phép biện chứng duy vật và vai trò của nó đối với hoạt động của con người - Pdf 13

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thực tiễn, hoạt động của con người tồn tại trên nhiều lĩnh vực khác
nhau với nhiều mục tiêu khác nhau. Nhằm đạt được những mục tiêu đó, con người
phải nắm bắt được các mối liên hệ phổ biến và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng
để tránh mắc phải những sai lầm không đáng có. Điều đó đòi hỏi phải có những lý
luận đúng đắn soi đường mà trong đó triết học nói chung và phép biện chứng duy
vật nói riêng đóng vai trò quan trọng nhất.
Phép biện chứng duy vật là lý luận khoa học phản ánh khái quát sự vận động
và phát triển của hiện thực. Do đó, nó không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn
là sự diễn tả quan niệm về thế giới, là lý luận về thế giới quan. Hệ thống các quan
điểm của phép biện chứng duy vật, do tính đúng đắn và triệt để của nó đem lại đã
trở thành nhân tố định hướng cho quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn của con
người đạt dược nhiều hiệu quả tích cực.
Đề tài:
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI
Là một sinh viên kinh tế, em thiết nghĩ cần phải trau dồi cho mình một vốn
kiến thức vững chắc về triết học nói chung cũng như phép biện chứng duy vật nói
riêng, và quan trọng nhất là vai trò của nó đối với hoạt động của con người để giúp
ích cho quá trình lập nghiệp sau này.
1
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
PHẦN I
PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÉP BIỆN CHỨNG
1. Khái niệm phép biện chứng & siêu hình
+ Phép biện chứng và siêu hình là hai mặt đối lập trong phương pháp chung
nhất của tư duy. Chúng được xây dựng trên hai quan điểm đối lập là quan điểm biện
chứng và quan điểm siêu hình.
+ Phép biện chứng : theo Anghen chẳng qua chỉ là môn khoa học về những
quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài
người và tư duy.

a. Phép biện chứng cổ đại.
Giai đoạn đầu tiên của tư duy triết học biện chứng là phép biện chứng tự phát
thời kỳ cổ đại và được thể hiện rõ nét nhất qua thuyết âm dương của triết học Trung
Quốc và các học thuyết của triết học Hy Lạp cổ đại.
* Hoàn cảnh ra đời:
Về hoàn cảnh ra đời của phái Âm dương còn có nhiều điểm chưa sáng tỏ nên
ở đây ta chỉ xét đến hoàn cảnh ra đời của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại.
- Điều kiện kinh tế - xã hội - văn hoá: Xã hội Hy Lạp xuất hiện sớm vào
khoảng thế kỷ thứ VIII trước công nguyên đến thế kỷ thứ III sau công nguyên. Vào
thế kỷ thứ VI–IV trước công nguyên, xã hội chiếm hữu nô lệ Hy Lạp đã đạt tới hoàn
thiện. Sự phát triển này làm xuất hiện 2 trung tâm kinh tế chính trị điển hình là Aten
và Spác, tương ứng với nó là hai thể chế khác nhau về hình thức: nhà nước chủ nô
dân chủ Aten và nhà nước chủ nô quân chủ Spác. Sự khác nhau đó dẫn tới cuộc nội
chiến tương tàn và cuối cùng chiến thắng thuộc về thành bang Spác. Đất nước Hy
Lạp cổ đại có một nền văn minh phát triển rực rỡ. Về tôn giáo, họ thờ nhiều thần và
vị thần tối cao là thần Dớt. Về giáo dục, họ coi trọng đạo đức, trí dục, thể dục. Về
chính trị, họ coi trọng chế độ dân chủ. Về đời sống, họ sống giản dị, chất phác. Về
kiến trúc, họ có tính cách điều độ cân đối. Về khoa học, họ phát triển khoa học tự
3
nhiên như toán, vật lý, thiên văn học Về văn học có Hômơ với hai tác phẩm nổi
tiếng là Iliat và Ôđixe. Về triết học có nhiều trường phái.
- Sự hình thành triết học: triết học Hy Lạp ra đời vào thế kỷ thứ VI trước
công nguyên trên các cơ sở:
+ Do sự phát triển kinh tế, đặc biệt do sự phát triển của lao động và tổ chức
lao động nô lệ, trong đó một bộ phận của xã hội là người tự do có điều kiện nghiên
cứu khoa học triết học
+ Do có nhiều biến chuyển kinh tế và chính trị mà một bộ phận của tầng lớp
chủ nô có điều kiện chăm lo xây dựng thế giới quan của mình để định hướng cho
cuộc đấu tranh.
+ Do liên hệ mật thiết với các tri thức khoa học, cuộc đấu tranh tôn giáo, tín

không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Hêraclit thừa nhận sự tồn tại và
thống nhất của các mặt đối lập nhưng trong các mối quan hệ khác nhau. Chẳng hạn:
“Một con khỉ dù đẹp đến đâu thì cũng là xấu nếu đem so với một con người”. Chuẩn
mực của moị sự vật theo Hêraclit đó là logos bản thân logos là sự thống nhất của các
mặt đối lập. Vũ trụ là một thể thống nhất, nhưng trong lòng nó luôn luôn diễn ra các
cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau. Nhờ các cuộc đấu tranh đó
mà mới có hiện tượng sự vật này chết đi sự vật khác ra đời. Điều đó làm cho vũ trụ
thường xuyên phát triển và trẻ mãi không ngừng. Vì thế đấu tranh là vương quốc
của mọi cái , là quy luật phát triển của vũ trụ. Bản thân cuộc đấu tranh giữa các mặt
đối lập luôn luôn diễn ra trong sự hài hòa nhất định, dựa trên sự quy định của
logos.Theo Hêraclit thì đối với thế giới, cái ác, cái bần tiện là cái tương đối còn cái
thiện, cái cao cả là cái tuyệt đối,nhưng đối với chúa Trời thì tất cả mọi cái đều tốt
đẹp cả.
a. Phép biện chứng duy tâm.
Giai đoạn phát triển thứ hai của phép biện chứng là phép biện chứng duy tâm
mà đỉnh cao của nó là triết học cổ điển Đức.
* Hoàn cảnh:
5
- Cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 sau thắng lợi của hàng loạt các cuộc cách
mạng tư sản nhiều nước Tây Âu đã bước vào cách mạng công nghiệp, trong khi đó
nước Đức vẫn là một nước phong kiến lạc hậu, tình trạng cát cứ phân tán nhỏ lẻ phổ
biến.
- Giai cấp tư sản Đức đã hình thành nhưng nằm rải rác và phân tán ở những
công quốc nhỏ, tách rời nhau vì thế giai cấp tư sản Đức nhỏ bé về số lượng, yếu kém
về thế lực chính trị. Chính vì thế mà giai cấp tư sản không thể làm cách mạng hiện
thực mà chỉ làm cách mạng trong tư duy.
* Đặc điểm:
- Triết học cổ điển Đức là thế giới quan và ý thức hệ của giai cấp tư sản Đức
cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.
Nếu như triết học phương Tây thời cận đại bàn nhiều đến vấn đề bản thể luận

thời gian, tính nhân quả cũng như các quy luật của giới tự nhiên không phải là
những cái thuộc bản thân giới tự nhiên, mà là sản phẩm của lý trí tiên nghiệm, có
trước kinh nghiệm. Khi nhận xét về tính không nhất quán mâu thuẫn trong triết học
của Cantơ, Lênin đã nói rằng, triết học đó là sự dung hoà chủ nghĩa duy vật với chủ
nghĩa duy tâm, thiết lập sự thoả hiệp giữa hai chủ nghĩa đó kết hợp hai khuynh
hướng triết học khác nhau và đối lập nhau trong một hệ thống nhất.
- Hêghen: Hêghen là nhà biện chứng đồng thời là nhà triết học duy tâm khách
quan. Triết học của ông đầy mâu thuẫn. Nếu phương pháp biện chứng của ông là hạt
nhân hợp lý, chứa đựng tư tưởng thiên tài về sự phát triển, thì hệ thống triết học duy
tâm của ông phủ nhận tính chất khách quan của những nguyên nhân bên trong, vốn
có của sự phát triển của tự nhiên và xã hội. ông cho rằng khởi nguyên của thế giới
không phải là vật chất mà là “ ý niệm tuyệt đối” hay “ tinh thần thế giới”. “Ý niệm
tuyệt đối”, theo nhận xét của Lênin, chỉ là một cách nói theo đường vòng, một cách
nói khác về thượng đế mà thôi.Cho nên, triết học của Hêghen chẳng qua cũng chỉ là
sự biện hộ của tôn giáo.
Hêghen đã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và ông là người đầu
tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, nghĩa
7
là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng. Nhưng tất cả những cái đó
chỉ là quy luật vận động và phát triển của bản thân tư duy, của ý niệm tuyệt đối.
Trong hệ thống triết học của Hêghen, không phải ý thức,tư tưởng phát triển trong sự
phụ thuộc vào sự phụ thuộc của giới tự nhiên và xã hội mà ngược lại, tự nhiên, xã
hội phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của ý niệm tuyệt đối. Ý niệm
tuyệt đối, tinh thần thế giới là tính thứ nhất, giới tự nhiên là tính thứ hai.
Tóm lại, hệ thống triết học của Hêghen (gồm ba bộ phận chính là: lôgíc học,
triết học về tự nhiên, triết học về tinh thần) là một hệ thống duy tâm, mà thực chất
của nó “là ở chỗ lấy cái tâm lý làm điểm xuất phát, từ cái tâm lý suy ra giới tự
nhiên” (Lênin). Tuy nhiên, phép biện chứng của Hêghen đã mâu thuẫn với hệ thống
triết học duy tâm của ông và trở thành một trong những nguồn gốc lý luận của triết
học Macxit

- Tiền đề lý luận: Triết học Mác ra đời ngoài những điều kiện kinh tế xã hội,
nó còn kế thừa được những yếu tố tích cực toàn bộ trong kho tàng lý luận của các
giai đoạn trước như trong kinh tế chính trị học cổ điển Anh, trong chủ nghĩa xã hội
không tưởng ở Pháp, trong triết học cổ điển Đức. Đặc biệt trong triết học cổ điển
Đức những nội dung cách mạng toàn bộ trong phép biện chứng của Hêghen cùng
những tư tưởng duy vật của Pháp đã làm một trong những cơ sở lý luận cho sự hình
thành tư tưởng duy vật biện chứng trong triết học Mác. Ngoài ra sự ra đời của triết
học Mác còn kế thừa được những yếu tố tích cực toàn bộ của những tri thức khoa
học khác như trong sử học, xã hội học
- Tiền đề khoa học tự nhiên: Cùng với những tiền đề lí luận trên, những thành
tựu khoa học tự nhiên là những tiền đề cho sự ra đời của triết học Mac. Sự phát triển
của tư duy triết học phải dựa trên cơ sở tri thức do các khoa học cụ thể đem lại. Vào
khoảng những năm 30 của thế kỷ XIX do nhu cầu của nền sản xuất xã hội khoa học
tự nhiên có những bước phát triển mới, nhiều phát minh khoa học lớn xuất hiện.
Đáng chú ý có 3 phát minh
+1842 – 1845: ra đời định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng
+ Vào khoảng những năm 30 của thế kỷ 19 ra đời học thuyết tế bào.
9
+ 1859: ra đời thuyết tiến hoá của Đácuyn.
Những phát minh lớn của khoa học tự nhiên làm bộ lộ rõ tính hạn chế và sự
bất lực của phương pháp tư duy siêu hình trong việc nhận thức thế giới
- Kết luận: những điều kiện và tiền đề trên cho thấy sự ra đời của triết học
Mác là một tất yếu khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội và phù
hợp với quy luật phát triển của nhận thức nhân loại.
*Đặc điểm:
Sự ra đời của triết học Mác đã tạo ra sự biến đổi có ý nghĩa cách mạng trong
lịch sử phát triển triết học của nhân loại và nó được thể hiện qua các nội dung:
- Kế thừa một cách có phê phán những thành tựu của tư duy nhân loại. Mác
và Anghen đã sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật triết học triệt để, đã vận dụng thế giới
quan duy vật vào nghiên cứu xem xét các hiện tượng của đời sống xã hội.

chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt
nhân hợp lí của nó ở đằng sau lớp vỏ thần bí. Mác và Ănghen đã cải tạo một cách
duy vật phép biện chứng duy tâm của Hêghen, sau khi tách “ hạt nhân hợp lí “ vốn
có của nó sau khi đã vứt bỏ lối giải thích duy tâm về các hiện tượng tự nhiên và xã
hội, vứt bỏ lối qui các quá trình vật chất vào sự vận động lôgic của tư duy, vào sự tự
nhận thức của ý niệm tuyệt đối
Hai ông không chỉ thoả mãn với việc cải tạo duy vật phép biện chứng duy
tâm mà đồng thời cũng tiến hành cải tạo một cách biện chứng chủ nghiã duy vật siêu
hình trước đó. Mác và Ănghen đã liên kết một cách hữu cơ, đã gắn bó thành một thể
thống nhất, không tách rời chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, đã xây dựng thế
giới quan triết học khoa học, duy vật biện chứng với tư cách một học thuyết về
những qui luật chung nhất của sự phát triển của tự nhiên xã hội và nhận thức. Phép
biện chứng duy vật đã được xây dựng và phát triển không chỉ với tính cách là một
phương pháp mà còn là một lí luận khoa học triệt để, nhờ đó mà nó đã gạt bỏ sự
thoả hiệp với hệ tư tưởng của các giai cấp bóc lột.
11
Chiến công trí tụê vĩ đại trong lĩnh vực triết học của Mác và Ănghen là ở chỗ
hai ông đã cải tạo hoàn toàn di sản triết học một cách có phê phán cách mạng trên
lập trường lí luận và xã hội chính trị mới về nguyên tắc, đã phủ nhận nó một cách
biện chứng, trong khi vẫn duy trì và phát triển sáng tạo những thành tựu của triết
học tiền bối .
- Lênin: Lênin đã vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác vào quá trình giải
quyết những nhiệm vụ của cách mạng vô sản trong thời cổ đại đế quốc chủ nghĩa và
bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội.Ông đã có đóng góp to lớn vào sự phát triển lý
luận của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng.
Lênin đã bảo vệ chủ nghĩa Mác chống lại sự xuyên tạc của những quan điểm
duy vật về lịch sử, đặc biệt là học thuyết về hình thái kinh tế – xã hội của Mác.
Đứng trước sự tăng cường ảnh hưởng của chủ nghĩa Makhơ - một học thuyết duy
tâm chủ quan nhằm xuyên tạc triết học Mác, Lênin đã phê phán quyết liệt những
quan điểm của những người theo phái Makhơ.

quan, tính phổ biến và biểu hiện trong tính đa dạng của nó.
* Nội dung nguyên lý:
- Mọi sự vật hiện tượng của thế giới đều luôn luôn tồn tại trong các mối liên
hệ xác định (tồn tại trong các mối liên hệ phổ biến) và trong vô vàn các mối liên hệ
khác nhau tức là luôn luôn tồn tại trong tính quy định, tính tương tác, những biến đổi
tác động tới nó. Như vậy mỗi một sự biến đổi trong thế giới đều có khả năng khách
quan tất yếu tác động đến những biến đổi khác một cách trực tiếp, gián tiếp…
- Với mỗi một sự vật, hiện tượng nhất định trong một điều kiện xác định thì
các mối liên hệ mà nó có là không đồng nhất về vị trí và vai trò. Đó là các mối liên
hệ bên trong và bên ngoài.Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định,
chuyển hoá lẫn nhau giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của một sự vật. Mối
liên hệ này giữ vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của sự vật. Mối liên hệ
bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Mối liên hệ này nói chung
không giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, sự vận động và sự phát triển của sự
vật.Nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mới có thể tác động đối với sự
tồn tại,sự vận động và sự phát triển của sự vật.
* Ý nghĩa:
+ Từ những nội dung trên có thể thấy: chỉ có thể nhận thức đúng và giải
quyết một cách có hiệu quả các vấn đề thực tiễn một khi thực hiện nguyên tắc toàn
diện và lịch sử cụ thể. Nguyên tắc này đòi hỏi:
+ Nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề nào cũng cần phải trên nhiều mặt,
nhiều mối liên hệ khách quan của nó, tránh phiến diện, tránh siêu hình trong giải
quyết các vấn đề.
+ Trong các điều kiện xác định cần đánh giá được vị trí vài trò khác nhau của
các mặt, các mối quan hệ, tránh được việc con người ta bị rơi vào triết trung ngụy
biện.
- Trong nghiên cứu khoa học người ta thường dùng các liên ngành khoa học
để cùng giải quyết một vấn đề.
14
- Trong giải quyết vấn đề thực tiễn cũng đòi hỏi phải xác định được những

triển đa dạng.
- Quy luật phát triển: Mọi quá trình phát triển dù diễn ra với những con
đường và mô hình khác nhau nhưng tất cả đều tuân theo những quy luật chung trong
đó có 3 quy luật cơ bản của mọi quá trình phát triển:
+ Quy luật thay đổi dần về lượng dẫn đến thay đổi nhảy vọt về chất ( quy luật
về phương thức phát triển ).
+ Quy luật vè nguồn gốc và động lực của sự phát triển ( quy luật về thống
nhất và đấu tranh các mặt đối lập )
+ Quy luật về hình thức có tính chu kỳ của sự phát triển ( quy luật phủ định
của phủ định).
* Ý nghĩa:
Trong nghiên cứu khoa học cũng như trong hoạt động tổ chức thực tiễn cần
phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của quan điểm phát triển. Trong đó có những
yêu cầu cơ bản sau:
+ Muốn thực hiện sự phát triển cần phải hướng vào việc tạo sự biến đổi về
chất của sự vật ở trình độ mới.
+ Trọng tâm và mấu chốt của sự phát triển phải là tạo ra những biến đổi về
cấu trúc hệ thống, phương thức hoạt động, cách thức tổ chức nhờ đó tạo ra chất mới.
2. Các cặp phạm trù của phép duy vật biện chứng
a ) Cái riêng và cái chung
* Khái niệm cái riêng và cái chung
- Cái riêng là phạm trù chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất
định
- Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính
không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều
sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác.
* Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
16
- Cái chung chỉ tồn tại thông qua cái riêng, nhờ có cái riêng cái chung nói lên
sự tồn tại của nó nhưng sự tồn tại của cái chung chỉ được nhận biết bằng kết quả của

hệ và trở thành phổ biến ở nhiều cá thể. Những đặc tính không phù hợp với điều
kiện mới sẽ mất dần đi và trở thành cái đơn nhất.
* Ý nghĩa:
- Cái chung và cái riêng thống nhất với nhau, và khác biệt nhau ở cái đơn
nhất – cái đặc trưng riêng có của sự vật. Chính vì vậy, để nhận thức sâu sắc và thấu
đáo một đối tượng nào đó, không thể chỉ dừng lại ở những thuộc tính chung và áp
dụng một cách máy móc, chủ quan theo những công thức để giải quyết sự việc, trái
lại cần phải nắm vững cả những nét đặc trưng riêng có của từng sự vật, hiện tượng,
để hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người đạt hiệu quả như mong muốn.
- Giữa cái chung và cái đơn nhất có sự chuyển hoá lẫn nhau. Từ đó sự vật
mới dần được ra đời. Nếu yếu tố mới ấy phù hợp với quy luật phát triển khách quan
thì chúng sẽ mở rộng dần phạm vi tồn tại, tức cái đơn nhất trở thành cái phổ
biến.Nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần tạo điều kiện thuận lợi để “ cái
đơn nhất” có lợi cho con người trở thành “cái chung” và “cái chung” bất lợi trở
thành “cái đơn nhất”.
- Vì cái riêng gắn bó với cái chung, không tồn tại ở bên ngoài mối liên hệ dẫn
tới cái chung, cho nên khi giải quyết những vấn đề riêng một cách đúng đắn thì
không thể lảng tránh việc giải quyết những vấn đề chung, tức những vấn đề lý luận,
nguyên tắc liên quan đến các vấn đề riêng đó, nếu không sẽ sa vào tình trạng mò
mẫm, tuỳ tiện, vô nguyên tắc.
b ) Nguyên nhân và kết quả
* Khái niệm nguyên nhân và kết quả
- Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một
sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra một biến đổi nhất định nào đó
- Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa
các mặt trong một sự vật hoặc giữa sự vật với nhau gây ra.
18
- Ví dụ cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản là nguyên nhân
dẫn đến kết quả là cuộc cách mạng vô sản nổ ra.
* Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả

* Ý nghĩa
- Mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ cơ bản và quan trọng, thường gắn liền
với đặc trưng bản chất của sự vật, hiện tượng. Vì vậy một trong những nhiệm vụ
hàng đầu của các khoa học là vạch ra những mối liên hệ nhân quả của chúng.
- Mối liên hệ nhân quả thể hiện trong thực tế rất phức tạp và đa dạng, cùng
một sự biến đổi xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau và vai trò của các
nguyên nhân là khác nhau. Vì vậy muốn giải quyết một vấn đề nào đó, trước hết và
sau cùng phải xét từ nguyên nhân cơ bản để có biện pháp giải quyết đúng đắn, thích
hợp.
- Muốn tác động vào sự vật phải tác động vào nguyên nhân của chúng theo
những hình thức phù hợp, đồng thời biết khai thác vận dụng kết quả đã đạt được để
nâng cao nhận thức, tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của sự vật.
- Một hiện tượng trong mối liên hệ này là kết quả trong mối quan hệ khác là
nguyên nhân. Để hiểu rõ tác dụng của hiện tượng ấy, cần phải xem xét nó trong
quan hệ mà nó giữ vai trò là nguyên nhân cũng như trong quan hệ mà nó là kết quả.
Cho nên, trong nhận thức cũng như hành động cần phải xem xét hiện tượng một
cách toàn diện và tích cực, chống lại những quan niệm siêu hình chật hẹp, phiến
diện và áp đặt về mối quan hệ nhân quả.
- Cần phải phân biệt rõ nguyên nhân và nguyên cớ để tác động vào đúng
nguyên nhân.
c ) Tất nhiên và ngẫu nhiên
* Khái niệm tất nhiên và ngẫu nhiên
- Tất nhiên là phạm trù chỉ cái do những nguyên nhân cơ bản bên trong của
kết cấu vật chất quyết định và trong những điều kiện nhất định nó phải xảy ra như
thế chứ không thể khác được
20
- Ngẫu nhiên là phạm trù chỉ cái không do mối liên hệ bản chất, bên trong kết
cấu vật chất, bên trong sự vật quyết định mà do các nhân tố bên ngoài, do sự kết hợp
nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết định. Do đó, nó có thể xuất hiện, có thể không xuất
hiện, có thể xuất hiện như thế này hoặc có thể xuất hiện như thế khác.

làm cho tiến trình đột ngột ấy biến đổi. Cho nên trong mọi trường hợp cần có
phương án đề phòng cái ngẫu nhiên bất ngờ xuất hiện. Có như vậy mới tránh được
bị động, đổ vỡ thất bại trong nhận thức và hành động.
- Cái tất nhiên không thuần tuý tồn tại mà biểu lộ ra ngoài thông qua cái ngẫu
nhiên. Cho nên chỉ có thể vạch ra được cái tất nhiên bằng cách nghiên cứu rất nhiều
cái ngẫu nhiên. Bản thân cái ngẫu nhiên cũng không tồn tại một cách thuần tuý mà
bao giờ cũng là hình thức trong đó ẩn giấu cái tất nhiên. Vì vậy nếu cần hiểu đúng
về mối liên hệ biện chứng này để tránh rơi vào thuyết định mệnh, biến hoạt động
thực tiễn có mục đích của con người thành trò chơi của số phận, của định mệnh, làm
cho khoa học đi vào con đường thần bí, biến khoa học thành công cụ của tôn giáo.
- Trong những điều kiện nhất định, cái tất nhiên có thể chuyển hoá thành cái
ngẫu nhiên và ngược lại, cho nên tuỳ theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn mà có thể
tạo ra những điều kiện cần thiết để thúc đẩy hoặc ngăn trở sự chuyển hoá đó.
d ) Nội dung và hình thức
* Khái niệm nội dung và hình thức
- Nội dung là phạm trù chỉ tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những
quá trình tạo nên sự vật
- Hình thức là phạm trù chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ
thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật đó.
- Ví dụ nội dung của một cơ thể động vật là toàn bộ các yếu tố vật chất như tế
bào, các khí quan cảm giác, các hệ thống các quá trình hoạt động của các hệ thống…
để tạo nên cơ thể đó. Hình thức của một cơ thể động vật là trình tự sắp xếp, liên kết
các tế bào, các hệ thống…tương đối bền vững của cơ thể.
* Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
22
- Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức: Nội dung và hình thức luôn gắn
bó chặt chẽ với nhau. Nội dung bao giờ cũng có hình thức thể hiện và hình thức bao
giờ cũng chứa đựng một nội dung nhất định. Không có nội dung và hình thức thuần
tuý tách rời nhau.Một nội dung có thể được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau
và nhiều nội dung có thể được thể hiện bằng một hình thức nhất định.

* Ý nghĩa
- Vì nội dung quyết định hình thức nên để nhận thức được sự vật, hiện tượng,
trước hết phải tác động vào nội dung của nó.
- Vì hình thức và nội dung luôn gắn bó chặt chẽ với nhau nên trong nhận thức
cũng như hoạt động thực tiễn cần phải xem xét một cách toàn diện không được coi
thường và tuyệt đối hoá một mặt nào.
- Vì nhận thức và nội dung không phù hợp hoàn toàn nên trong quá trình
nhận -thức không nên từ một hình thức nhất thời mà vội vàng phán xét nội dung và
ngược lại.
e ) Bản chất và hiện tượng
* Khái niệm bản chất và hiện tượng
- Bản chất là phạm trù chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ
tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của
sự vật.
- Hiện tượng là phạm trù chỉ sự biểu hiện ra bên ngoài của bản chất
- Ví dụ: bản chất quan hệ giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân trong chủ
nghĩa tư bản là quan hệ bóc lột giá trị thặng dư.Bản chất này dược bộc lộ ra ở nhiều
hiện tượng trong chủ nghĩa tư bản như bần cùng hoá giai cấp vô sản, thất nghiệp,
khủng hoảng kinh tế, ô nhiêm môi trường, chiến tranh
* Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
- Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng. Bản chất luôn luôn được bộc lộ
qua hiện tượng, còn hiện tượng nào cũng là sự biểu hiện của bản chất ở mức độ nhất
định. Không có bản chất nào tồn tại thuần tuý ngoài hiện tượng đồng thời cũng
không có hiện tượng nào hoàn toàn không biểu hiện bản chất. Sự thống nhất ấy còn
24
được thể hiện ở chỗ: bản chất nào thì hiện tượng ấy, bản chất khác nhau sẽ bộc lộ ở
những hiện tượng khác nhau. Chính nhờ sự thóng nhất này mà người ta có thể tìm ra
cái bản chất, tìm ra quy luật trong vô vàn các hiện tượng bên ngoài.
- Tính mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng
+ Mâu thuẫn giữa cái bên trong và cái bên ngoài. Bản chất là cái bên trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status