỳ thuộc
vào nguồn tiền thưởng và yêu cầu khuyến khích của từng loại công việc.
1.2.3 Các hình thức tiền thưởng
Các hình thức tiền thưởng là các loại tiền thưởng hiện đang áp dụng phổ biến trong
các loại doanh nghiệp hiện nay. Các hình thức đó là:

- Tổng Công ty LICOGI
- Tổng Công ty Sông Hồng.
- Tổng Công ty Bạch Đằng.
- Tổng Công ty xây dựng và phát triển hạ tầng.
-16-
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
16
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
Điều này đặt Công ty trong hoàn cảnh phải cạnh tranh với các Công ty khác trong
việc giữ chân người lao động. Nếu Công ty không trả lương cho người lao động thoả đáng,
không đúng với sức lao động mà họ bỏ ra, mà lại trả lương thấp hơn, và không có một môi
trường làm việc thuận lợi bằng các Công ty khác thì rất dễ làm cho người lao động bỏ sang
công ty khác và đó là một thiệt hại rất lớn đối với Công ty. Vì vậy, Công ty phải luôn quan
tâm đến đời sống của người lao động. Cũng như quan tâm đến công tác tiền lương , tiền
thưởng để họ yên tâm làm việc và phát huy hết khả năng của mình cho công việc.
Tuy nhiên, Hà Nội lại là thành phố rất đông dân. Ngoài ra, Hà Nội cũng là nơi tập
trung rất nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp và các trường dạy nghề. Chính vì thế,
đây là một thị trường lao động rộng lớn, thuận lợi cho Công ty trong việc thu hút những
người lao động giỏi, có trình độ. Công ty sẽ ít tốn kém trong việc tìm lao động như ở các
Công ty phân bố ở các khu vực ngoại vi thành phố.
2.1.1.2 Luật pháp và các quy định của Chính phủ.
Đã từng là một Công ty Nhà nước nay chuyển sang cổ phần nên chế độ thưởng của
Công ty chủ yếu theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn đơn giá tiền lương là do cơ quan
có thẩm quyền giao, quỹ tiền lương bổ sung trong tổng quỹ tiền lương của Công ty cũng
theo chế độ quy định của Nhà nước. Như vậy, quỹ lương thực hiện của Công ty phụ thuộc
nhiều vào các quy định của Nhà nước. Nếu đơn giá tiền lương cao, quỹ tiền lương bổ sung
nhiều thì quỹ tiền lương của Công ty sẽ tăng lên và ngược lại quỹ tiền lương sẽ giảm đi.
Cũng như vậy, mức lương tối thiểu, hệ số phụ cấp hoàn toàn do Nhà nước quy định. Nếu
mức lương tối thiểu, hệ số cấp bậc, hệ số phụ cấp tăng thì mức lương cơ bản của người lao
động sẽ tăng lên và ngược lại mức lương cơ bản sẽ giảm đi. Cụ thể trong đợt cải cách tiền

cảm thấy yên tâm hơn trong công việc của mình.
- Đối với vật tư, nguyên vật liệu: Để thấy rõ giá vật tư, nguyên vật liệu ảnh
hưởng như thế nào đến tiền lương của người lao động trong Công ty ta nghiên cứu
từ lúc tính thầu đến lúc thi công công trình. Chẳng hạn, tại thời điểm tính thầu giá
thép là 7500đ/kg nhưng do thời gian phê duyệt hồ sơ thầu phải mất hàng tháng nên
tại thời điểm thi công thì giá thép đã tăng lên 7800đ/kg. Vì thế đã làm cho chi phí
mua sắm nguyên vật liệu tăng, khi phần tăng này vượt quá chi phí dự phòng 10%
thì sẽ làm cho doanh thu giảm và làm cho quỹ tiền lương giảm, dẫn đến mức lương
của người lao động sẽ giảm đi. Trong vài năm trở lại đây giá vật tư, nguyên vật liệu
cho ngành xây dựng liên tục tăng một phần do nhu cầu trong nước tăng quá mạnh.
Điều đó gây ảnh hưởng xấu đến công tác trả lương cho người lao động.
2.1.2 Nhân tố bên trong Công ty.
-18-
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
18
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
2.1.2.1 Đặc điểm ngành nghề sản xuất kinh doanh của Công ty.
Mỗi ngành nghề khác nhau Nhà nước lại quy định một mức tiền lương riêng, tuỳ
thuộc vào đặc điểm ngành nghề đó như mức độ độc hại, vị trí của ngành đó trong nền kinh
tế quốc dân, loại hình kinh doanh của doanh nghiệp… Công ty Cổ phần Tư vấn - Đầu tư
xây dựng Ba Đình là một doanh nghiệp xây dựng vì thế trong quá trình sản xuất kinh
doanh cần phải sử dụng rất nhiều công nhân. Và trình độ của công nhân lại được chia
thành 7 bậc khác nhau nên rất khó khăn cho Công ty trong công tác trả lương, trả thưởng
cho người lao động. Cụ thể theo Nghị định 205/204/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính
phủ thì hệ số lương và mức lương của các công nhân chuyên ngành xây dựng được quy
định như sau:
Bảng 1: Thang bảng lương áp dụng cho CBCNV khối sản xuất
Đơn vị: đồng
NGÀNH/NHÓM
NGÀNH

3,19
1.435.500
3,74
1.503.000
4,40
1.980.000
Nhóm III
Hệ số
Mức lương CB
1,85
830.500
2,18
981.000
2,56
1.152.000
3,01
1.354.500
3.54
1.593.000
4,17
1.876.500
4,90
2.205.000
Nguồn: Chính sách đổi mới chế độ tiền lương (tháng 11 năm 2006)
Mặt khác, vì là Công ty xây dựng nên trong quá trình thi công các công trình người
lao động phải làm việc trong các điều kiện khác nhau, điều này cũng ảnh hưởng đến việc
tính lương, thưởng cho người lao động. Với các vùng miền khác nhau, địa hình khác nhau,
thời tiết khác nhau thì người lao động sẽ hưởng mức lương khác nhau. Tức là ngoài mức
lương cơ bản người lao động sẽ được hưởng thêm một mức phụ cấp nhất định như: phụ
-19-

Tiền thưởng cho các cá nhân, đơn vị có thành tích xuất sắc trong năm của Công ty
được trích ra từ lợi nhuận của Công ty, thông thường bằng 15% - 17% lợi nhuận. Chính vì
vậy nếu Công ty làm ăn có lãi nhiều thì người lao động sẽ được thưởng nhiều hơn. Điều
-20-
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
20
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL
này góp phần khuyến khích người lao động luôn cố gắng làm việc hiệu quả, nâng cao năng
suất, hoàn thành công việc đúng tiến độ. Từ đó thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh
của Công ty ngày càng phát triển và thực tế đã chứng minh doanh thu của Công ty trong
những năm gần đây luôn tăng, năm sau luôn cao hơn năm trước từ đó thu nhập của người
lao động cũng tăng.
2.1.2.4 Đặc điểm về lao động.
Theo báo cáo của phòng Tổ chức kế hoạch và hành chính tổng số CBCNV trong
Công ty tính đến năm 2007 là 300 người. Tuy nhiên số lượng công nhân thuê ngoài trung
bình lên đến khoảng 1000 người cho một công trình thì việc tính lương cũng như trả lương
cho họ không phải là đơn giản. Việc tính lương cũng như trả lương không những phức tạp,
tốn nhiều thời gian và công sức mà các nhà quản lý còn phải tính toán sao cho tối thiểu hoá
chi phí khi sắp xếp nhân công. Chẳng hạn như nếu bố trí một kỹ sư mới ra trường làm
công việc đào đất là một công việc của lao động phổ thông thì cũng tốn chi phí. Bởi vì
mức lương của kỹ sư mới ra trường cao hơn mức lương của lao động phổ thông. Nói tóm
lại, đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn đến công tác trả lương, trả thưởng của Công ty.
Đối với những Công ty xây dựng thì đội ngũ cán bộ và lao động kỹ thuật có vai trò
rất quan trọng. Số lượng và trình độ của đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân của Công ty
được tập hợp trong bảng sau:
Bảng 2: Số lượng và trình độ của đội ngũ lao động trong Công ty
-21-
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
21
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Khoa kinh tế & Quản lý NNL

10 Công nhân lắp điện 12
11 Công nhân lắp đặt điện tử 09
12 Công nhân khoan thăm dò 10
13 Nhân viên phòng thí nghiệm 05
Nguồn: Hồ sơ giới thiệu năng lực của Công ty
Qua bảng số liệu trên ta thấy lao động có trình độ đại học là 70 người chiếm23,3%,
công nhân kỹ thuật là 188 người chiếm 62,6%. Như vậy, đa số CBCNV trong Công ty đều
là những người có trình độ và tay nghề cao đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã
hội, họ là nguồn lực không thể thiếu của Công ty. Với đội ngũ CBCNV đầy năng lực và
kinh nghiệm như vậy Công ty đã liên tục gặt hái được những thành công trong công việc
sản xuất kinh doanh của mình. Và uy tín của Công ty thì không ngừng được củng cố và
phát triển. Những để giữ được đội ngũ lao động có trình độ như vậy thì Công ty không thể
trả lương quá thấp mà phải trả lương sao cho người lao động cảm thấy mình được trả công
xúng đáng, khuyến khích được họ lao động hiệu quả. Đây cũng là một khó khăn đối với
công tác trả lương, trả thưởng cho người lao động.
2.1.2.5 Trang bị kỹ thuật.
- Công ty Cổ phần Tư vấn - Đầu tư xây dựng Ba Đình có trụ sở chính là một toà nhà 3
tầng với 11 phòng ban. Trong đó, phòng nào cũng được trang bị đầy đủ máy vi tính, hệ
thống máy lạnh tạo điều kiện làm việc thuận lợi cho CBCNV, làm cho họ cảm thấy
thoải mái trong quá trình làm việc. Điều này đóng góp một phần trong việc thu hút
những lao động giỏi đến Công ty.
- Hệ thống máy móc thiết bị mà Công ty hiện có là tương đối đa dạng và đồng bộ, hiện
đại với nhiều chủng loại khác nhau. Và để tiếp tục nâng cao khả năng cạnh tranh trong
nền kinh tế thị trường bằng cách nâng cao chất lượng các công trình, rút ngắn thời gian
thi công, đảm bảo tối đa các yêu cầu về mặt kỹ thuật khi thi công các công trình. Thì
thời gian vừa qua Công ty đã mua sắm thêm nhiều máy móc thiết bị hiện đại, công suất
lớn được thể hiện qua bảng sau.
-23-
1SV. Nguyễn Thị Hồng Vân Lớp HCKT – QTNL – K7
23

- 1,5 tấn.
Nga
Trung Quốc
01
01
12 Máy phụ vữa xi măng 1,5m
3
/h Đức 01
13 Máy phun sơn năng suất 400m
2
/h Nga 01
14
Máy ép cọc lực ép 40T
Máy ép cọc lực ép 60T
Việt Nam
Trung Quốc
02
01
15 Đầm cóc KIKASA Nhật 04
16 Máy khoan cắt bê tông Nhật 05
17 Đầm dùi Nhật 05
18 Máy hàn điện, hơi Nga 06
19 Giàn giáo thép Việt Nam 500
20 Palăng xích 10T Nga 02
21 Xe thang nâng 7m Hàn Quốc 01
22 Tời, tó Việt Nam 02
23 Máy mài 2 đá Hàn Quốc 02
24 Máy xay đá công suất 7m
3
/h Trung Quốc 02


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status