LỜI MỞ ĐẦU
Nhân loại đang bước vào thế kỷ 21, thế kỷ của sự phát triển cao độ trên
tất cả lĩnh vực, với xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá. Điều đó đã đặt cho nền
kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng cả những cơ hội và
thách thức mới.
Ở nước ta sau hơn 15 năm đổi mới nền kinh tế, chuyển từ kinh tế kế
hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của nhà nước kết hợp với xu thế hội nhập. Công cuộc cải cách đã tạo ra cho các
doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ. Song để có thể đứng vững trong cơ chế thị
trường, đặc biệt trước quy luật cạnh tranh khắc nghiệt các doanh nghiệp phải tìm
cho mình một hướng đi phù hợp với yêu cầu thực tế, đồng thời phải biết linh
động kết hợp với các yếu tố cần thiết nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Sự tồn tại và phát triển cuả doanh nghiệp sản xuất phụ thuộc vào hai yếu tố
chính là: Doanh thu và khả năng tạo lợi nhuận. Như vậy lợi nhuận là mục tiêu
hướng tới, có nghĩa sống còn của mỗi doanh nghiệp.
Trong một thời gian dài nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong cơ chế
tập trung quan liêu bao cấp, các doanh nghiệp hoạt động theo chỉ tiêu kế hoạch
của nhà nước, mọi thứ đã có nhà nước bao cấp, chính vì vậy lợi nhuận từ hoạt
động sản xuất kinh doanh bị coi nhẹ. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhà
nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tự chủ về sản xuất, tự chủ về tài chính
buộc các doanh nghiệp phải đứng lên tự khẳng định mình bằng mọi cách phải tự
đứng vững, muốn vậy các doanh nghiệp phải tạo ra lợi nhuận tối đa và phải thực
hiện hàng loạt các yêu cầu khác nhưng phải hoạt động trong hành lang pháp lý
của nhà nước, phải kinh doanh lành mạnh, phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối
với nhà nước, chăm lo tới đời sống của người lao động. Để làm được điều này
đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực cố gắng tạo cho mình hướng đi riêng phù
hợp với doanh nghiệp, đồng thời phải nhanh chóng bắt kịp với sự thay đổi của
kinh tế thị trường.
Ti liu đưc ti t website http://reportshop.com.vn
1
Xuất phát từ tầm quan trọng và tính cấp bách của vấn đề lợi nhuận, qua
phí nguồn lực xác định, có thể tạo ra kết quả ở mức độ nào. Vì vậy, có thể mô tả
hiệu quả kinh doanh bằng công thức sau:
H =
K
C
Trong đó:
H: hiệu quả kinh doanh
K: Kết quả đạt được
C: Hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết qảu đó
1.1.2. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Về mặt lưng: Hiệu qủa kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế,
xã hội biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Nếu
xét về tổng lượng người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế lớn hơn chi phí, chênh
lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại.
Về mặt tính: Mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh sự cố gắng
lỗ lực, trình độ quản lý của mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống công nghiệp và sự
Ti liu đưc ti t website http://reportshop.com.vn
3
gắn bó của sự giải quyết các yêu cầu và mục tiêu kinh tế - xã hội. Hai mặt định
lượng và tính phạm trù hiệu quả kinh tế có quan hệ chặt chẽ với nhau. Tổng
những biểu hiện về định lượng phải nhằm đạt được mục tiêu chính trị - xã hội
nhất định. Ngược lại, việc quản lý kinh tế dù ở giai đoạn nào cũng không chấp
nhận việc thực hiện những yêu cầu, mục tiêu chính trị - xã hội với bất kỳ giá
nào.
1.2. Ý nghĩa của việc tính toán các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất
kinhdoanh
Trong công tác quản lý công nghiệp, việc xác định và phân tích hiệu quả
kinh tế nhằm 2 mục đích:
+ Một l, phân tích và đánh giá trình độ quản lý và sử dụng các chi phí
trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vì vậy, chăm lo đến việc đào tạo bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên
môn của đội ngũ lao động được coi là nhiệm vụ hàng đầu của nhiều doanh
nghiệp hiện nay, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả hoạt đông sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
2.1.1.2. Trình độ phát triển cơ sở vật chât kỹ thuật v ứng dụng tiến bộ
công ngh kỹ thuật vo sn xuất
Nhân tố này cho phép doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng và hạ
giá thành sản phẩm. Nhờ đó mà tăng khả năng cạnh tranh, tăng vòng quay của
vốn lưu động, tăng lợi nhuận bảo đảm thực hiện yêu cầu quy luật tái sản xuất
mở rộng.
Tình hình nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật với mức đầu tư cho
khoa học và công nghệ… đều có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển công nghệ
của mỗi doanh nghiệp và do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Một môi trường công nghệ phát triển cho phép các công nghệ thích hợp vào sản
xuất kinh doanh.
2.1.1.3. Nhân tố vật tư, nguyên liu v h thống đm bo vật tư nguyên
liu của doanh nghip
Ti liu đưc ti t website http://reportshop.com.vn
5
Nguyên liệu là yếu tố không thể thiếu trong sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp đặc biệt là trong doanh nghiệp thuộc lĩnh vực Da - Giầy. Số
lượng, chủng loại, cơ cấu, tính đồng bộ của việc cung ứng nguyên vật liệu có
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Trước tiên, việc cung cấp đầy đủ nguyên liệu có chất lượng cao
cho sản xuất sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm, thu hút khách hàng, nâng cao uy
tín của doanh nghiệp, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đối với doanh nghiệp
Da - Giầy thì chi phí sản xuất kinh doanh về nguyên vật liệu chiếm tỉ trọng lớn
trong cơ cấu chi phí sản xuất kinh doanh.
Trong các doanh nghiệp chế tạo máy hay chế biến hàng hoá, người ta đề
cập đến trình độ sản xuất và tổ chức sản xuất, còn trong doanh nghiệp sản xuất
nghiệp khai thác và thực hiện phân bổ các nguồn lực sản xuất, chất lượng của
hoạt động này cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
của mỗi thời kỳ.
Đội ngũ các nhà quản lý mà đặc biệt là các nhà quản lý cấp lãnh đạo của
doanh nghiệp bằng phẩm chất và tài năng của mình có vai trò quan trọng nhất
ảnh hưởng có tính quyết định đến sự thành đạt của doanh nghiệp. Trong mọi
doanh nghiệp, kết quả và hiệu quả hoạt động quản lý doanh nghiệp đều phụ
thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn của đội ngũ các nhà quản lý cũng như cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp. Việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn
của từng bộ phận, cá nhân và thiết lập các mối quan hệ giữa các bộ phận trong
cơ cấu tổ chức đó cũng có tác động đến nhân tố quản lý.
2.1.2. Nhân tố bên ngoài (Nhân tố khách quan)
2.1.2.1. Nhân tố thị trường của doanh nghip
Trong nền sản xuất hàng hoá, thị trường là một trong những yếu tố quyết
định của quá trình tái sản xuất. Đối với mỗi doanh nghiệp thì thị trường chủ yếu
là thị trường yếu tố đầu vào và thị trường yếu tố đầu ra trong và ngoài nước. Thị
trường đầu vào ảnh hưởng đến tính liên tục và hiệu quả của sản xuất và hiệu quả
trong kinh doanh.
Ti liu đưc ti t website http://reportshop.com.vn
7
2.1.2.2. Môi trường quốc tế
Các xu hướng chính trị trên thế giới, chính sách bảo hộ và mở cửa của các
nước, chiến tranh… ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động mở rộng thị trường
mua bán của các doanh nghiệp và vì thế tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất
kinh doanh. Môi trường khu vực ổn định ( chẳng hạn hiệp hội ASEAN ) là cơ sở
để các doanh nghiệp của các nước trong khu vực, trong đó có nước ta, tiến hành
các hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi và phát triển kinh doanh của mình
trong toàn khu vực.
2.1.2.3. Môi trường kinh tế
Tăng trưởng kinh tế quốc dân, các chính sách kinh tế của chính phủ, biến
Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả kinh tế hay lợi nhuận đạt được từ một đồng
vốn doanh thu.
Doanh lợi của toàn bộ vốn KD =
Lợi nhuận ròng
Tổng vốn
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi
nhuận.
Doanh thu lợi nhuận theo chi phí =
Lợi nhuận ròng
Tổng chi phí
Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng
lợi nhuận.
3.2. Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
Hiệu quả sử dụng vốn cố định =
Lợi nhuận ròng
Vốn cố định
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận trong kỳ.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động =
Lợi nhuận ròng
Vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận trong kỳ.
Số vòng quay của toàn bộ vốn KD
=
Doanh thu SXKD
Tổng vốn (CĐ + LĐ)
Chỉ tiêu này cho biết toàn bộ vốn kinh doanh của doanh nghiệp quay được
mấy vòng trong kỳ. Số vòng quay càng lớn hiệu quả sử dụng vốn càng lớn.
Ti liu đưc ti t website http://reportshop.com.vn
phần hoá. Công ty Giầy Hà Nội là một doanh nghiệp nhà nước sau khi triển khai
cổ phần hoá sẽ có tên gọi bằng tiếng Việt: Công ty cổ phần Giầy Hà Nội.
Tên giao dịch bằng tiếng Anh: Ha Noi Shoes Join Stock Company.
Trụ sở chính của công ty: Km6 đường Nguyễn Trãi, Thanh Xuân HN.
Điện thoại: 858446 - 8584213 - 8584369
Fax: 8583600
Cửa hàng giới thiệu sản phẩm: 32 Hàng Muối - Hoàn Kiếm - HN.
Công ty cổ phần Giầy Hà Nội hoạt động nhằm ổn định việc làm, thu nhập
cho người lao động và tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, xuất
nhập khẩu các loại máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hoá chất, phục vụ cho nhu
cầu sản xuất kinh doanh của Công ty và các đơn vị cùng ngành.
1.2. Quá trình phát triển của công ty
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và
các nước Đông Âu phát triển mạnh mẽ, nhờ đó các doanh nghiệp may Giầy da
có đơn hàng sản xuất xuất khẩu đi Liên Xô, Tiệp, Đức. Tuy nhiên trong thời kỳ
này hàng quốc phòng vẫn chiếm tỷ lệ lớn.
Từ năm 1982 việc sản xuất hàng xuất khẩu sang các nước anh em ngày
càng được mở rộng quy mô với các hợp đồng đặt hàng, gia công ngày càng lớn,
bảo đảm được nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong thời gian dài. Đây là điểm
mở đầu cho thời kỳ sôi động của các hoạt động sản xuất của Công ty. Công ty
có việc làm quanh năm, cơ sở để đảm bảo cho tình hình trên là các hợp đồng,
các đơn đặt hàng của các nước. Quy mô của những hợp đồng có khi lên tới hàng
triệu đơn vị sản phẩm. Từ năm 1986 đến năm 1990 quan hệ Việt Nam với các
nước Liên Xô về kinh tế ngày càng phát triển. Việc sản xuất của Công ty trong
thời kỳ này chủ yếu là xuất khẩu chiếm 90%, bao gồm găng tay, mũ, Giầy để
xuất khẩu sang Ba Lan, Tiệp, Liên Xô, thông qua hình thức gia công xuất khẩu,
nhờ đó Công ty đã nhập về một số máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất và tiền
công bằng ngoại tệ.
Ti liu đưc ti t website http://reportshop.com.vn
11
2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty
Ti liu đưc ti t website http://reportshop.com.vn
12
Sơ đồ: Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty
Ban giám đốc gồm có: Một giám đốc, hai Phó giám đốc
Giám đốc Công ty là người đại diện pháp nhân cho Công ty đứng đầu là
bộ máy quản lý, có nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ bộ máy quản lý chịu trách nhiệm
với cấp trên về mọi mặt, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty,
Giám đốc chỉ huy mọi hoạt động thông qua việc giao quyền cho các Phó giám
đốc hoặc các trưởng phòng, ban trực thuộc.
- Phó giám đốc sản xuất
- Phó giám đốc sản xuất kinh doanh - nội chính
* Các phòng ban chức năng trong Công ty.
- Phòng kỹ thuật
- Phòng kế hoạch
- Phòng kinh doanh
- Phòng tổ chức hành chính
- Phòng xuất nhập khẩu
- Phòng cung tiêu
- Phòng đời sống
Ti liu đưc ti t website http://reportshop.com.vn
13
GIÁM ĐỐC
PGĐ SXKD – NỘI CHÍNH
PGĐ SẢN XUẤT
Phòng
kỹ
thuật
Phòng
kế
2.2. Đặc điểm sản phẩm và nguyên vật liệu của Công ty
Xuất phát thực tế sản phẩm của Công ty là sản phẩm chạy theo mốt, thị
hiếu của người tiêu dùng và nó phụ thuộc vào từng mùa nhất định trong năm. Từ
đó ta thấy Công ty có rất nhiều loại sản phẩm với nhiều mẫu mã chủng loại khác
nhau đều có thể đáp ứng được mọi nhu cầu của khách hàng trên thị trường.
Các sản phẩm của Công ty hiện nay là gia công cho các đối tác nước
ngoài như: Italia, Nhật, Thái Lan… Đây là các nước có nền kinh tế phát triển
hơn nước ta về nhiều mặt. Công ty gia công cho các đối tác nên nguyên vật liệu
phục vụ cho sản xuất của Công ty là do đối tác đảm bảo, Công ty chỉ cung cấp
nguyên vật liệu phụ. Việc cung cấp nguyên vật liệu theo các đơn hàng sản xuất
không thường xuyên sẽ ảnh hưởng đến kết quả sản xuất.
Tuy nhiên với hình thức này, Công ty đã tháo gỡ được một số khó khăn
trong quá trình sản xuất đặc biệt là vốn. Công ty không đủ vốn để cung cấp
nguyên vật liệu chính trong quá trình gia công và hơn nữa nguyên vật liệu chính
mà đối tác đặt gia công đòi hỏi chất lượng rất cao. Một vấn đề nữa phải quan
tâm trong khâu cung ứng nguyên vật liệu của Công ty mà vấn đề đó ảnh hưởng
trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của Công ty đó là Công ty chưa xây dựng được
một bộ phận xác định nhu cầu vật tư cho bạn hàng gia công.
2.3. Đặc điểm về công nghệ kỹ thuật
Công ty Giầy Hà Nội trong gần một thập kỷ qua đã có những bước tiến
đáng kể trong việc trang bị thay đổi máy móc thiết bị sản xuất hiện đại, nhưng
phần công nghệ kỹ thuật vẫn còn nhiều điều phải quan tâm chú ý tới.
Ti liu đưc ti t website http://reportshop.com.vn
14
Lợi thế của công ty là gia công hoàn chỉnh cho các đối tác nước ngoài mà
Công ty có được những kỹ thuật cơ bản của Công nghệ sản xuất Giầy, dép, túi,
cặp như việc sáng tạo mẫu mới cho phù hợp với yêu cầu kỹ thuật. Xây dựng quy
trình công nghệ sản xuất sản phẩm, bố trí sắp xếp lại việc sản xuất các sản phẩm
theo yêu cầu của đối tác đặt hàng gia công. Công ty đã dành được uy tín lớn đối
với khách hàng về chất lượng sản phẩm gia công, do đó có được những công
ST
T
Chủng loại
tính năng
Nước sản xuất
Năm
nhập
Số
lượng
Giá trị
còn lại
1. Máy may bàn 1 kim Tiệp - Nhật 1989 304 40%
2. Máy may bàn 2 kim Tiệp - Nhật 1989 85 40%
3. Máy trụ 1 kim Tiệp - Nhật 1990 11 60%
4. Máy trụ 2 kim Tiệp - Nhật 1991 72 75%
5. Máy viên ống Tiệp - Nhật 1992 35 60%
6. Máy Zích Zắc Tiệp - Nhật 1994 22 60%
7. Máy chặt Liên Xô - Đài Loan 1994 17 70%
8. Máy dẫy Liên Xô - Nhật 1994 21 60%
9. Máy gấp mép Đài Loan 1995 9 70%
10. Máy xén Tiệp 1998 6 70%
11. Máy vắt sổ Thái Lan - Đài Loan 1995 5 65%
12.
Dây chuyền sản xuất
giầy nữ
Thái Lan - Đài Loan 1996 1 70%
13.
Dây chuyền sản xuất
cặp , túi cao cấp
Italia 1996 1 80%
2. Lao động trực tiếp 715 856 860 778 723 647
Trong đó : CN bậc 1 250 312 300 250 240 190
CN bậc 2 229 249 270 235 220 213
CN bậc 3 190 200 190 178 160 168
CN bậc 4 78 66 70 65 60 70
CN bậc 5 20 19 20 28 23 24
CN bậc 6 8 10 20 22 20 9
Tổng lao động 800 943 950 868 813 764
< Nguồn trích: Phòng kế hoạch - Công ty Giầy Hà Nội >
Qua bảng tổng hợp tình hình lao động nguồn trích của Công ty trong thời
kỳ ta thấy: Trong 3 năm trở lại đây số lượng lao động trực tiếp giảm đáng kể
trong khi đó lợi nhuận của Công ty qua các năm đều tăng điều đó chứng tỏ hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty vẫn ổn định và phát triển do Công ty đã
Ti liu đưc ti t website http://reportshop.com.vn
17
áp dụng công nghệ kỹ thuật, trang thiết bị hiện đại để thay thế cho lao động thô
sơ trước đây.
Ta có thể thấy số lượng cán bộ quản lý, kỹ thuật có trình độ đại học trên
70 người năm 2002 chiếm 3,15% lao động của toàn Công ty. Như vậy, số cán bộ
quản lý có trình độ cao vẫn chiếm tỷ lệ thấp, nhưng dù sao đây cũng là một nhân
tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty.
Mặt khác, số công nhân thợ bậc cao 5 - 6 và bậc 3 - 4 chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong
số lao động trực tiếp của Công ty. Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới
hiệu quả sản xuất kinh doanh đặc biệt là tới năng suất lao động. Ngoài ra, ta
cũng thấy rõ số lượng lao động gián tiếp trong toàn Công ty là 90 người năm
2002 chiếm 9,47% tổng số lao động trong toàn Công ty là tương đối nhỏ, chưa
đáp ứng được nhu cầu về quản lý của Công ty.
2.6. Đặc điểm về vốn của Công ty
Nguồn vốn của Công ty với điểm xuất phát thấp, nhà xưởng tồi tàn, trang
thiết bị máy móc đã cũ, giá trị con lại của máy móc chỉ từ 40% - 50%. Cùng với
162918
189.177,
45
232763,1
2
26259,4
5
16,12
43585,6
7
23,04
2
Giá trị
SXKD
138721,6
5
161.606,
92
197.058
22885,2
7
16,50
35451,0
8
21,94
3
Tổng chi
phí
21374 24226 31301 2852 13,34 7075 29,20
4
31,68
7 Tổng vốn 56318 63910 75009 7592 13,48 11099 17,37
8
Lao động
(Người)
950 868 813 -82 -8,63 -55 -6,34
9
Thu nhập
B/Q
(1000đ)
416,000 520,000 559,430 104,000 25,00 39,430 7,58
< Nguồn trích: Phòng Kế hoạch - Công ty Cổ phần Giầy Hà Nội >
3.1.1. Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty năm 2000
Ti liu đưc ti t website http://reportshop.com.vn
19
Năm 2000 là năm cuối của thế kỷ 20, vì vậy đòi hỏi Công ty nói riêng và
của nghành Da - Giầy nói chung cần phải có sự hoạch định chiến lược phát triển
để bước vào thế kỷ 21.
Công ty Giầy Hà Nội bước vào một năm sản xuất kinh doanh mới với
những lợi thế phát triển từ nhiều năm trước. Năm 2000 Công ty mạnh dạn đầu tư
thêm một số trang thiết bị, công cụ để các dây chuyền sản xuất hoàn chỉnh, đầu
tư thêm thiết bị phục vụ cho quá ttrình sản xuất kinh doanh.
Chính nhờ sự đầu tư thêm đó Công ty đã khai thác hết khả năng công suất
của dây chuyền sản xuất Giầy nữ cho Thái Lan, và cho một số nước khác đạt
92,13% kế hoạch đề ra.
Có thể nói năm 2000 là năm thắng lợi của Công ty, các chỉ tiêu doanh thu
từ hoạt động sản xuất kinh doanh là 162918. Nộp ngân sách nhà nước 903,152
triệu đồng. Thu nhập bình quân của người lao động là 416.000 đồng.
Chính nhờ làm ăn có hiệu quả của Công ty Giầy Hà Nội đã triển khai cổ
phần hoá, căn cứ vào quyết định 4177/QDUB ngày 11/10/1998 của UBND Hà
Bằng sự cố gắng của mình trong năm 2002 Công ty đã đạt được một số
kết quả đáng kể. Doanh thu sản xuất kinh doanh năm 2002 tăng hơn so với năm
2001 là 43585,67 triệu đồng. Kim ngạch xuất khẩu tăng, thu nhập bình quân
theo đầu người tăng. Giải quyết được công ăn việc làm cho gần 1000 lao động
và tận dụng được hết năng lực sản xuất còn dư thừa tạo tiền đề cho sự phát triển
của Công ty.
Việc cổ phần hoá doanh nghiệp đã mang lại cho Công ty một luồng sinh
khí mới, tinh thần sản xuất của cán bộ công nhân viên trong Công ty rất cao, đòi
hỏi Công ty có những phương hướng kế hoạch sản xuất kinh doanh cho các năm
tới sao cho phù hợp với thực trạng của Công ty và phù hợp với sự biến động của
môi trường kinh doanh.
3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất
kinh doanh ở Công ty
3.2.1. Hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp ở Công ty
Ti liu đưc ti t website http://reportshop.com.vn
21
Qua bảng tổng hợp các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh của Công ty từ năm
2000 - 2002 ta thấy lợi nhuận của Công ty qua các năm tăng đáng kể. Điều này
chứng tỏ cổ phần hoá doanh nghiệp là một bước đi đúng, nó đem lại cho toàn bộ
công nhân viên trong Công ty một tinh thần lao động hăng say, phát huy được
hết máy móc thiết bị, sử dụng được hết các sức mạnh còn tiềm ẩn trong mỗi lao
động. Mặc dù lợi nhuận của Công ty có tăng đáng kể so với các năm trước
nhưng với các doanh nghiệp cùng ngành vẫn thấp hơn so với họ. Ví dụ, như giá
gia công một đôi Giầy có khung giá chung từ 0,3 - 0,75 USD/ đôi. Vì nhiều lý
do khác nhau giá của Công ty từ 0,3 - 0,35 USD/ đôi. Trong khi đó ở công ty
Giầy Thụy Khê từ 0,35 - 0,5 USD/ đôi và từ công ty Giầy Yên Viên là 0,4 - 0,6
USD/ đôi. Nên nhiều khi ta thấy tình trạng sản lượng sản phẩm doanh thu tăng
nhưng lơi nhuận giảm.
Điều nay đặt ra cho Hội đồng quản trị, ban Giám đốc Công ty phải giải
quyết sao cho bên cạnh việc tăng năng suất, chất lượng, doanh thu sản xuất sản
hiểu rằng chỉ khi nào tự người công nhận thấy rằng làm ra được những sản phẩm
tốt, có chất lượng cao đem lại lợi nhuận cho Công ty thì cũng chính là đem lại
thu nhập cho họ. Vì vậy, kể từ khi Công ty bước vào cổ phần hoá ta thấy thu
nhập bình quân của người lao động trong công ty không ngừng được tăng lên.
Ti liu đưc ti t website http://reportshop.com.vn
23
3000
1000
2000
0
Năm 2000 là 416.000 đồng/ người/ tháng thì đến năm 2002 là 520.000 đồng/
người/ tháng, điều này cho thấy ban lãnh đạo Công ty đã làm được mà không
phải doanh nghiệp nào trong nghành Giầy Da có thể làm được trong một thời
gian ngắn và với mức thu nhập của người lao động lại tăng như vậy.
3.2.2. Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
3.2.2.1. Hiu qu sử dụng vốn
Thực trạng về sử dụng vốn cố định và vốn lưu động của Công ty cổ phần
Giầy Hà Nội từ năm 2000 - 2002 được thể hiện dưới đây.
Bảng 5: Thực trạng sử dụng vốn của Công ty
Chỉ tiêu 2000 2001 2002
1. Tổng vốn 56318 63910 75009
A - Vốn lưu động 24730 27294 37164
B - Vốn cố định 31588 36616 47845
2. Doanh thu SXKD 162918 189.177,45 232763,12
3. Tổng chi phí 21374 24226 31301
4. Li nhuận sau thuế 1919,198 2274,2804 2994,8016
5. Li nhuận theo chi phí
0,0898 0,0939 0,0957
6. Li nhuận theo doanh thu SXKD
0,0118 0,0120 0,0129
Vòng quay của toàn bộ vốn trong Công ty được thể hiện ở vốn kinh doanh
của Công ty được quay mấy vòng trong kỳ kinh doanh.
Năm 2000 là 2,8928 lần
Năm 2001 là 2,9601 hơn 0,0673 lần so với năm 2000
Năm 2002 là 3,1031 hơn 0,143 lần so với năm 2001
Nói chung hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty vẫn ổn định, hiệu
quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty ngày càng được cải thiện.
3.2.2.2. Hiu qu sử dụng nguyên vật liu
Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố rất quan trọng vì vậy việc sử
dụng và cung cấp nguyên vật liệu như thế nào có tính chất quyết định và ảnh
hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty.
Công ty với đặc điểm là gia công sản phẩm xuất khẩu nên việc cung cấp
nguyên vật liệu phụ thuộc vào đối tác đặt gia công, chính điều này đã gây nhiều
khó khăn cho Công ty.
Ti liu đưc ti t website http://reportshop.com.vn
25