Câu hỏi Kinh tế Chính trị
Nguyễn Quang Sơn
1. Phân tích điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa và ưu thế của sản xuất hàng hóa.
- Sản xuất hàng hóa: Ra đời khi công cụ lao động được cải tiến, phân công lao động tỉ mỉ hơn,
làm xuất hiện những sản phẩm dư thừa, nảy sinh nhu cầu trao đổi hàng hóa -> lúc đó ra đời
nền sản xuất hàng hóa. => Sản xuất hàng hóa là nền sản xuất trong đó người ta sản xuất ra
những sản phẩm để trao đổi trên thị trường.
* Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa:
- Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đầy đủ 2 điều kiện:
+ Phân công lao động xã hội.
+ Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.
1. Phân công lao động xã hội:
- Đó là việc của mỗi người sản xuất, mỗi ngành sản xuất chỉ chuyên môn sản xuất 1 loại sản
phẩm cho nhu cầu của XH. Đó chính là sự chuyên môn hóa.
- Trong lịch sử đến nay đã diễn ra 3 cuộc phân công lớn:
+ làm chăn nuôi tách khỏi trồng trọt
+ làm cho các ngành thủ công nghiệp tách khỏi ngành nông nghiệp
+ dẫn đến sự xuất hiện của ngành thương nghiệp.
- Kết quả của sự phân công lao động là làm cho những người SX hàng hóa bị phụ thuộc lẫn
nhau. Vì mỗi người chỉ chuyên SX ra 1 loại HH nhất định nhưng trong cuộc sống họ lại cần
đến nhiều sản phẩm khác -> cần trao đổi -> phụ thuộc.
2. Chế độ tư hữu về tư liệu SX:
- nghĩa là tư liệu SX thuộc về từng cá nhân người SX, do đó họ có quyền chi phối đối với sản
phẩm làm ra. -> Như vật chế độ tư hữu đã làm cho những người SX trở thành độc lập với
nhau. Để thỏa mãn nhu cầu của mình, họ phải trao đổi sản phẩm được SX ra với những sản
phẩm của người khác.
* Chú ý: Muốn có SX HH thì phải có đầy đủ 2 điều kiện trên. Thiếu 1 trong 2 sẽ không có SX
HH. Hai điều kiện trên làm cho người SX vừa bị phụ thuộc lẫn nhau, vừa độc lập lẫn nhau.
Đây là mâu thuẫn -> để giải quyết -> tiến hành trao đổi hàng hóa.
đồng thời là vật mang giá trị trao đổi. Nghĩa là nó có thể được dùng để đổi lấy 1 sản phẩm
khác.
* Chú ý: - Là hàng hóa thì phải có giá trị sử dụng nhưng không phải mọi vật có giá trị sử dụng
đều là hàng hóa. - Giá trị sử dụng hàng hóa là phạm trù vĩnh viễn nhưng hàng hóa không phải
là phạm trù vĩnh viễn.
2. Giá trị hàng hóa: là 1 sản phẩm rất trừu tượng vì nó là thuộc tính xã hội. Để hiểu được giá
trị của hàng hóa, phải nghiên cứu giá trị trao đổi hàng hóa.
- Giá trị trao đổi: là quan hệ tỉ lệ về lượng mà 1 giá trị sử dụng này được mang trao đổi với 1
giá trị sử dụng khác. Được biểu hiện bằng các phương trình như: 1m vải = 5 kg thóc. Tỉ lệ trao
đổi này thường được trao đổi theo thời gian địa điểm nên nó mang tính ngẫu nhiên, tương đối.
+ Hai hàng hóa có công dụng khác nhau được trao đổi với nhau -> vậy giữ chúng phải chứa
đựng 1 cái chung. Thuộc tính tự nhiên không phải là cơ sở chung của sự trao đổi này vì thuộc
tính tự nhiên của hai hàng hóa khác nhau là khác nhau. -> Thuộc tính xã hội là cơ sở chung
của sự trao đổi hàng hóa. Đó là mọi hàng hóa đều là sản phẩm của lao động con người và nhờ
có cơ sở chung này mà mọi hàng hóa đều được trao đổi với nhau.
+ Trong phương trình trao đổi trên, việc trao đổi hàng hóa thực chất là việc trao đổi lao động
đã được kết tinh trong hàng hóa. Và tỉ lệ trao đổi nói lên rằng lao động kết tinh trong hai hàng
hóa đó bằng nhau.
- Thông qua việc nghiên cứu giá trị trao đổi hàng hóa, ta thấy được thuộc tính thứ 2 của giá trị
hàng hóa. Vậy thực thể giá trị hàng hóa (chất giá trị) đó chính là lao động của người SX hàng
hóa kết tinh ở trong hàng hóa và giá trị đã biểu hiện quan hệ SX giữa những người SX hàng
hóa hay giá trị SX.
* Sở dĩ hàng hóa có 2 thuộc tính đó là do lao động SX hàng hóa có tính 2 mặt: lao động cụ thể
và lao động trừu tượng. Chính tính 2 mặt của lao động SX hàng hóa quyết định tính 2 mặt của
bản chất hàng hóa.
- Lao động cụ thể: là loại lao động được tiến hành dưới 1 hình thứ nhất định. Nó có mục đích,
phương pháp hoạt động, có đối tượng và có kết quả riêng biệt.
- Lao động trừu tượng: là lao động xã hội của người SX hàng hóa, không kể tới hình thức cụ
thể của nó. Đó là sự hao phí “sức lao động” nó chung của người SX hàng hóa.
* Mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa:
điều kiện SX trung bình của xã hội với 1 trình độ thành thạo trung bình, và cường độ lao động
trung bình của người SX.
- Thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết để làm ra 1 hàng hóa có xu hướng nghiêng
về thời gian lao động cá biệt của những người SX cung cấp phần lớn 1 loại hàng hóa nào đó
trên thị trường và thời gian lao động cần thiết càng lớn thì lượng giá trị của hàng hóa càng lớn.
* Tăng năng suất lao động -> thời gian lao động cần thiết giảm -> số lượng sản phẩm tăng ->
lượng lao động trong 1 sản phẩm giảm -> giá trị hàng hóa giảm -> giá bán giảm xuống.
* Tăng cường độ lao động -> lượng giá trị trong 1 đơn vị thời gian tăng -> tổng giá tri sản
phẩm tăng -> số lượng sản phẩm tăng. Nhưng giá trị của 1 đơn vị sản phẩm không thay đổi./
4. Phân tích nguồn gốc ra đời và bản chất của tiền tệ.
* Nguồn gốc ra đời của tiển tệ:
- Tiền tệ ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của SX và trao đổi hàng hóa và sự phát triển
của các hình thái giá trị. C.Mác đã nghiên cứu giá qua 4 hình thái giá trị:
1. Hình thái giản đơn của giá trị: 1m vải = 5 kg thóc. Xuất hiện khi bắt đầu có sự trao đổi hàng
hóa. Hình thái tương đối = hình thái ngang giá. Phương trình này dung để biểu hiện giá trị của
hàng hóa “vải”. Vải có giá trị vì nó là sản phẩm của lao động nhưng tự nó không thể biểu hiện
giá trị mà phải thông qua 1 hàng hóa khác để biểu hiện giá trị. Hàng hóa “thóc” không nói lên
giá trị của nó mà được dùng làm phương tiện để biểu hiện giá trị của vải. Giá trị sử dụng của
thóc là phương tiện để nói lên giá trị của vải. Nó là hình thái ngang giá, đây chính là mầm
mống của tiền sau này.
2. Hình thái giá trị mở rộng: Xuất hiện trong cuộc phân công lớn lần thứ nhất (chăn nuôi tách
khỏi trồng trọt). Lúc này trao đổi hàng hóa thường xuyên hơn, tỉ lệ trao đổi hàng hóa cố định.
1m vải = 5kg thóc = 3g vàng. Trong hình thái này, hình thái ngang giá được mở rộng ra. Điều
đó khẳng định giá trị của hình thái tương đối. Tuy nhiên, do trao đổi trực tiếp và có nhiều vật
ngang giá cho nên đã gây trở ngại cho trao đổi.
3. Hình thái chung của giá trị: Xuất hiện khi lực lượng SX đã phát triển, có thêm nhiều hàng
hóa tham gia trao đổi. Việc trao đổi trực tiếp trở nên không thích hợp và lúc đó sẽ có 1 hàng
hóa được tách ra giữ vai trò là vật ngang giá chung mà mọi hàng hóa đều được đổi lấy nó
vận động lên xuống xung quanh giá trị. Giá cả bị ảnh hưởng bởi 2 nhân tố quan trọng: _phụ
thuộc vào quan hệ cung cầu, _tình trạng độc quyền của nhà SX, càng chiếm được địa vị độc
quyền, nhà SX càng chủ động trong việc định giá.
2. Phương tiện lưu thông:
- Tiền dùng làm môi giới trong quá trình lưu thông hàng hóa. Vận động theo công thức: H - T
- H.
- Trong chức năng này, tiền phải là tiền thật, không phải là tiền trong tưởng tượng. Lúc đầu
trong lưu thông, người ta dùng tiền vàng nhưng dần dần người ta dùng tiền giấy.
- Trong chức năng này, việc mua bán có thể dẫn đến sự tách rời không gian và thời gian, do đó
có thể xảy ra khủng hoảng, sản xuất thừa.
3. Phương tiện cất giữ:
- Tiền rút khỏi lưu thông, được mang cất giữ lại, khi cần mang ra mua hàng hóa. Tiền cất giữ
phải là tiền có giá trị như tiền vàng, hoặc những của cải bằng vàng, ngoại tệ mạnh. So với việc
cất giữ hàng hóa thì việc cất trữ tiền tệ là không có giới hạn.
4. Phương tiện thanh toán:
- Tiền dùng để chi trả sau khi 1 công việc đã hoàn thành (trả lương, trả nợ…) gọi là tiền thanh
toán. Trong quá trình thanh toán dẫn đến sự xuất hiện của quan hệ tín dụng (vay mượn) giữa
những người SX và điều đó làm tăng thêm sự phụ thuộc giữa những người SX.
5. Tiền tệ thế giới:
- Khi trao đổi hàng hóa phát triển, vượt ra khỏi biên giới quốc gia -> xuất hiện chức năng tiền
tệ thế giới. Trong chức năng này, tiền tệ phải là vàng, bạc thực sự hoặc các ngoại tệ mạnh.
* Quy luật lưu thông tiền tệ:
- Qui luật này xác định lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa, đây là yếu tố rất quan
trọng trong phát triển kinh tế vì nếu thiếu tiền thì hàng hóa không thể lưu thông được. Nếu quá
nhiều tiền sẽ gây ra lạm phát -> giá cả tăng lên 1 cách nhanh chóng.
- Về mặt lí thuyết: Lượng tiền cần lưu thông = Σ giá trị hàng hóa / tốc độ vận động trung bình
của tiền.
- Trong thực tế: Lượng tiền cần cho lưu thông = ( Σ số giá trị hàng hóa bán - Σ số tiền bán chịu
– Σ số tiền khấu trừ + Σ số tiền thanh toán ) / tốc độ vận động trung bình của tiền.
* Các chức năng của tiền tệ được ra đời, phát triển luôn gắn liền với sự phát triển của SX và
- Tóm lại, do có sự tác động của giá cả của thị trường nên có sự di chuyển của tư liệu lao động
và sức lao động từ ngành này sang ngành khác.
- Sự điều tiết lưu thông: Do ảnh hưởng của quan hệ cung cầu làm cho giá cả biến động nhưng
nó không diễn ra đồng thời trên tất cả các thị trường -> do đó làm cho hàng hóa di chuyển từ
nơi có giá thấp đến nơi có giá cao.
2. Tự phát kích thích sự phát triển của lực lượng SX.
- Do điều kiện SX khác nhau -> giá cả cá biệt hàng hóa khác nhau. Nhưng khi bán trên thị
trường, hàng hóa được bán theo giá trị xã hội -> vì thế những người có mức hao phí cá biệt <
mức trung bình xã hội sẽ có lãi. Vì thế người SX phải tìm cách hạ thập mức hao phi cá biệt,
bằng cách cải tiến kĩ thuật, dùng công nghệ mới. Lúc đầu là phạm vi trong doanh nghiệp
nhưng dần dần trở thành phạm vi xã hội -> làm cho lực lượng SX nói chung trong xã hội phát
triển.
3. Tự phát làm phân hóa những người SX nhỏ thành kẻ giàu và người nghèo, phát sinh các
quan hệ TBCN.
- Trong KT hàng hóa, xét về việc hao phí lao động cá biệt có thể xảy ra 3 trường hợp:
+ hao phí lao động cá biệt = hao phí lao động xã hội. Những người này tồn tại được trong KT
hàng hóam tuy nhiên rất khó khăn vì mức trung bình xã hội hay thay đổi.
+ hao phí lao động cá biệt < hao phí lao động xã hội. Những người này hàng hóa bán chạy, thu
nhiều lãi, trở nên giàu có.
+ hao phí lao động cá biệt > hao phí lao động xã hội. Những người này hàng hóa bán chậm, lỗ
nhiều, trở nên nghèo đi -> phá sản -> dần dần họ phải đi làm thuê cho người giàu -> nảy sinh
quan hệ SX TBCN./
www.h29K45.net.tf
I. Sự hình thành CNTB độc quyền.
* Về mặt lịch sử, đến nay CNTB phát triển qua 2 giai đoạn:
- tự do canh tranh: tk16- đầu tk20. Đây là thời kỳ bắt đầu hình thành và phát
triển CNTB.
- độc quyền của CNTB (đế quốc chủ nghĩa): từ tk20 -> nay. Lênin khẳng định:
So vớ CNTB, CNĐQ xét về bản chất không thay đổi. CNĐQ không phải là 1
- Nguyên nhân: 3 ý
+ Cuối tk19, đầu tk20, nhiều thành tựu mới của KHKT được áp dụng vào SX
(thay thế luyện kim lò thủ công bằng lò điện, phát hiện nhiều năng lượng mới,
phương tiện GTVT mới ra đời, công nghiệp hóa chất phát triển ). Những thành
tựu đó đã làm thay đổi tính chất của TLSX. Do sử dụng những TLSX mới, đòi
hỏi quy mô SX phải lớn, nên lượng TB đầu tư phải lớn. Đặt ra yêu cầu phải tích
tụ, tập tung SX. Hình thành các xí nghiệp lớn.
+ Do qui mô các xí nghiệp ngày càng lớn, các quy luật KT trong CNTB cũng tác
động ngày càng mạnh mẽ đến nền SX TBCN. Càng thúc đẩy quá trình tích tụ,
tập trung TB.
+ Năm 1873, xảy ra cuộc khủng hoảng KT, cũng có tác động thúc đẩy quá trình
tập trung SX.
- Các tổ chức tập trung SX: thành lập các công ty cổ phần, xây dựng các xí
nghiệp liên hiệp (có khả năng SX hoàn chỉnh 1 hay nhiều mặt hàng).
- Các hình thức tổ chức độc quyền: Cácten, Xanhđica, Tờrớt, Côngxoócxiom.
- Trong CNĐQ thì sự tự do cạnh tranh được thay thế bằng sự thống trị của các tổ
chức độc quyền. Đó chính là bản chất KT của CNĐQ.
- Với sự xuất hiện của các tổ chức độc quyền thì cạnh tranh không hề bị thủ tiêu
mà trái lại càng trở nên gay gắt hơn. Vì cơ sở KT của nó vẫn dựa trên chế độ
chiếm hữu tư nhân về TLSX.
- Trong CNĐQ có 3 loại cạnh tranh: giữa các tổ chức độc quyền; trong nội bộ
từng tổ chức độc quyền; giữa các tổ chức độc quyền với các xí nghiệp ngoài độc
quyền.
b.Tư bản tài chính và bọn đầu xỏ tài chính.
- Vai trò của ngân hàng:
+ Trong thời kỳ tự do cạnh tranh, ngân hàng giữ vai trò trung gian giữ người cho
vay và người đi vay. Mọi quan hệ vay mượn đều thông qua ngân hàng.
+ Sang giai đoạn độc quyền, khi ở trong SX diễn ra quá trình tích tụ và tập trung
SX thì ở trong ngân hàng cũng diễn ra quá trình tích tụ, tập trung để hình thành
khẩu TB. Đây là 1 cách thức để mở rộng quyền thống trị và bóc lột của các tổ
chức độc quyền ra nước ngoài.
- Tính tất yếu của xuất khẩu TB:
+ Đầu tk20, ở các nước TB đã tích lũy được 1 số lượng lớn TB và nếu đầu tư ở
trog nước thì không mang lại tỉ suất lợi nhuận cao như ở nước ngoài.
+ Lúc này có 1 số nước lạc hậu về KT hiện đang thiếu TB (vốn), mặt khác ở đó
tiền lương lại thấp và nguyên liệu thì rẻ.
+ Ở 1 số nước tương đối phát triển, họ lại có nhu cầu về vốn đầu tư để đổi mới kĩ
thuật.
- Các hình thức xuất khẩu TB:
+ xuất khẩu TB SX: nước xuất khẩu TB đầu tư vốn để xây dựng các xí nghiệp
mới hoặc mua lại các xí nghiệp đang hoạt động, làm chủ thầu xây dựng các công
trình cơ sở hạ tầng (FDI).
+ xuất khẩu TB cho vay: các nước xuất khẩu TB hoặc tự nhân cho các nước
nhập khẩu TB vay (ODA).
d. Sự phân chia thế giới về mặt KT giữa các tập đoàn TB độc quyền.
- Thời kì tự do cạnh tranh, thì qui mô của TB cá biệt chưa lơn nên thị trường
CNTB chủ yếu là thị trường trong nước. Nhưng sang giai đoạn độc quyền, thị
trường các nước TB được mở rộng ra bên ngoài, hình thành thị trường quốc tế.
Giữa các nước TB lớn đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt để tranh giành thị
trường quốc tế. Kết quả là dẫn tới việc hình thành các tổ chức độc quyền quốc tế.
- Tổ chức độc quyền quốc tế là liên minh giữa các tổ chức độc quyền lớn nhất
của các nước để phân chia thị trường thế giới, để độc chiếm nguồn nguyên liệu,
để xác định qui mô SX của từng tổ chức độc quyền, để định giá cả độc quyền.
Tất cả nhằm để thu lợi nhuận độc quyền cao.
e. Sự phân chia thế giới vể mặt lãnh thổ, đất đai giữa các nước đế quốc.
(giáo trình)
b. Sự hoạt động của qui luật giá trị.
- Trong thời kì tự do cạnh tranh, hàng hóa bán theo giá cả SX = chi phí SX + P.
- Trong giai đoạn độc quyền, hàng hóa bán theo giá cả độc quyền = chi phi SX +
P độc quyền = chi phí SX + P + Psiêu ngạch.
- Trong thực tế, giá cả độc quyền >> giá trị, nhưng điều đó không hề mâu thuẫn
với qui luật giá trị. Tuy bán theo giác cả độc quyền, nhưng giá cả độc quyền
không thể thóat khỏi cơ sở của nó là giá trị. Bởi một mặt, lợi nhuận độc quyền
do lao động thặng dư tạo ra. Lợi nhuận độc quyền dù rất lớn thì nó vẫn có nguồn
gốc từ lao động thặng dư. Mặt khác, nếu xét theo nguồn gốc của lợi nhuận độc
quyền thì việc có được lợi nhuận độc quyền là do sự chiếm đoạt giá trị thặng dư
của người lao động trong các tổ chức độc quyền, của các nhà TB loại vừa và
nhỏ, do chiếm đoạt của nhân dân các nước thuộc địa. Vì thế đây chỉ là sự phân
phối lại giá trị, giá trị thặng dư trong XH. Nếu xét trong toàn bộ hệ thống KT TB
thì tổng giá cả độc quyền + tổng giá cả không độc quyền = tổng giá trị.
- Như vậy, qui luật giá trị vẫn hoạt động trong giai đoạn độc quyền và nó được
biểu hiện thành qui luật giá cả độc quyền.
II. Chủ nghĩa TB độc quyền nhà nước.
1.Bản chất và nguyên nhân hình thành CNTB độc quyền nhà nước.
- Trong khoảng thời gian trước và sau CTTG 1, ở trong các nước đế quốc xuất
hiện hiện tượng mới. Đó là việc các nhà nước TB bắt đầu can thiệp vào các quan
hệ KT đối nội, đối ngoại. Lênin gọi đó là CNTB độc quyền. Sau CTTG 2, hiện
tượng trên ngày càng phát triển.
- Bản chất CNTB độc quyền nhà nước: 3 khía cạnh.
+ đó là sự can thiệp trực tiếp của nhà nước các nước đế quốc vào quá trình KT
nhằm bảo đảm mức lợi nhuận độc quyền cao cho các tổ chức độc quyền và để
cứu nguy cho CNTB thoát khỏi các cuộc khủng hoảng KT và trước sự tấn công
của các phong trào CM lúc bấy giờ.
+ là sự kết hợp giữa các tổ chức độc quyền với bộ máy nhà nước tư sản, tạo ra 1
chống đói nghèo, đòi quyền bình đẳng. Những phong trào này đe dọa đến sự tồn
tại của CNTB, nhất là hiện nay do quá trình quốc tế hóa đời sống KT với sự
bành trướng của các công ty đa quốc gia làm phát sinh nhiều cuộc xung đột.
Điều đó đòi hỏi phải có sự điều tiết các quan hệ KTCT, nên nhà nước phải đứng
ra làm công việc này.
2. Những biểu hiện của CNTB độc quyền nhà nước: 5 ý.
- Đó là sự kết hợp về mặt con người giữa các tổ chức độc quyền và nhà nước tư
sản, biểu hiện ở việc thành lập các hội. Bao gồm người của các tổ chức độc
quyền và các nhân viên trong bộ máy nhà nước. Những hội này đã tác động vào
các chính sách của nhà nước theo hướng có lợi cho các tổ chức độc quyền.
- Sự hình thành và phát triển của sở hữu nhà nước. Sở hữu nhà nước ở các nước
TB bao gồm các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, cơ sở hạ
tầng, hệ thống tài chính tín dụng, GTVT Những doanh nghiệp này thường kinh
doanh trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, hoặc những lĩnh vực thuộc về nghiên cứu
KHKT đòi hỏi vốn lớn, lãi ít, khả năng rủi ro cao, vì thế nhà nước phải trực tiếp
đầu tư.
- Sự phát triển của thị trường nhà nước. Đó là việc nhà nước trực tiếp đứng ra
tiêu thụ hàng hóa cho các tổ chức độc quyền dưới hình thức đặt hàng trực tiếp
cho các công ty, điển hình là việc SX vũ khí và phưong tiện chiến tranh.
- Sự điều chỉnh và kiểm soát của nhà nước đối với nền KT. Trong giai đoạn độc
quyền, thường xuyên xảy ra các cuộc khủng hoảng KT, để chống đỡ nhà nước đã
sử dụng 1 số biện pháp để can thiệp nề KT, như đưa ra các chưong trình kế
họach phát triển KT, thông qua hệ thống tài chính tín dụng tiền tệ để tác động
vào nền KT.
- Sự can thiệp của nhà nước vào quan hệ KT đối ngoại, biểu hiện ở chỗ nhà nước
trực tiếp đứng ra điều chỉnh ngoại thương, điều chỉnh các quan hệ tín dụng và
tiền tệ quốc tế. Xuất hiện hình thức xuất khẩu TB nhà nước (nhà nước đứng ra
xuất khẩu TB mà không phải tư nhân), những tổ chức độc quyền nhà nước quốc
tế tham gia vào các tổ chức này là những nhà nước TB độc quyền.
những hình thức mói.
2. Những biểu hiện mới của CNTB độc quyền nhà nước.
- được Lênin đề cập đến từ đầu tk20, qua gần 1 tk tồn tại, CNTB độc quyền nhà
nước ngày nay đã phát triển mạnh mẽ, rộng khắp với 3 biểu hiện chính:
+ tỉ trọng của khu vực KT nhà nước trong nền KTQD được nân cao 1 cách rõ rệt.
KT nhà nước ở đây bao gồm các xí nghiệp SX vật chất, hệ thống ngân hàng tài
chính, hệ thống cơ sở hạ tầng, 1 số ngành dịch vụ.
+ KT hỗn hợp giữa nhà nước và tư nhân tăng lên 1 cách mạnh mẽ.
+ chi tiêu tài chính của nhà nước phục vụ cho việc điều tiết nền KT và điều tiết
toàn bộ qua strinh tái SX XH ngày càng tằng lên. Trước CTTG 1 chiếm
10%GDP, sau CTTG 2 tăng lên 30%.
* Nguyên nhân của sự phát triển CNTB độc quyền nhà nước: 2 ý
- do sự phát triển của lực lượng SX và trình độ XH hóa ngày càng cao, đặt ra
nhiều vấn đề cần tới sự có mặt của nhà nước mới giải quyết được. (ô nhiễm môi
trường, thay đổi cơ cấu nền KT )
- do sự cạnh tranh trong và ngoài nước, ở các nước đế quốc diễn ra hết sưc gay
gắt, đòi hỏi nhà nước phải đứng ra giải quyết vấn đề thị trường (bằng các đơn đặt
hàng của nhà nước )
* Những biểu hiện mới trong việc điều tiết KT của CNTB độc quyền nhà
nước: 6 ý.
- nhà nước điều tiết ở tầm vĩ mô toàn bộ nền KT, bằng các công cụ như tài chính
tiền tệ, từ đó làm hình thành nên cơ chế KT hỗn hợp. Đó là nền KT chịu sự tác
động của 2 yếu tố: sự tự điều tiết của cơ chế thị trường và sự điều tiết của nhà
nước. Sự kết hợp đó nhằm kết hợp tính linh hoạt của KT thị trường trong đó bao
gồm các công ty độc quyền tư nhân với vai trò điều tiết của nhà nước.
- phương thức điều tiết của nhà nước đã trở nên linh hoạt mềm dẻo hơn, phạm vi
rộng hơn. Cụ thể:
+ nhà nước điều tiết nền KT bằng chương trình KT, kế hoạch Kt
+ nhà nước điều chỉnh cơ cấu KT bằng quan hệ thị trường thông qua các hợp
quyền và kết thúc khi người ta xây dựng xong cơ sở vật chất kĩ thuật và nền VH
tư tưởng của CNXH, xây dựng xong lực lượng SX và quan hệ SX mới.
b. Đặc điểm KT của thời kì quá độ:
- Theo tư tưởng của Lenin thì các nước khi bước vào thời kì quá độ đều tồn tại
nền KT nhiều thầnh phần. Tương ứng với nó là 1 XH có nhiều giai cấp. Bởi vì
thời kì quá độ là thời kì chuyển biến từ chế độ sở hữu tư nhân về TLSX sang sở
hữu XH về TLSX. Do đó trong XH tất yếu sẽ tồn tại nhiều hình thức sở hữu
khác nhau. Vì thế sẽ có nhiều thành phần KT khác nhau.
- Các thành phần KT cơ bản trong thời kì quá độ: thành phần KT XHCN (giai
cấp vô sản - công nhân), TB tư nhân (giai cấp tư sản), SX hàng hóa nhỏ (tiểu tư
sản).
c. Hau loại quá độ lên CNXH:
- quá độ tuần tự: từ CNTB lên CNXH, phản ánh qui luật phát triển tuần tự của
XH loài người: từ XH nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản,
XHCN. Nước Nga trước đây đi theo con đường này.
- quá độ từ các hình thái KT trước CNTB lên CNXH: trong lịch sử, có những
nước phát triển bỏ qua 1 vài phương thức SX (Mĩ, Canada từ chiếm hữu nô lệ
lên TB, Úc bỏ qua nô lệ, phong kiến lên thẳng TB ), phản ánh sự phát triển nhảy
vọt của XH. Tư tưởng này do M-A đề xướng, được Lenin phát triển thêm bằng
việc nêu thêm 2 điều kiện: phải có những nước xây dựng thành công CNXH
giúp đỡ (bên ngoài), phải có sự lãnh đạo của ĐCS, phải hình thành được các tổ
chức CM (bên trong).
d. Nhiệm vụ KT-XH cơ bản của thời kì quá độ:
- là "thực hiện XH hóa SX". Đây là cơ sở KT cần thiết để tạo ra năng suất lao
động XH cao để bảo đảm cho CNXH chiến thắng triệt để và hoàn toàn CNTB và
bảo đảm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của các thành viên trong XH.
- biểu hiện của XH hóa SX: ở việc phân công lao động XH phát triển trình độ
chuyên môn hóa lao đông cao gắn liền với việc hiệp tác và trao đổi lao động với
nhau. Và việc hiệp tác và phân công lao động phải được gắn liền với kĩ thuệt và
công nghệ ở trình độ cao.
phát triển KT.
* Ý nghĩa của NEP: đã góp phần khôi phục nền KT của Nga lúc bấy giờ. Đây là
sự phát triển lý thuyết về nền KT XHCN với những nội dung rất quan trọng như
là việc phát triển KT nhiều thành phần, sử dụng các hình thức KT quá độ, duy trì
quan hệ hàng hóa tiền tệ và vấn đề quan tâm giải quyết lợi ích cá nhân, coi đây là
động lực phát triển KT.
I. Tính tất yếu khách quan của thời kì quá độ lên CNXH bỏ qua TBCN.
- Căn cứ vào lí luận M-L về thời kì quá độ. Từ CNTB không thể chuyển ngay
sang CNXH mà phải trải qua thời kì quá độ. Đây là thời kì lịch sử mà bất kì quốc
gia nào đi lên CNXH cũng phải trải qua. Bao gồm những nước phát triển và cả
những nước lạc hậu.
- Căn cứ vào thực tiễn Việt Nam là 1 nước tiến lên CNXH từ 1 xuất phát điểm
còn rất thấp (1 nước nông nghiệp SX nhỏ). Vì thế tất yếu nước ta phải trải qua
thời kì quá độ lên CNXH. Đại hội Đảng lần 7 (1991) khẳng định: "Nước ta sẽ
phát triển theo định hướng XHCN và bước quá độ ở nước ta là quá độ bỏ qua 1
vài phương thức SX, trong đó cớ bỏ qua chế độ TBCN.
* Bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của
quan hệ SX và kiến trúc thượng tầng TBCN. Nhưng phải biết tiếp thu và kế thừa
những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN. Đặc biệt là
KHCN đã phát triển nhanh, lực lượng SX và xây dựng nền KT hiện đại.
* Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta là 1 tất yếu khách
quan:
- Hiện nay trên thế giới cùng đang bước vào thời kì quá độ từ CNTB lên CNXH.
Theo sự phát triển tất yếu thì CNTB không thể tồn tại vĩnh viễn và nó nhất định
phải được thay thế bằng 1 chế độ XH tiến bộ hơn. Đó chính là CNXH.
- Chỉ có đi theo con đường CNXH thì chúng ta mới giữ vững được độc lập dân
tộc, mới bảo đảm cho nhân dân có được cuộc sống tự do hạnh phúc.
II. Những nhiệm vụ KT cơ bản của thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
1. Quan hệ sở hữu trong thời kì quá độ ở Việt Nam.
* Sở hữu là hình thức XH lịch sử nhất định của sự chiếm hữu. Phạm trù sở hữu
khi được thể chế hóa thành quyền sở hữu và đựoc thực hiện qua 1 cơ chế nhất
định thì gọi là chế độ sở hữu. Quan hệ sở hữu đó chính là quan hệ giữa người và
người, là quan hệ giữa các giai cấp với nhau thông qua mối quan hệ giữa vật và
vật.
* Quan hệ sở hữu thường được xem xét dưới 2 góc độ:
- Về mặt pháp lí: đây là quan hệ giữa người với người về đối tượng sở hữu, được
thừa nhận trong Hiến pháp, Pháp luật. Khẳng đinh rõ đối tượng sở hữu thuộc về
ai hoặc giai cấp nào.
- Về mặt KT: được biểu hiện thành thu nhập của người chủ sở hữu. Người chủ
sở hữu là người được hưởng thu nhập từ nguồn tài sản được sở hữu. Vì thế vấn
đề sở hữu luôn hướng tới lợi ích KT.
* Các hình thức sở hữu cơ bản trong lịch sử: công hữu về TLSX (nguyên thủy,
CSCN sau này), tư hữu (nô lệ, phong kiến, tư bản).
2. Các hình thức sở hữu ở Việt Nam.
* Đại hội Đảng 9 xác định ở nước ta có 3 hình thức sở hữu: toàn dân, tập thể, tư
nhân.
- Sở hữu toàn dân: là hình thức sở hữu chung của toàn XH. Ở nước ta hiện nay,
được thực hiện thông qua nhà nước. Nhà nước là đại diện cho toàn dân để sở hữu
những nguồn tài nguyên, những tài sản TLSX chủ yếu và những nguồn dự trữ
quốc gia. Nhà nước là chủ sở hữu nhưng giao quyền sử dụng cho các thành phần
KT, như vậy ở đây có sự tách rời giữa quyền sở hữu và sử dụng. Điều đó một
mặt nhằm tạo điều kiện cho nhà nước thực hiện vai trò của mình, mặt khác là
tăng tính tự chủ cho các doanh nghiệp.
- Sở hữu tập thể: là sở hữu tập thể của những người lao động tự nguyện tham
gia các tổ chức KT như các HTX, tập đoàn SX, các công ty cổ phần dựa trên
nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, quản lí dân chủ, cùng có lợi.
- góp phần vào việc khai thác, sử dụng có hiệu quả sức mạnh tổng hợp của các
thành phần KT (vốn, lực lượng lao động, tài nguyên, KHCN, kình nghiệm quản
lí)
- tạo điều kiện thực hiện các hình thức KT quá độ phù hợp với bước quá độ của
nước ta…
- nếu sử dụng tốt sẽ khắc phục được tình trạng độc quyền, tạo sự canh tranh lành
mạnh, từ đó tao ra động lực thúc đẩy SX.
2. Cơ cấu thành phần KT ở nước ta:
* Đại hội Đảng 9 (2001) xác định ở nước ta hiện nay đang tồn tại 6 thành phần
KT: nhà nước, tập thể, TB nhà nước, cá thể & tiểu chủ, TB tư nhân, có vốn đầu
tư nước ngoài.
a. KT nhà nước: là thành phần KT tồn tại dựa trên chế độ sở hữu nhà nước đối
với các TLSX chủ yếu. Bao gồm các bộ phận: các doanh nghiệp SX và kinh
doanh của nhà nước (quan trọng và chủ yếu), những ngành KT thuộc sở hữu nhà
nước (cơ sở hạ tầng, GTVT, bưu điện, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm ), những
lực lượng vật chất thuộc sở hữu nhà nước được huy động vào SX (đất đai, tài
nguyên, bộ phận dự trữ quốc gia )
- KT nhà nước được hình thành bằng 3 con đường chủ yếu: nhà nước bỏ vốn,
đầu tư vốn để xây dựng mới từ đầu; nhà nước bỏ vốn liên doanh với nước ngoài;
do nhà nước quốc hữu hóa các xí nghiệp TB tư nhân.
* Trong thời kì quá độ, KT nhà nước cần phải giữ được vai trò chủ đạo trong
nền KT.
- Phải trở thành đòn bẩy để đẩy nhan tốc độ tăng trưởng KT và để giải quyết các
vấn đề XH.
- Phải giữ vai trò người mở đường, hướng dẫn và hỗ trợ cho các thành phần KT
khác cung phát triển.
- Phải trở thành lực lượng rất quan trọng để giúp nhà nước thực hiện chức năng
điều tiết trong quản lú vĩ mô nền KT.
* Thực trạng: trước đây trong cơ chế bao cấp, do việc đồng nhất giữa tập thể hóa
& hợp tác hóa nên nhiều HTX được tổ chức trong thời kì này theo kiểu gò ép,
bắt buộc, duy ý chí nên đa số các HTX làm ăn không hiệu quả. Nhưng từ khi tiến
hành đổi mới và tổ chức lại các HTX theo Luật HTX mới (1997) thì nhiều HTX
đã tỏ rõ được những ưu thế của KT HTX, đạt được những bước phát triển mới,
tạo việc làm, thu nhập của xã viên cao, xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài, có
tính cạnh tranh cao. Tuy nhiên số HTX yếu kém hiện nay vẫn còn nhiều, cần
được củng cố.
* Phương hướng củng cố:
- giải quyết thỏa đáng vấn đề sở hữu đất, nhất là đất đai cho nông nghiệp, phải
nhanh chóng giao quyền sở hữu lâu dài về đất đai cho các hộ gia đình để tạo tâm
lý yên tâm SX kinh doanh.
- phải phát triển các hình thức đa dạng trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề như xây
dựng cơ bản, trong SX, cung ứng dịch vụ
- triệt để tuân thủ nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, dân chủ trong việc XD, phát
triển HTX, củng cố HTX để HTX phát triển lâu dài.
- Nhà nước thực hiện sự giúp đỡ về mọi mặt đối với HTX về vốn, cơ sở vật chất,
con người và cơ chế chính sách.
c. KT TB nhà nước: là thành phần KT được hình thành bằng việc nhà nước và
các nhà TB (trong, ngoài nước) cùng góp vốn kinh doanh. Tồn tại trên 2 dạng:
các công ty hợp doanh, các liên doanh với nước ngoài.
* Vai trò của KT TB nhà nước:
- Trong thời kì quá độ, là các hình thức KT trung qian, KT quá độ để chuyển
biến từ các thành phần KT phi XHCN thành KT XHCN.
- thu hút lao động, tạo công ăn việc làm, tăng sản phẩm XH, là điều kiện để ta
tiếp xúc với những công nghệ tiên tiến, cách thức quản lí mới.
- thông qua việc kêu gọi đầu tư của nước ngoài, thì hình thức này góp phần vào
việc giải quyết tình trạng thiếu vốn hiện nay ở nước ta.
hành vi tiêu cực, đồng thời hướng dẫn các doanh nghiệp này đi theo KT TB nhà
nước.
f. KT có vốn đầu tư nước ngoài: bao gồm các doanh nghiệp SX kinh doanh có
vốn của nước ngoài tham gia: các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước
ngoài (100% vốn - FDI), các liên doanh giữa VN với nước ngoài mà phía nước
ngoài chiếm tỉ trọng lớn hoặc nhỏ, các liên doanh giữa VN với các nước XHCN.
- Thành phần này được tạo điều kiện thuận lợi, cần được hướng đầu tư vào SX
hàng xuất khẩu, vào việc xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH, và phải thu hút
được, sử dụng công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm.
- Về phía nhà nước VN phải tìm cách cải thiện môi trường KT, môi trường pháp
lí để thu hút mạnh mẽ đầu tư của nước ngoài.
- Giữa thành phần này với thành phần KT TB nhà nước thì có những điểm tương
đối giống nhau, nhưng do đặc điểm nguồn vốn cho nên nó được xếp riêng ra 1
thành phần. Nguồn vốn của thành phần này hoàn toàn tư nước ngoài đưa vào,
cần tách riêng để quản lý nguồn vốn cho chặt chẽ hơn.
4. Mối quan hệ giữa các thành phần KT:
- 6 thành phần KT kể trên giữa chúng có mối quan hệ vừa thống nhất những lại
vừa mâu thuẫn với nhau.
* Thống nhất:
- cả 6 thành phần trên đều hoạt động trong cùng 1 hệ thống phân công lao động
XH, sự hoạt động của mỗi thành phần đều hướng vào thực hiện mục tiêu chung,
đó là thỏa mãn nhu cầu của Sx và tiêu dùng của toàn XH và nhu cầu của xuất
khẩu.
- đều chải chịu sự quản lí thống nhất của nhà nước XHCN Việt Nam.
- đều chịu sự tác động của các qui luật KT trong nền KT thị trường ở nước ta
hiện nay.
* Mâu thuẫn:
- xét về lợi ích lâu dài thì có sự khác nhau và mâu thuẫn lẫn nhau giữa các thành