SỞ GD ĐT VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT BÌNH SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG VIDEOCLIP TRONG DẠY HỌC
BÀI 5: “VŨ TRỤ. HỆ MẶT TRỜI VÀ TRÁI ĐẤT. HỆ QUẢ
CHUYỂN ĐỘNG TỰ QUAY QUANH TRỤC CỦA TRÁI ĐẤT”
ĐỊA LÍ 10 BAN CƠ BẢN
GV. TRẦN THỊ THU HẰNG
TRƯỜNG . THPT BÌNH SƠN
Sông lô, năm 2011
MỤC LỤC
Trang
ĐỊA LÍ 10 BAN CƠ BẢN
BÀI 5: “VŨ TRỤ. HỆ MẶT TRỜI VÀ TRÁI ĐẤT. HỆ QUẢ CHUYỂN
ĐỘNG TỰ QUAY QUANH TRỤC CỦA TRÁI ĐẤT”
SỬ DỤNG VIDEOCLIP TRONG DẠY HỌC
PHẦN MỞ ĐẦU 8
1.Lí do chọn đề tài 8
Đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề quan trọng hàng đầu trong sự
nghiệp đổi mới giáo dục phổ thông nói chung và dạy học Địa lý nói riêng.
Đặc biệt là trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp
hoá, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 về cơ bản sẽ trở thành một
nước công nghiệp và hội nhập rộng rãi với quốc tế. Nhân tố quyết định đến
sự phát triển của đất nước lúc này chính là con người của thời đại mới. Một
thế hệ con người được phát triển đầy đủ cả về thể chất và trí tuệ. Để đáp ứng
được yêu cầu này ngành giáo dục đào tạo đóng vai trò hết sức quan trọng.
Trước hết là ở vai trò định hướng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo,
sau đó là mục tiêu đổi mới giáo dục ở các cấp để đào tạo ra một thế hệ phù
hợp với sự phát triển của nhân loại 8
Trong điều kiện phát triển của các phương tiện truyền thông, trong bối cảnh
hội nhập, mở rộng giao lưu, học sinh được tiếp cận với nhiều nguồn thông
1.1.1.2. Các loại phương tiện dạy học 11
+ Các phương tiện dạy học truyền thống: là các phương tiện đã được sử
dụng từ lâu đến nay vẫn còn sử dụng như: phòng địa lý, vườn địa lý, quả cầu
địa lý, bản đồ địa lý, tranh ảnh địa lý, các mô hình, các mẫu vật 12
Videoclip 12
1.1.2.1. Khái niệm videoclip 12
1.1.2.2. Các loại băng video 12
1.1.2.3. Vai trò của videoclip 13
1.2.Cơ sở thực tiễn 15
Đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông 15
Thực trạng của việc sản xuất và sử dụng videoclip trong dạy học 16
1.3.Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 10 17
Chương 2 18
PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG VIDEOCLIP TRONG 18
DẠY HỌC BÀI 5: “VŨ TRỤ. HỆ MẶT TRỜI VÀ TRÁI ĐẤT. HỆ QUẢ
CHUYỂN ĐỘNG TỰ QUAY QUANH TRỤC CỦA TRÁI ĐẤT” ĐỊA LÍ
10 BAN CƠ BẢN 18
2.1. Chương trình và sách giáo khoa Địa lí 10 18
2.1.1. Chương trình Địa lí 10 18
2.1.2. Sách giáo khoa Địa lí 10 19
2.2. Sử dụng videoclip trong dạy học Bài 5: “Vũ trụ. Hệ Mặt Trời và trái
đất. Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất” Địa lí 10 ban
cơ bản 19
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã sưu tầm được một số videoclip để
phục vụ cho việc giảng dạy Địa lí 10. Qua sáng kiến này tôi xin giới thiệu
những videoclip đó và ứng dụng của chúng vào từng bài cụ thể theo ý
kiến chủ quan của mình 19
Bảng : Giới thiệu một số videoclip trong dạy học Bài 5: “Vũ trụ. Hệ Mặt
Trời và trái đất. Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất”
Địa lí 10 19
videoclip dưới sự hướng dẫn của giáo viên 37
Qua quá trình nghiên cứu về việc sử dụng videoclip trong dạy học Bài 5:
“Vũ trụ. Hệ Mặt Trời và trái đất. Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục
của Trái Đất” Địa lí 10 – ban cơ bản, tôi có một số kiến nghị sau: 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VIẾT ĐẦY ĐỦ VIẾT TẮT
Giáo viên GV
Học sinh HS
Trung học phổ thông THPT
Thực nghiệm TN
Đối chứng ĐC
Kinh tế- xã hội KT- XH
Lí thuyết LT
Thực hành TH
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề quan trọng hàng đầu trong sự
nghiệp đổi mới giáo dục phổ thông nói chung và dạy học Địa lý nói riêng. Đặc
biệt là trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá,
hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 về cơ bản sẽ trở thành một nước công
nghiệp và hội nhập rộng rãi với quốc tế. Nhân tố quyết định đến sự phát triển
của đất nước lúc này chính là con người của thời đại mới. Một thế hệ con
người được phát triển đầy đủ cả về thể chất và trí tuệ. Để đáp ứng được yêu
cầu này ngành giáo dục đào tạo đóng vai trò hết sức quan trọng. Trước hết là ở
vai trò định hướng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, sau đó là mục tiêu
đổi mới giáo dục ở các cấp để đào tạo ra một thế hệ phù hợp với sự phát triển
của nhân loại.
Trong điều kiện phát triển của các phương tiện truyền thông, trong bối
cảnh hội nhập, mở rộng giao lưu, học sinh được tiếp cận với nhiều nguồn thông
những năm 1970, kĩ thuật video ra đời đã cung cấp cho giáo dục một phương tiện
dạy học tiện lợi hơn và video dần dần đã thay chỗ cho các loại phim ảnh khác nhờ
vào tính năng ưu việt của nó.
Ở nước ta, videoclip được đưa vào dạy học từ khá sớm nhưng việc nghiên
cứu một cách tổng thể video và phương pháp sử dụng video còn rất ít. Hầu hết
video chỉ được nghiên cứu cùng với các phương tiện dạy học khác. Tuy nhiên,
phần phương pháp sử dụng video hầu hết vẫn mang tính chất khái quát và định
hướng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Phân tích hệ thống kiến thức, kĩ năng sách giáo khoa Địa lí 10 để thấy
được những đặc điểm về kiến thức và kĩ năng cơ bản trong dạy học Địa lí (cả
người dạy và người học).
- Sử dụng một số videoclip trong dạy học Bài 5: “Vũ trụ. Hệ Mặt Trời và
trái đất. Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất” Địa lí 10 -
Ban cơ bản” nhằm nâng cao hiệu quả dạy học chương trình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Sử dụng các phương tiện dạy nói chung và video nói riêng trong quá trình dạy học.
- Sưu tầm các băng video phục vụ cho việc dạy học Địa lí 10.
- Lựa chọn các bài dạy có sử dụng băng video và tổ chức thực nghiệm.
4. Giới hạn nghiên cứu đề tài
- Đề tài tập trung nghiên cứu phương pháp sử dụng một số loại băng
khác nhau trong dạy học Địa lí 10.
- Đề tài sử dụng video trong dạy loại bài kiến thức mới trong chương trình Địa lí 10.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thực nghiệm
- Phân loại phương tiện dạy học theo hình thức gồm:
+ Các phương tiện làm mẫu khi học như giáo cụ trực quan.
+ Các phương tiện để tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào nội dung bài
giảng.
- Phân loại theo chức năng gồm:
+ Các phương tiện truyền tin: cung cấp cho các giác quan của học sinh
nguồn thông tin dưới dạng tiếng hoặc hình ảnh hoặc cả hai cung một lúc như
máy chiếu hình, máy chiếu hình đục, máy chiếu qua đầu, máy chiếu slide, máy
chiếu phim, video, máy tính.
+ Các phương tiện mang tin: tự bản thân mỗi phương tiện đều chứa đựng
một dung lượng thông tin nhất định gồm có: các tài liệu in, sách giáo khoa, tài
liệu tham khảo.
- Phân loại theo tính chất của phương tiện gồm :
+ Các phương tiện tĩnh: bao gồm các tài liệu, tranh ảnh, sách báo, máy
chiếu hình đục, máy chiếu qua đầu, máy chiếu slide.
B
M
A
B
M
A
B
M
A
+ Các phương tiện động: máy chiếu phim, video, máy tính.
- Phân loại theo mục đích phục vụ cho các cấp học, các đối tượng học sinh
gồm:
+ Băng video dành cho trẻ em mẫu giáo.
+ Băng video dùng cho trường phổ thông.
+ Băng video dùng cho đại học.
Với những tính năng ưu việt, video có vai trò rất quan trọng trong quá
trình dạy học nói chung và dạy học địa lý nói riêng, biểu hiện ở các mặt sau:
- Video giúp học sinh nắm vững kiến thức và ghi nhớ kiến thức lâu bền
Khác với những phương tiện dạy học khác, video có khả năng trình bày
nội dung bài học bằng hình thức hình ảnh kết hợp với âm thanh theo một trình
tự liên kết hữu cơ. Toàn bộ nội dung bài học được truyền tải một cách sinh
động qua hiệu ứng âm thanh tạo cho học sinh hứng thú học tập. Không những
thế, học sinh còn hiểu được toàn bộ quá trình phát sinh và phát triển của các sự
vật hiện tượng.
Tỉ lệ tiếp nhận kiến thức từ ngoài vào bộ não con người qua nghe và nhìn
là lớn nhất, chiếm 94%. Người ta cũng tổng kết được mức độ ghi nhớ kiến thức
bằng các con đường cảm giác khác Thính giác và thị giác chiếm tới 50%
Hiện nay, video được đánh giá khá cao trong dạy học địa lí nói riêng và trong
các bộ môn khác nói chung được nêu trong sơ đồ sau
Hiệu quả sử dụng của các loại phương tiện dạy học
- Video giúp học sinh quan sát các hiện tượng và quá trình địa lý một cách toàn
diện.
Nhờ video, học sinh có thể quan sát gián tiếp được những đối tượng, hiện
tượng địa lý không thể quan sát được do kích thước quá nhỏ hoặc quá lớn, học
sinh có thể tiếp cận được với những đối tượng, hiện tượng phân bố ở những nơi rất
xa. Nhờ kỹ thuật quay của video, học sinh có thể quan sát được cả những hiện
LỜI
BẢNG
PHẤN
SLIDE
PHIM VÒNG
HÌNH CHIẾU QUA ĐẦU
PHIM ẢNH
VIDEO
ĐA PHƯƠNG TIỆN (MULTINEDIA)
Địa lí nói riêng. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận vai trò hết
sức quan trọng của các phương tiện dạy học khác. Bởi không phải mọi phương
tiện dạy học đều có tác dụng như nhau đối với cùng một bài giảng. Việc tìm
hiểu kĩ nội dung bài học và lựa chọn các phương tiện dạy học phù hợp là việc
làm rất quan trọng và cần thiết đối với giáo viên.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông
Hiện nay, các nhà giáo dục thường đề cập đến sự cần thiết phải chuyển từ
“dạy học lấy giáo viên làm trung tâm” sang “dạy học lấy học sinh làm trung tâm”.
Có thể xem đây là một quan điểm, một cách tiếp cận mới về phương pháp dạy học
nhấn mạnh vai trò của người học trong quá trình lĩnh hội tri thức. Quan điểm này
cũng mở ra một trang mới cho nền giáo dục nước ta.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần hiểu đổi mới phương pháp dạy học có nghĩa
là tổ chức dạy học theo lối mới, tạo lập cho quá trình dạy học những điều kiện,
những giá trị mới, tạo cho học sinh một vị thế mới và những tiền đề mới, những
điều kiện thuận lợi để hoạt động học tập diễn ra tốt nhất. Cũng cần phải hiểu
thêm rằng đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương
pháp dạy học hiện có, thay vào đó các phương pháp dạy học mới mà phải kế
thừa, phát triển những mặt tích cực của các phương pháp dạy học truyền thống,
đồng thời học hỏi vận dụng một số phương pháp dạy học mới phù hợp với hoàn
cảnh, điều kiện dạy học của nước ta hiện nay. Vấn đề quan trọng đòi hỏi giáo viên
phải quan tâm đó là phải tìm cách vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học để
vừa phát huy được những mặt tích cực của từng phương tiện dạy học, vừa tạo được
hứng thú học tập cho học sinh. Từ đó phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của học sinh trong học tập.
Là một môn học trong hệ thống giáo dục Việt Nam, bộ môn Địa lý cũng
có lịch sử phát triển đồng hành với sự phát triển của giáo dục nước ta. Có thể
nêu một bức tranh chung trong việc dạy học địa lý hiện nay như sau: đa số giáo
viên vẫn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽ hỏi đáp,
nặng về thông báo, giảng giải kiến thức, nhẹ về phát huy tính tích cực và phát
bộ của các sở và ngành giáo dục. Có thể thấy một nghịch lý là video thì có nhưng
thiết bị trình chiếu lại không hoặc ngược lại. Cũng có trường được trang bị đủ cả
hai phương tiện trên nhưng lại thiếu giáo viên biết sử dụng phương tiện. Chính
những nguyên nhân khách quan trên đã gây ảnh hưởng không nhỏ cho việc sử
dụng video trong dạy học địa lý nói chung và các bộ môn khác nói riêng.
- Về sử dụng video
Trong các phương tiện kĩ thuật dùng để dạy học Địa lý hiện nay, băng
hình đã bắt đầu được sử dụng ở nước ta trong một số trường phổ thông có điều
kiện (có đầu máy chiếu băng, máy vi tính, mạng lưới điện). Tuy nhiên, vì nhiều
lí do khách quan (như cơ sở vật chất) và chủ quan (ý thức của giáo viên) mức
độ sử dụng video trong dạy học địa lý cũng còn nhiều hạn chế.
Sử dụng video trong tiết học sẽ làm cho bài giảng sinh động, thu hút
được sự chú ý của học sinh và tiết kiệm được thời gian lên lớp. Tuy nhiên,
video chỉ mới được sử dụng như một phương tiện trực quan, có tính chất minh
hoạ thay cho lời thuyết giảng của giáo viên.
1.3. Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 10
Khác với học sinh THCS, học sinh THPT đã có sư phát triển về mọi mặt, cả
về thể chất và tâm lý. Đặc biệt là các em có sự thay đổi lớn lao trong tâm lý và
trình độ nhận thức. Sự thay đổi lớn lao này có thể thấy rõ nhất ở học sinh lớp 10
vì đây là giai đoạn chuyển tiếp từ bậc THCS sang THPT.
Thái độ của các em với các môn học trở nên có tính lựa chọn hơn. Mỗi em đều
có một môn học mà mình yêu thích. Đó chính là lúc hứng thú học tập của các em
được hình thành. Đến cuối bậc trung học phổ thông thì các em đã xác định cho
mình một hứng thú ổn định với một môn học nhất định. Sự khác biệt giữa hứng thú
của học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông cũng thể hiện rất rõ ở
chỗ: hứng thú của học sinh trung học phổ thông mang tính rộng rãi sâu và bền hơn.
Đây chính là nhân tố quan trọng quyết định tới khuynh hướng lựa chọn nghề
nghiệp sau này của các em.
Khả năng tri giác có mục đích của các em cũng đạt tới mức rất cao. Sự
quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn trước rất nhiều. Vì
bản. Nội dung chương trình địa lí 10 ban cơ bản gồm những điểm như sau:
- Về mặt kiến thức: chương trình địa lí lớp 10 ban cơ bản được cấu tạo bởi
2 phần kiến thức đại cương về địa lí tự nhiên và địa lí KT- XH.
Trình tự thực hiện trước hết là phần địa lí tự nhiên đại cương rồi sau đó
mới đến phần địa lí KT- XH đại cương.
- Về nội dung chương trình: So với chương trình địa lí lớp 10 từ trước
năm 2005- 2006 trở về trước, chương trình địa lí lớp 10 sau năm 2005- 2006,
hoàn thiện hơn, khoa học hơn và cập nhật hơn. Điều đó được thể hiện ở các
điểm cơ bản sau:
+ Bổ sung toàn bộ kiến thức cơ bản về Địa lí tự nhiên đại cương cho
tương xứng với phần Địa lí KT- XH đại cương. Đây có thể được coi là những
kiến thức mới và khó đối với cả giáo viên và học sinh.
+ Ngay trong bản thân phần địa lí KT- XH đại cương, mặc dù có sự kế
thừa của chương trình Địa lí lớp 10 đại trà, nhưng được bổ sung, hoàn thiện
hơn để chương trình trở nên khoa học và cập nhật hơn.
2.1.2. Sách giáo khoa Địa lí 10
Về cấu trúc, nội dung sách giáo khoa Địa lí lớp 10 gồm 2 phần: phần Địa lí tự
nhiên và phần Địa lí kinh tế - xã hội.
* Phần Địa lí tự nhiên ban cơ bản gồm 4 chương, 21 bài (trong đó riêng
bài 9 là 2 tiết, còn lại các bài đều 1 tiết), bao gồm 18 bài lí thuyết và 3 bài thực
hành).
* Phần Địa lí KT- XH ban cơ bản gồm 6 chương, 21 bài (trong đó có 17 bài lí
thuyết và 4 bài thực hành).
2.2. Sử dụng videoclip trong dạy học Bài 5: “Vũ trụ. Hệ Mặt Trời và trái
đất. Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất” Địa lí 10 ban
cơ bản.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã sưu tầm được một số videoclip để phục
vụ cho việc giảng dạy Địa lí 10. Qua sáng kiến này tôi xin giới thiệu
những videoclip đó và ứng dụng của chúng vào từng bài cụ thể theo ý kiến
chủ quan của mình.
đêm
2.Giờ trên Trái đất và
đường chuyển ngày
quốc tế
III. Mở rộng
Trời”
- Video “Hiện tượng
luân phiên ngày-
đêm”
- Video “Múi giờ trên
Trái đất”
- Video mở rộng
+ “ Sao Bắc đẩu”
+ “ Sao Chổi”
+ “Hiện tượng nguyệt
thực”
+ “ Hiện tượng nhật
thực”
+ “ Thám hiểm hệ
Mặt Trời- phần 1, 2, 3,
4, 5”
du.vn
- CLB Thiên văn ĐHSP Hà
Nội, Phim khoa học “ Bầu
trời và mặt đất”
(www.vatlysupham.hnue.edu.
vn
- CLB Thiên văn ĐHSP Hà
- Củng cố kiến thức
Hiện nay, trong các tiết học Địa lí, giáo viên thường sử dụng video
trong khâu truyền thụ kiến thức mới hoặc củng cố kiến thức mà ít sử dụng
trong các khâu còn lại. Theo quan điểm trên thì việc sử dụng video không
chỉ dành cho một khâu duy nhất mà được sử dụng trong tất cả các khâu của
quá trình dạy học. Tuy nhiên, tuỳ vào nội dung, mục đích và thời gian cho
phép mà giáo viên tiến hành việc sử dụng video sao cho có hiệu quả nhất.
-Sử dụng phối hợp video với các phương tiện dạy học khác
Video là một loại phương tiện nghe nhìn hiện đại với nhiều tính năng
phong phú, mang lại hiệu quả cao trong quá trình sử dụng. Tuy nhiên, trong
quá trình dạy học, giáo viên không nên chỉ sử dụng video bởi dễ gây nên nhàm
chán và đôi khi mất nhiều thời gian để chiếu và xem phim. Vì vậy, chúng ta
không thể và không nên lạm dụng quá mức video trong khi dạy học. Trước khi
sử dụng, giáo viên cần lựa chọn kĩ lưỡng các phương tiện dạy học để sao cho phù
hợp với mục tiêu sư phạm và nội dung kiến thức cần truyền đạt.
Ngoài ra, việc sử dụng kết hợp các phương tiện dạy học sẽ đem lại hiệu quả cao
hơn nhiều so với việc chỉ sử dụng một loại phương tiện dạy học. Giáo viên có thể
phát huy được những ưu điểm và hạn chế được những khuyết điểm của những
phương tiện dạy học.
2.2.2. Các bước chuẩn bị bài học có sử dụng videoclip
Các bước chuẩn bị bài học có sử dụng video được nêu trong sơ đồ sau.
Sơ đồ: Các bước chuẩn bị bài học có sử dụng video
Nội dung các bước được cụ thể hoá như sau:
* Bước 1: Xác định mục tiêu
Để xác định mục tiêu bài học một cách nhanh nhất và chính xác nhất giáo
viên phải nắm vững cấu trúc chương trình, nội dung bài học. Qua đó, bài giảng
của giáo viên khoa học hơn, cô đọng hơn và điều quan trọng là học sinh biết được
mình cần nắm được những gì qua bài học đó. Nó giúp giáo viên không lan man,
dàn trải hay đi sâu phân tích những đối tượng ít liên quan đến bài học. Còn đối
với học sinh, việc xác định mục tiêu bài học ngay từ đầu , giúp các em tập trung
Mô tả các hoạt động theo không
gian, thời gian có sử dụng video
2.2.3. Quy trình sử dụng videoclip trong dạy học Địa lí 10
Quy trình sử dụng video trong dạy học địa lí lớp 10 được nêu trong Bảng
Bảng : Quy trình sử dụng video trong dạy học địa lí 10
Thầy- tác nhân Trò- chủ thể Sản phẩm
Bước Hướng dẫn Tự nghiên cứu Sản phẩm
học
1
- Giới thiệu vấn đề (mục
tiêu, ý nghĩa, định hướng)
- Hướng dẫn cách thu
nhận thông tin từ băng
video
- Hướng dẫn cách xử lí
thông tin
- Hướng dẫn cách giải
quyết vấn đề
- Tạo điều kiện thuận lợi
cho học sinh tự nghiên cứu
- Nhận biết vấn đề (mục
tiêu, ý nghĩa, định
hướng).
- Thu nhận thông tin từ
băng video
- Xử lí thông tin
- Xây dựng các gíải pháp
- Ghi lại kết quả nghiên
cứu
Sản phẩm học
phẩm học ban
đầu
Bước Cố vấn Tự kiểm tra, tự điều
chỉnh
3
- Giúp đỡ học sinh tự
kiểm tra, tự đánh giá, tự
kết luận
- Cung cấp thông tin liên
hệ ngược và sản phẩm
học
- Giúp đỡ học sinh tự rút
kinh nghiệm về cách đọc
- So sánh, đối chiếu, tự
kiểm tra lại sản phẩm học
ban đầu
- Tự đánh giá, tự điều
chỉnh
- Hoàn chỉnh sản phẩm
học ban đầu
- Rút kinh nghiệm về
cách học, cách ứng xử
Sản phẩm học
là tri thức
khoa học mới
Chương 3
THỰC NGHIỆM
3.1. Mục đích, nguyên tắc và phương pháp thực nghiệm
3.1.1. Mục đích thực nghiệm
Trong đề tài thực nghiệm sư phạm được tiến hành nhằm kiểm nghiệm tính
3.2.1.2. Chọn lớp thực nghiệm
Tại trường THPT Bình Sơn tôi chọn 1 lớp thực nghiệm và 1 lớp đối
chứng. Các lớp được chọn phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Trình độ học lực và hạnh kiểm giữa hai lớp không có sự chênh lệch
đáng kể.
- Sĩ số học sinh giữa hai lớp tương đương nhau.
- Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ thực nghiệm giữa hai lớp tương đương
nhau.
* Chọn giáo viên thực nghiệm
Để đảm bảo tính ổn định tôi chọn ở trường THPT Bình Sơn 3 giáo viên
trực tiếp giảng dạy ở 6 lớp khác nhau, 3 lớp thực nghiệm và 3 lớp đối chứng.
3.2.2. Tổ chức thực nghiệm
Công tác thực nghiệm được tổ chức đôi với 3 giáo viên dạy ở 6 lớp khác
nhau Lớp thực nghiệm có sử dụng video theo giáo án do tôi thiết kế, lớp đối
chứng sử dụng phương pháp dạy học truyền thống theo giáo án của giáo viên.
* Bài thực nghiệm: Bài 5: “Vũ trụ. Hệ Mặt Trời và trái đất. Hệ quả chuyển
động tự quay quanh trục của Trái Đất”
I . MỤC TIÊU
1. Về kiến thức
- Biết được vũ trụ là vô cùng rộng lớn. Hệ Mặt Trời trong đó Trái Đất chỉ là
một bộ phận nhỏ của vũ trụ.
- Hiểu và trình bày được khái quát về Hệ Mặt Trời, vị trí và các vận động của
Trái Đất trong Hệ Mặt Trời.
- Trình bày và giải thích được các hiện tượng luân phiên ngày đêm, giờ trên
Trái Đất, sự lệch hướng chuyển động của các vật thể ở trên bề mặt Trái Đất.
2. Về kĩ năng
- Biết sử dụng tranh ảnh, hình vẽ, mô hình để trình bày và giải thích các hệ quả
của chuyển động tự quay của Trái Đất.
- Khai thác tri thức từ videoclip.
3. Về thái độ, hành vi