LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Trang 1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, mạng máy tính ngày càng trở nên phổ biến. Việc
liên kết các máy tính trên môi trường mạng cũng như liên kết các mạng lại với nhau
đem lại cho chúng ta nhiều lợi ích trong công việc cũng như trong việc học tập nghiên
cứu, giải trí. Chúng ta có thể sử dụng các tài nguyên sẵn có được chia xẻ như file
server, printer, máy fax, môi trường mạng còn là một môi trường thông tin nhanh
chóng và tiện lợi nhờ vào các cơ chế truyền thông trên mạng như : e-mail, www
Bên cạnh đó, tốc độ phát triển của máy tính PC cũng rất nhanh chóng. Các kỹ
thuật hiện đại đã giúp tạo ra các máy PC với tốc độ tính toán nhanh hơn, bộ nhớ lớn
hơn và khả năng xử lý của nó cũng ngày càng đa dạng hơn trong khi giá thành ngày
càng rẻ hơn. Một trong những khả năng ưu việt của máy PC hiện nay là hỗ trợ
multimedia. Các máy PC ngày nay giao tiếp với con người không chỉ bằng text mà
còn kết hợp tất cả các phương tiện khác như tiếng nói, hình ảnh.
Việc đưa kỹ thuật multimedia vào các ứng dụng truyền thông trên mạng giúp
chúng ta tạo ra nhiều ứng dụng phong phú hơn. Chẳng hạn hộp thư điện tử ngày nay
có thể không chỉ là văn bản mà còn bao gồm tiếng nói, hình ảnh. Các trang web trở
nên sinh động hơn hẳn khi kèm theo kỹ thuật multimedia. Bên cạnh đó, chúng ta có
thể thiết kế các ứng dụng tiện ích như Video conference, voice mail
Thông qua chương trình này, người sử dụng có thể trao đổi thông tin với nhau
bằng tiếng nói. Chương trình này đã được hiện thực rất nhiều trong các lĩnh vực
thông tin như điện thoại, viễn thông, máy tính . . . Tuy nhiên nó chưa được áp dụng và
phát triển rọng rãi như trên các lĩnh vực thông tin khác do sự hạn chế của thiết bị.
Ngày nay, khi công nghệ thông tin đã phát triển thì việc hiện thực chương trình này là
hoàn toàn có thể. Ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như :
•Việc dạy học từ xa.
•Việc chẩn đoán, chữa bệnh từ xa.
•Hội thảo, thảo luận theo nhóm.
•Công cụ trao đổi thông tin bằng hình ảnh và âm thanh.
Đề tài : Xây dựng ứng dụng truyền thông âm thanh trên mạng cục bộ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Trang 2
IP như một thiết bị đầu cuối. Tiếng nói được mã hoá sau đó là nén và quá trình nhận
dữ liệu hoàn toán giống nhưng với quy trình ngược lại là giải nén, giải mã bằng phần
mềm. Trong mô hình này đòi hỏi cả hai thuê bao cần phải có soundcard, microphone,
loa và phần mềm giống nhau.[1]
Hình I.1 : Mô hình PC - PC
I.1.2 MÁY TÍNH ĐẾN ĐIỆN THOẠI HOẶC ĐIỆN THOẠI ĐẾN MÁY TÍNH
Trong mô hình này, một thuê bao sử dụng máy tính nối mạng với mạng còn
thuê bao kia sử dụng điện thoại trong mạng PSTN/ISDN/GSM/TDM. Sử dụng một
gateway để chuyển tiếng nói trên mạng IP thành tiếng nói trên mạng PSTN và trao đổi
thông tin giữa hai mạng trên. Như vậy, ở đây máy tính phải đầy đủ các thiết bị như
Soundcard, loa, microphone và phần mềm thông qua server của mạng IP để có thể kết
nối với mạng PSTN thông qua Geteway.
Đề tài : Xây dựng ứng dụng truyền thông âm thanh trên mạng cục bộ
Máy tính Máy tính
IP
Máy tính Điện thoại
I
P
Gateway
PSTN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Trang 4
Hình I.2 : Mô hình Máy tính – Điện thoại
I.1.3 ĐIỆN THOẠI ĐẾN ĐIỆN THOẠI
Trong mô hình này, cả hai thuê bao đều sử dụng điện thoại bình thường và
mạng IP được sử dụng trong trường hợp cuộc gọi đường dài. Gateway được sử dụng ở
cả hai đầu để chuyển đổi dữ liệu giữa các mạng với nhau.[1]
Hình I.3 : Mô hình Điện thoại – Điện thoại
tuyến thông thường. Bất kỳ máy nào trong mạng cũng có thể ở chế độ chờ hay chế độ
chạy nền (background) gọi máy là P-SERVER; máy ở chế độ gọi (active) gọi là P-
CLIENT. Như vậy một máy trong mạng có thể là P-SERVER hoặc P-CLIENT. Trên
môi trường mạng, khi chúng ta muốn nói chuyện một người trên một máy nào đó,
chúng ta sẽ tiến hành việc gọi liên kết. Việc gọi liên kết được tiến hành bằng việc xác
định địa chỉ IP của máy mà chúng ta cần liên kết. Sau đó chúng ta sẽ chờ việc xác lập
liên kết. Ở máy được gọi sẽ có thông báo cho người sử dụng biết rằng có một người
khác muốn nói chuyện. Tùy theo người đó quyết định có chấp nhận hay không. Nếu
chấp nhận thì liên kết sẽ được xác lập và hai bên sẽ có thể tiến hành trao đổi thông tin
với nhau.
Trong quá trình trao đổi thông tin, các máy sẽ truyền tiếng nói của người sử
dụng đồng thời nhận dữ liệu âm thanh của máy liên kết. Khi nói chuyện xong, liên kết
sẽ bị hủy bỏ và chương trình kết thúc. Nếu máy được gọi không có người trả lời thì
sau thời gian chờ vượt quá giới hạn thì liên kết cũng sẽ bị huỷ bỏ. Vì dữ liệu truyền
nhận trong chương trình là dữ liệu dạng liên tục của âm thanh cho nên có các yêu cầu
đặt ra như sau: Bảo đảm tính mạch lạc của dữ liệu. Tiếng nói trong quá trình thông tin
phải rõ ràng, liền lạc, không bị ngắt quãng.
Các yêu cầu trên đặt ra các nhiệm vụ mà chúng ta phải giải quyết trong việc
xây dựng chương trình. Đối với dữ liệu là âm thanh, chúng ta phải xem xét các thông
số trong quá trình lấy mẫu ở đầu vào. Các thông số đặc trưng như : tần số lấy mẫu, số
bit biểu diễn cho một điểm lấy mẫu, kênh lấy mẫu được sử dụng 1 kênh (mono) hay
hai kênh (stereo). Do đó chúng ta phải tổ chức kích thước buffer âm thanh sao cho
phù hợp với việc truyền nhận đạt tốc độ cao. Một vấn đề khác được đặt ra với dữ liệu
âm thanh là việc nhận và phát ở đầu ra, chúng ta phải quan tâm đến việc xử lý và loại
bỏ các tín hiệu nhiễu giúp cho âm thanh được rõ ràng, trung thực. Do việc truyền
nhận dữ liệu là trên môi trường mạng nên chúng ta phải quan tâm đến tốc độ, lưu
Đề tài : Xây dựng ứng dụng truyền thông âm thanh trên mạng cục bộ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Trang 6
lượng trao đổi dữ liệu, thời gian truyền nhận để đưa ra cách giải quyết cho phù hợp.
Ngoài các vấn đề chính ở trên, một số yêu cầu khác đặt ra cho ứng dụng như : cơ chế
mạng và số lượng nút có thể của mỗi lớp địa chỉ :
Lớp địa chỉ Số lượng mạng Số lượng nút
A 127 16.777.241
B 16.383 65.534
C 2.097.151 254
Mạng lớp A dùng cho mạng diện rộng. Trường netid có 7 bits nên có thể có
127 mạng. Mạng lớp B là mạng có kích thước trung bình và thích hợp cho các tổ chức
có quy mô lớp và vừa. Mạng lớp C dùng trong cơ quan nhỏ, trong đó mỗi mạng chỉ có
không hơn 254 nút.
Con số 32 bits biểu thị 4 chữ số thập phân tương ứng giá trị 4 byte tạo thành
địa chỉ IP. Những số thập phân cách nhau bởi dấu chấm (.). Một ví dụ về tên máy và
địa chỉ IP của máy :
Hostname : viethung
IP Address : 192.168.0.55
II.1.1 KHÁI NIỆM SOCKET
Đề tài : Xây dựng ứng dụng truyền thông âm thanh trên mạng cục bộ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Trang 9
Socket là một đơn vị cấu trúc truyền thông 2 chiều. Chúng có thể đọc hay ghi
lên nó. Tuy nhiên mỗi socket là một thành phần của một mối nào đó giữa các máy trên
mạng máy tính và các thao tác đọc ghi chính là các thao tác trao đổi dữ liệu giữa các
ứng dụng trên nhiều máy khác nhau. Socket là điểm kết nối cuối cùng cho phép những
ứng dụng gắn vào mạng. Khái niệm socket được cung cấp bởi một thư viện chứa tất
cả các hàm yêu cầu cho bất kỳ chương trình mạng nào. Khi một ứng dụng yêu cầu các
dịch vụ mạng, nó gọi quá trình tự tập hợp các thư viện để quản lý hoạt động mạng.
Hai loại socket có sẵn stream và datagram.[5]
Những socket stream dùng cho TCP (Transmission Control Protocol), những
socket datagram dùng UDP (User Datagram Protocol). Hình II.3 Các socket và port trong mối nối TCP/IP
160-223 Reserved
Ghi chú :
Trị số của cổng trong các ứng dụng :
- Các ứng dụng chuẩn : 0 – 999
- Các ứng dụng không chuẩn : 1000 – 64000
II.1.2 GIAO THỨC IP
Internet protocol (IP) là một dạng giao thức truyền tin được thiết kế cho mạng
chuyển mạng gói. Vai trò của IP tương đương với vai trò của tầng mạng trong mô
hình OSI. Giao thức IP đảm nhiệm việc chuyển những gói mạch dữ liệu (datagram) từ
địa chỉ nguồn đến địa chỉ đích. Địa chỉ IP có địa chỉ cố định (4 byte) dùng để xác định
duy nhất các trạm làm việc đang tham gia vào việc truyền, nhận dữ liệu. Trong trường
hợp mạng truyền tin chỉ có thể truyền những gói dữ liệu có kích thức nhỏ, giao thức
IP cũng đảm nhiệm chức năng chia nhỏ các gói dữ liệu có kích thước lớn trước khi
truyền và gộp chúng lại chúng sau khi nhận được.[5]
Giao thức IP được thiết kế với chức năng chuyển 1 gói các bit, gọi là internet
datagram từ địa chỉ nguồn đến địa chỉ đích. Đây là một giao thức theo kiểu không liên
kết, nghĩa là không có giai đoạn thiết lập liên kết trước khi truyền dữ liệu, nó cũng
không có các cơ chế bảo đảm thông tin tới đích an toàn, không có cơ chế điều khiển
luồng dữ liệu. Trên thực tế việc thông báo về lỗi đường truyền có thể được thực hiện
nhờ một giao thức khác có tên ICMP( Internet Control Message Protocol).
Địa chỉ IP như đã nói ở trên, là một chuỗi bit có độ dài 4 byte, được phân chia
làm 5 lớp và các bit đầu tiên được dùng làm định danh lớp địa chỉ.
II.2 GIAO THỨC TCP
Đề tài : Xây dựng ứng dụng truyền thông âm thanh trên mạng cục bộ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Trang 11
Giao thức TCP là giao thức dùng cho tầng ngay trên tầng IP. Đối với mô hình
OSI, ta có thể thấy tầng TCP có vai trò tương ứng với các tầng giao vận và tầng
phiên .
Khác với IP, TCP là giao thức có liên kết (connection oriented), nghĩa là nhất
thiết phải có giai đoạn thiết lập liên kết giữ các cặp thực thể TCP trước khi chúng có
Sau khi đã hoàn tất quá trình trao đổi dữ liệu, ứng dụng server gọi hàm
closesocket để đóng socket đã tạo.
Đề tài : Xây dựng ứng dụng truyền thông âm thanh trên mạng cục bộ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Trang 14
Hình II.5 Sơ đồ giao tiếp giữa server với client
II.2.2 CÁCH THỨC CÀI ĐẶT ỨNG DỤNG CLIENT TCP
Ứng dụng client TCP làm việc theo qui trình sau :
- Gọi hàm socket để tạo một socket .
- Gọi hàm connect để nối vào server.
- Gọi hàm gửi hay nhận dữ liệu để trao đổi thông tin với server, ví dụ như
hàm send, recv.
- Sau khi đã hoàn tất quá trình trao đổi dữ liệu, ứng dụng client gọi hàm
closesocket để đóng socket đã tạo.
Đề tài : Xây dựng ứng dụng truyền thông âm thanh trên mạng cục bộ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Trang 15
Hình II.6 Sơ đồ giao tiếp của client với server
Ghi chú:
Các bước trên cơ bản là giống nhau cho các ứng dụng client và server viết trên
Windows NT và UNIX. Tuy nhiên, với ứng dụng viết trên UNIX thì không cần gọi
các hàm WSAStartup, WSACleanup để khởi tạo thư viện quản lý socket và đóng bộ
phận này. Lý do, với UNIX thì bộ phận quản lý socket đã được hệ điều hành nạp sẵn.
II.3 GIAO THỨC UDP
Giao thức UDP cung cấp khả năng broadcast trên hệ thống mạng TCP/IP .
Chúng ta cũng cần cài đặt ứng dụng client và server. Ứng dụng client có nhiệm vụ gửi
thông báo đến tất cả các instance của ứng dụng server đang chạy trên hệ thống mạng.
[5]
II.3.1 CÁCH CÀI ĐẶT ỨNG DỤNG SERVER UDP
Ứng dụng server UDP được cài đặt đơn giản hơn ứng dụng TCP. Chúng ta cần
các bước chính sau đây :
Trong hệ thống xử lý âm thanh, âm thanh được mã hoá PCM. Các mã hoá này
cho phép khôi phục một cách tương đối trung thực tín hiệu âm thanh trong dải tần
nghe được. Tuy nhiên trong một ứng dụng đặc biệt như truyền dữ liệu âm thanh trên
mạng, âm thanh được truyền với tốc độ thấp hơn nhiều. Từ đó xuất hiện một số kỹ
thuật mã hoá và nén tín hiệu âm thanh như ADPCM, LPC, GSM….
Các loại phần mềm và phần cứng thực hiện mã hoá và nén âm thanh sang các
loại dữ liệu số thường được gọi là codec(Coder-Decoder). Có thể phân loại các
phương pháp mã hoá âm thanh thành 3 loại :
Mã hoá dạng sóng(waveform codec) : Giữ nguyên hình dạng nguyên thuỷ của
sóng âm. Phương pháp mã hoá này đòi hỏi tốc độ dữ liệu rất cao nhưng lại cho chất
lượng âm thanh rất tốt. Ưu điểm của bộ mã hoá này là độ phức tạp, giá thành thiết kế,
độ trễ và công suất tiêu thụ thấp. Bộ mã hoá sóng đơn giản nhất là điều biên xung mã
(PCM)…Tuy nhiên nhược điểm của bộ mã hoá là không tạo được âm thanh chất
lượng cao tại tốc độ dưới 16 kbps, bộ mã nguồn khắc phục được nhược điểm này.[4]
Mã hoá nguồn (Source codec) : Cho phép đạt được tốc độ truyền dữ liệu thấp,
có thể thực hiện tại tốc độ bit > 2kbps, nhưng chất lượng âm thanh không cao.
Mã hoá hỗn hợp (hybrid codec) : Sử dụng cả hai phương pháp trên để tạo ra tín
hiệu âm thanh có chất lượng tốt ở tốc độ dữ liệu trung bình.
Đề tài : Xây dựng ứng dụng truyền thông âm thanh trên mạng cục bộ
Rất tốt
Tốt
Trung
bình
Chất lượng tiếng nói
Mã hoá
hỗn hợp
Mã hoá dạng sóng
Mã hoá dự đoán
tuyến tính LPC
thanh không trung thực .
Mã hoá hỗn hợp
Để giải quyết vấn đề của phương pháp mã hoá dạng sóng và của phương pháp
mã hoá dự đoán, một nhóm các phương pháp mã hoá sử dụng phương pháp AbS
(Analysis by Synthesis) để tạo ra mô hình máy phát âm phức tạp hơn. Trong khi
Vocoder sử dụng bộ lọc tuyến tính kích thích bởi chuỗi xung tuần hào hay chuồi nhiễu
trắng để tạo ra âm hữu thanh hay vô thanh, AbS sử dụng một dãy các trạng thái được
lưu trữ trong codebook. Khi xem xét một khung âm thanh, AbS kiểm tra khung đó với
rất nhiều tín hiệu kích thước rồi sẽ chọn tín hiệu nào đưa ra kết quả gần đúng nhất với
âm thanh ban đầu. Bộ giải mã chỉ cần biết chỉ số của xung kích thước đó, sau đó tra
codebook rồi tái tạo lại âm thanh. Một số các tham số khác nhau như năng lượng của
sự kích thích và giá trị chu kỳ cũng cần đến khi giải mã. Các phương pháp mã đi theo
cách này đòi hỏi quá trình tính toán phức tạp, có thể tất cả các mục trong từ điển đều
phải thử để đưa ra giá trị tốt nhất.
Hệ thống thông tin toàn cầu GMS : GSM là mộ chuẩn điện thoại được Viện
Tiêu Chuẩn Viễn Thông Châu Au ETSI để ra. Đầu vào của bộ nén GMS 06.10 bao
gồm các khung 160 mẫu các tín giệu PCM tuyến tính lấy mẫu tại tần số 8 kHz. Chu
kỳ mỗi khung là 20 ms, đây là khoảng thời gian rất ngắn và trong khoảng thời gian
này cho phép được coi tín hiệu âm thanh ổn định. Độ trễ truyền dẫn thông tin được
tính bằng tổng thời gian xử lý và kích thước khung của thuật toán.
Bộ mã hoá thực hiện việc nén một khung tín hiệu đầu vào 160 mẫu (20 ms) vào
một khung 260 bit. Như vậy một giây nó sẽ thực hiện nén được 13.13
3
bit ( tương
đương với 1625 byte). Do vậy để nén một megabyte tín hiệu chỉ cần một thời gian
chưa đầy 10 phút.[4]
Đề tài : Xây dựng ứng dụng truyền thông âm thanh trên mạng cục bộ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Trang 20
Trung tâm của quá trình xử lý tín hiệu là bộ lọc. Đầu ra của bộ lọc phụ thuộc
rất nhiều vào giá trị đầu vào đơn của nó. Khi có một dãy các giá trị đưa qua bộ lọc thì
trong bước b.
Cho bước lượng tử (kí hiêu :
∆
). Nếu số lượng các mức lượng tử rất lớn, người ta giả
sử rằng sai số lượng tử có phân bố đồng nhất như sau :
Đề tài : Xây dựng ứng dụng truyền thông âm thanh trên mạng cục bộ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Trang 21
∆
=
1
)(Ep
, -
22
∆
<≤
∆
E
(1)
Điều này sẽ không đúng nếu tín hiệu là bão hoà bộ lượng tư. Ví du như biểu
diễn hình 1, đầu ra của bộ lượng tử có thể bão hoà tại 5 với tần số đầu và vượt qua số
lượng và mỗi lượng tử trong trường hợp này sẽ là một hàm tăng tuyến tính.[4]
Hình III.2 a.Đặc tuyến lượng tử hoá;b.Đặc tuyết sai số lượng tử; c.VD lượng tử đều
Nếu như ta cho rằng bộ lượng tử không bị bão hoà. Theo công thức (1) thì giá
trị bình phương trung bình của sai số lượng tử là :
∫
∆
−
B
rms
X 2/8=∆
(4)
Từ (3) và (4) ta có :
2,76log10)(
10
−== BSNRdBSNR
(5)
Công thức trên miêu tả rất tốt về PCM với các điều kiện sau :
1.Hệ thống hoạt động với kênh sạch(không nhiễu), chỉ giới hạn về sai số lượng tử( và
không gây ra lỗi các từ mã khi kênh có nhiễu).
2.Tín hiệu đầu vào đủ phức tạp để loại trừ cấu trúc thời gian hiển nhiên trong dạng tín
hiệu lỗi, như vậy biểu diễn tĩnh của lỗi trong 1 được thể hiện đầy đủ.
3.lượng tử hoá đủ mịn(B>6) để ngăn chặn những thành phẩm liên quan đến tín hiệu
trong dạng tín hiệu lỗi, sai số có thể được đo trong biểu thức công suất nhiễu hay là
biến sai số 2.
4.Bộ lượng tử được sắp với thanh biên độ từ (-4Xrms;+4Xrms)
như vậy trong lượng tử đều, cứ thêm 1 bit thì được lợi 6 dB và để có chất lượng thích
hợp thì B >11 do đó thông lượng tương đối lớn.
III.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NÉN TIẾNG NÓI
III.2.1 GIỚI THIỆU CHUNG
Y tưởng nén tiếng nói là để giảm kích thước nhằm giúp ít tốn băng thông
truyền qua mạng. Dòng dữ liệu tiếng nói được giải nén ở tốc độ lấy mẫu mặc định
( 8bits/mẫu, 8 khz, kênh mono) sẽ yêu cầu đường truyền có tốc độ 8000 mẫu/giây * 8
bits/ mẫu = 64 Kbits/giây để truyền dữ liệu qua mạng. Do đó, tùy theo tốc độ đường
Đề tài : Xây dựng ứng dụng truyền thông âm thanh trên mạng cục bộ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Trang 23
Đề tài : Xây dựng ứng dụng truyền thông âm thanh trên mạng cục bộ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Trang 24
III.2.2.2 Phương pháp nén ADPCM
Nguyên tắc :
Là một phương pháp có thể được dùng để nén các khối dữ liệu tiếng nói trước
khi chúng được truyền đến các máy nhận và giải nén chúng để phát lại sau khi được
nhận từ đường truyền.
Hình sau là một giản đồ khối đơn giản của bộ mã hóa và giải mã ADPCM :
Hình III.3 Sơ đồ khối bộ mã hoá và giải mã ADPCM
Bộ mã hóa ADPCM giả sử rằng những mẫu âm thanh kế cận nhau sẽ giống
nhau, vì thế thay vì biểu diễn mỗi mẫu độc lập như PCM. ADPCM tính toán sự chênh
lệch giữa các mẫu âm thanh và giá trị tiên đoán của nó và tạo ra những giá trị vi phân
PCM. Có nhiều giải thuật ADPCM khác nhau được đề nghị. Trong phạm vi luận văn
này em tìm hiểu và ứng dụng giải thuật đưa ra bởi IMA (Interactive Multimedia
Association) .
Giải thuật IMA ADPCM nén những mẫu PCM tuyến tính thành các mức lượng
hóa 4 bits, trong đó mỗi mẫu DPCM được biểu diễn bằng các giá trị âm thanh 16 bits,
do đó giải thuật này cung cấp một tỉ lệ nén là 4:1. Ví dụ tiếng nói 16 bits/mẫu, 8 Khz,
Đề tài : Xây dựng ứng dụng truyền thông âm thanh trên mạng cục bộ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Trang 25
kênh mono yêu cầu tốc độ truyền dữ liệu là 128 Kbits/s , khi nén với giải thuật
IMA_ADPCM chỉ cần tốc độ truyền dữ liệu 32 Kbits/s là đủ.
Quá trình thực hiện của giải thuật IMA_ADPCM là đọc từ những bộ đệm có
giá trị kiểu nguyên và nén chúng thành một mẫu âm thanh 16 bits được biểu diễn bằng
các mức lượng hóa 4 bit. Bởi vì không có giới hạn trong kích thước buffers tiếng nói
nên những mã ADPCM được kết hợp một cách dễ dàng với các phần còn lại của
chương trình để nén tiếng nói khi thu và giải nén trở lại khi phát.
Giải thuật nén IMA ADPCM :
Theo sơ đồ mã hóa trên chúng ta thấy giải thuật IMA ADPCM tính toán sự
chênh lệch giữa mẫu âm thanh hiện tại X[n] và mẫu đã tiên đoán trước Xp[n-1] và sử