TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU NHẬT BẢN
TS. VŨ VĂN HÀ (Chủ biên)
ĐIỀU CHỈNH
CƠ CẤU KINH TẾ NHẬT BẢN
TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA
NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
Hà Nội - 2003
1
MỤC LỤC
CHƯƠNG I ......................................................................................................................... 7
ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU NGÀNH .................................................................................... 7
I. CƠ CẤU NGÀNH VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐIỀU CHỈNH CƠ
CẤU NGÀNH Ở NHẬT BẢN HIỆN NAY ...................................................................... 7
1. Cơ cấu ngành và các giai đoạn điều chỉnh cơ cấu từ sau Chiến tranh thế giới thứ
hai đến nay ...................................................................................................................... 7
2. Những yếu tố chủ yếu tác động đến sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế từ đầu thập niên
90 đến nay ..................................................................................................................... 14
II. NHỮNG THAY ĐỔI CHỦ YẾU VỀ CƠ CẤU NGÀNH XÉT TRÊN PHƯƠNG
DIỆN VĨ MÔ .................................................................................................................... 24
1. Sự thay đổi về tỷ trọng của các ngành trong nền kinh tế .................................... 25
2. Sự thay đổi về cơ cấu giá trị sản lượng của các ngành ....................................... 30
3. Sự thay đổi về cơ cấu lao động của các ngành .................................................... 35
III. NHỮNG THAY ĐỔI CƠ CẤU TRONG NỘI BỘ MỘT SỐ NGÀNH KINH TẾ
CỤ THỂ ............................................................................................................................ 41
1. Sự ra đời và phát triển của các ngành kinh doanh mới ....................................... 41
2. Điều chỉnh quy mô và nâng cao hiệu quả của các ngành hiện có ....................... 56
CHƯƠNG 2 ...................................................................................................................... 69
ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG ..................................................................... 69
I. NHỮNG YẾU TỐ CHỦ YẾU THÚC ĐẨY SỰ ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU KINH TẾ
VÙNG ............................................................................................................................... 69
NHỮNG NĂM TỚI ....................................................................................................... 145
1. Nhân tố bên ngoài .............................................................................................. 145
2. Nhân tố bên trong ............................................................................................... 152
3. Điều chỉnh cơ cấu là nhằm nâng cao sức mạnh cạnh tranh lớn hơn của nền kinh tế
..................................................................................................................................... 155
II. ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU KINH TẾ Ở NHẬT BẢN TRONG THỜI GIAN TỚI .... 156
1. Điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngành ........................................................................ 157
2. Xu hướng điều chỉnh cơ cấu vùng ..................................................................... 163
3. Điều chỉnh cơ cấu doanh nghiệp ........................................................................ 174
KẾT LUẬN .................................................................................................................... 183
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 190
3
LỜI NÓI ĐẦU
Dưới tác động của cách mạng khoa học - công nghệ, nhất là công
nghệ thông tin, từ cuối những năm 1980 của thế kỷ XX, quá trình toàn
cầu hoá kinh tế gia tăng mạnh mẽ đã ảnh hưởng đến chiều hướng phát
triển kinh tế của mọi quốc gia. Trong bối cảnh này các quốc gia đều có sự
điều chỉnh cơ cấu kinh tế nhằm tranh thủ cơ hội đồng thời cố gắng vượt
qua những thách thức do toàn cầu hoá đặt ra. Trong suốt hơn một thập kỷ
vừa qua, nền kinh tế Nhật Bản cũng đã có những điều chỉnh cơ cấu theo
hướng tự do hoá, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu.
Có thể thấy từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai tới nay, nền kinh
tế Nhật Bản trải qua không dưới bốn lần điều chỉnh cơ cấu, lần đầu là thời
kỳ ngay sau chiến tranh, thực hiện điều chỉnh cơ cấu từ thời chiến sang
thời bình với việc thúc đẩy mạnh tiến trình khôi phục các ngành công
nghiệp bị sa sút trong chiến tranh. Lần thứ hai là thời kỳ tăng trường cao,
tập trung phát triển công nghiệp nặng và hoá chất ở một số vùng kinh tế
trọng điểm. Tiếp đó là thời kỳ sau các cuộc khủng hoảng dầu mỏ, chú
trọng phát triển những ngành ít tiêu hao nguyên, nhiên liệu theo hướng
tạo ra các sản phẩm nhỏ và nhẹ. Và hiện nay đang trong quá trình điều
Với lý do đó, nhóm cán bộ của Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản đã
tiến hành nghiên cứu vấn đề “Điều chỉnh cơ cấu kinh tế Nhật bản trong
bối cảnh toàn cầu hóa”, nhằm làm rõ xu hướng điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Nhật Bản hiện nay cùng những yếu tố chi phối quá trình này, từ đó đưa ra
những dự báo và đánh giá tác động của chính sự điều chỉnh kinh tế Nhật
tới Việt Nam.
Việc tiếp cận phân tích cơ cấu kinh tế của một quốc gia có nhiều
cách khác nhau, có thể nhìn dưới góc độ cung - cầu, có thể xem xét trong
5
quan hệ nhà nước - thị trường, v.v… Ở đây các tác giả nhìn dưới góc độ
ngành và khu vực, một nền kinh tế bao gồm những phân ngành và khu
vực, với tỷ lệ ra sao, động hướng của chúng thế nào v.v...
Kết cấu cuốn sách gồm 4 chương. Chương 1 đề cập đến điều chỉnh
cơ cấu ngành; chương 2 - điều chỉnh cơ cấu vùng; chương 3 - điều chỉnh
cơ cấu công ty ở cả khu vực công và tư; và cuối cùng là chương 4 - dự
báo xu hướng điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong thời gian tới. Nội dung các
vấn đề được đề cập chủ yếu từ đầu những năm 90 lại đây, tuy nhiên khi
phân tích, đánh giá chúng tôi có đề cập ở mức độ nhất định đến các giai
đoạn trước. Trong khi trình bày chúng tôi không tách một chương riêng
về các yếu tố quy định sự điều chỉnh cơ cấu, mà trình bày gắn với từng
chương, như vậy cho phép làm rõ hơn sự tác động của các yếu tố đến
từng khu vực cụ thể.
Có thể nói đây là vấn đề rộng lớn, bao quát thời gian khá dài, do
vậy trong khi phân tích sẽ khó tránh khỏi những hạn chế nhất định, chúng
tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng.
Hà Nội, ngày 29 tháng 7 năm 2002
Tập thể tác giả
6
CHƯƠNG I
ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU NGÀNH
nhóm theo 3 khu vực, 13 khu vực, và 32 khu vực theo thống kê chính
thức của Nhật Bản.
Bảng 1: Cơ cấu ngành của nền kinh tế phân nhóm theo khu vực
1
PHÂN LOẠI THEO 3
KHU VỰC
PHÂN LOẠI THEO 13 KHU VỰC PHÂN LOẠI THEO 32 KHU VỰC
1. Khu vực I
1. Nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp
2. Khai khoáng
1. Nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp
2. Khai khoáng
2. Khu vực II
3. Công nghiệp chế tạo
3. Chế biến lương thực
4. Các ngành dệt
5. Các ngành sản xuất bột giấy, giấy, và gỗ
6. Các ngành hóa chất
7. Các ngành sản xuất dầu mỏ và than
8. Các ngành sản xuất gốm, đá và đất sét
9. Các ngành sản xuất sắt và thép
10. Các ngành sản xuất kim loại màu
11. Các ngành chế tạo sản phẩm kim loại
12. Các ngành chế tạo máy móc chung
13. Các ngành chế tạo điện máy
14. Các ngành sản xuất thiết bị vận tải
15. Các ngành sản xuất công cụ chính xác
16. Các ngành sản xuất sản phẩm khác
4. Xây dựng 17. Xây dựng
8
dịch cơ cấu kinh tế ngành của Nhật Bản có thể kể đến là: Sự phục hồi
kinh tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1955); Việc hoàn thành kế hoạch
10 năm tăng gấp đôi thu nhập quốc dân (1960 - 1970); Các cuộc khủng
hoảng tiền tệ thế giới (1971), khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất (1973 -
9
1975) và thứ hai (1979 - 1980); Sự lên giá mạnh của đồng Yên sau Hiệp
ước Plaza (1985) và đặc biệt là trong những năm 1990 với sự sụp đổ của
nền kinh tế bong bóng đã làm cho nền kinh tế Nhật Bản lâm vào tình
trạng suy thoái nghiêm trọng và kéo dài. Sau đây, chúng tôi xin điểm lại
một số nội dung chủ yếu của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của
Nhật Bản.
Thứ nhất, ở giai đoạn phục hồi kinh tế sau Chiến tranh thế giới thứ
hai (1945 - 1955), nhiệm vụ hàng đầu của chính phủ Nhật Bản lúc đó là
phải khôi phục lại nền kinh tế. Tuy nhiên, trong những năm đầu sau chiến
tranh, mọi hoạt động của Chính phủ Nhật Bản đều bị đặt dưới sự kiểm
soát của quân Đồng minh, mà chủ yếu là của Mỹ. Chỉ đến khi cuộc chiến
tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô diễn ra ngày càng gay gắt, và tiếp sau đó
là sự bùng nổ của cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953), các chính
sách của Mỹ đối với Nhật Bản mới thực sự thay đổi. Từ chỗ kiềm chế
Nhật Bản, Mỹ đã ngày càng nỗ lực trong việc giúp đỡ Nhật Bản khôi
phục kinh tế (kể cả việc gánh vác mọi chi phí quân sự cho Nhật Bản) với
mong muốn biến Nhật Bản trở thành một đồng minh của Mỹ, một đầu
cầu chiến lược quan trọng của Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Trong điều kiện vô cùng thuận lợi đó, Chính phủ Nhật Bản đã tích cực
đẩy mạnh công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế. Chính sách thay thế
nhập khẩu là một trong những chính sách chủ yếu đã được thực hiện ở
Nhật Bản trong giai đoạn này.
Chính sách thay thế nhập khẩu trước hết được bắt đầu bằng việc
lựa chọn các ngành có khả năng tạo ra lợi thế so sánh mới để khuyến
khích phát triển ở trong nước thay thế cho hàng nhập khẩu. Chính phủ
những hậu quả do các cuộc khủng hoảng tiền tệ và năng lượng thế giới
gây ra nhằm hạn chế đến mức thấp nhất sự thua thiệt của các ngành công
11
nghiệp suy thoái đã bị mất lợi thế cạnh tranh do giá cả của đầu vào gia
tăng đồng thời hướng, nền kinh tế đi vào khai thác những lĩnh vực có khả
năng tạo ra lợi thế so sánh mới.
Sau cú sốc Nixon và những cú sốc dầu mỏ, các ngành công nghiệp
xuất khẩu hàng đầu của Nhật Bản trong những năm 60 đã mất lợi thế do
giá thành sản xuất tăng và lâm vào tình trạng suy thoái. Để thúc đẩy việc
cải tổ cơ cấu kinh tế theo chiều hướng tích cực và tạo điều kiện cho các
công ty tư nhân có thể tiếp tục phát huy được các khả năng của chúng,
Chính phủ Nhật Bản đã ban hành hàng loạt các điều luật và chính sách để
chỉ đạo và khuyến khích chúng giảm công suất sản xuất và chuyển sang
những hoạt động kinh doanh khác. Sự chỉ đạo chuyển hướng cơ cấu công
nghiệp của Nhật Bản trong thời kỳ này về cơ bản là chuyển dịch từ các
ngành đã mất lợi thế so sánh (có đặc trưng là nặng và lớn (Heavy & Big -
H&B) như sắt thép, đóng tàu, v.v.) sang các ngành có thể tạo ra những lợi
thế so sánh mới (có đặc trưng là nhẹ và nhỏ (Light & Small - L&S) như
chế tạo máy, ô tô, điện tử, v.v.).
Các chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở trên đã có tác động
quan trọng đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế của Nhật Bản, đặc biệt là những
thay đổi diễn ra trong nội bộ các ngành công nghiệp và các công ty. Sự
thay đổi cơ cấu này thường được miêu tả như những thay đổi từ “nặng,
dầy, dài, và to” sang “nhẹ, mỏng, ngắn và nhỏ”. Điều này cho thấy sự
chuyển dịch mạnh mẽ trong sản xuất từ các ngành H&B như kim loại cơ
bản sang các ngành L&S như các thiết bị văn phòng, đồ dùng gia đình và
dịch vụ.
Việc chuyển dịch theo hướng L&S thể hiện rõ ràng nhất trong sự
mở rộng của các ngành công nghiệp chế tạo máy và các ngành dịch vụ.
Do không phải chịu những ảnh hưởng bất lợi khi giá năng lượng tăng như
13
đến quý I - 1991, sự thịnh vượng kinh tế lại tiếp tục, đánh dấu một giai
đoạn tăng trưởng dài nhất và cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần
thứ nhất. Cùng với điều này đã xuất hiện cái gọi là nền kinh tế “bong
bóng” mà đặc trưng cơ bản là sự tăng giá đất đai và bất động sản.
Sau sự đổ vỡ của nền kinh tế bong bóng vào đầu những năm 1990,
Nhật Bản đã trải qua một thời kỳ suy thoái dài nhất và nghiêm trọng nhất
kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Sự trì trệ đáng lo ngại của nền kinh
tế trong thời kỳ này đã buộc chính phủ cũng như các công ty Nhật Bản
phải tiến hành điều chỉnh mạnh mẽ cơ cấu của nền kinh tế.
2. Những yếu tố chủ yếu tác động đến sự điều chỉnh cơ cấu
kinh tế từ đầu thập niên 90 đến nay
a. Bối cảnh quốc tế và khu vực:
Bước vào thập niên 90, sau khi Liên Xô bị tan rã, xu thế hoà bình
và phát triển đã trở thành chủ đề chính của thời đại. Hình thức chủ yếu
của cạnh tranh quốc tế đã chuyển từ chạy đua vũ trang thời kỳ chiến tranh
lạnh sang cạnh tranh kinh tế. Có thể nói rằng dưới tác động của toàn cầu
hoá kinh tế và cách mạng khoa học công nghệ không ngừng phát triển,
tính dựa dẫm vào nhau, bổ sung cho nhau của nền kinh tế các nước vốn
đã khá phát hiện lại càng gia tăng mạnh mẽ. Và chính quá trình toàn cầu
hoá và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày càng chặt chẽ đã
làm cho các hoạt động hợp tác và cạnh tranh giữa các quốc gia cũng như
giữa các công ty trên thế giới ngày càng phức tạp và đa dạng. Đặc biệt là
xu hướng tự do hoá về thương mại và đầu tư đã trở thành đặc trưng của
sự phát triển của nền kinh tế thế giới trong những năm gần đây, làm cho
các hoạt động thương mại và đầu tư của các quốc gia và các công ty trong
khu vực cũng ngày càng mang tính quy định, bổ sung cho nhau như một
chỉnh thể thống nhất. Quá trình này đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp
đến sự phát triển kinh tế của hầu hết các quốc gia, trong đó có Nhật Bản.
14
các hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các quốc gia... Các nước
phát triển có điều kiện thực hiện các chiến lược đầu tư và thương mại mà
trước kia luôn bị các hàng rào bảo hộ phong toả thông qua việc đặt các
chi nhánh ở nước ngoài và cho phép các chi nhánh đó thực hiện đầu tư
trực tiếp và mở rộng buôn bán sang các nước thứ ba.
Ngoài những tác động của quá trình toàn cầu hoá kinh tế như đã đề
cập đến ở trên, có thể kể ra một số biến động khác đáng chú ý đã và đang
có tác động mạnh đến sự phát triển của mỗi nước, trong đó có Nhật Bản.
như:
(1) Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á (1997 - 1998) đã
đẩy nhiều nước trong khu vực lâm vào tình trạng khó khăn hơn bao giờ
hết. Hầu hết các quốc gia trong khu vực này, kể cả Nhật Bản, đã phải đặt
lên hàng đầu nhiệm vụ ngăn chặn suy thoái kinh tế, và nhiều nước đã phải
thực hiện các giải pháp tình thế hoặc thay đổi các kế hoạch ngắn hạn và
dài hạn. Chính vì thế mà quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu và khu
vực đã gặp không ít trở ngại do mỗi quốc gia phải lui vào thế thủ, thị
trường thế giới trở nên khó dự đoán và độ nhạy cảm cao hơn. Hơn nữa,
cuộc khủng hoảng này không phải là một cuộc khủng hoảng đơn thuần
hay có tính chu kỳ, mà nó chính là sự bộc lộ cụ thể của những hạn chế và
bất cập của mô hình kinh tế Đông Á vốn đem lại thành công cho các quốc
gia trong khu vực này trong nhiều thập kỷ vừa qua. Theo các nhà phân
tích kinh tế, một mặt, đó chính là những yếu kém thực sự, tiềm ẩn trong
mô hình kinh tế vốn có; mặt khác, đó là sự không tương ứng của mô hình
này với hoàn cảnh quốc tế đang thay đổi nhanh chóng. Trong bối cảnh
đó, việc xác định lại mô hình phát triển, hay ít nhất là xem xét lại những
chiến lược phát triển dài hạn đã được vạch ra trước đây là việc làm hết
sức cần thiết cho các nước trong khu vực.
16
(2) Nhờ những cải cách và điều chỉnh mạnh mẽ vào cuối thập kỷ
80, nền kinh tế Mỹ trong thập kỷ 90 đã phát triển khá ngoạn mục tạo ra
Chẳng hạn, theo thống kê trên sổ sách của Bộ tài chính, vào giữa những
năm 1990, tổng số nợ khó đòi của các ngân hàng Nhật Bản đã lên tới 400
tỷ đôla
1
. Trong khi đó những tài sản mà các công ty này đã thế chấp để
vay vốn ngân hàng cũng ngày càng bị mất giá nghiêm trọng.
Tình trạng nói trên một mặt khiến cho các ngân hàng và công ty tài
chính Nhật Bản hết sức lao đao, hàng loạt tổ chức tín dụng đã bị đổ vỡ.
Thậm chí 11 ngân hàng mạnh nhất của Nhật Bản lần đầu tiên sau Chiến
tranh thế giới thứ hai, đã phải giảm khả năng hoạt động còn 90% vào các
năm 1994 - 1995. Riêng ngân hàng Sumitomo, lớn nhất thế giới, tuyên bố
lỗ tới 3 tỷ đôla vào đầu năm 1995. Mặt khác, tình trạng này còn làm tăng
độ rủi ro của các ngân hàng Nhật Bản và làm suy sụp lòng tin của giới
đầu tư vốn trong nước và ngoài nước vào thị trường tài chính Nhật Bản.
Nhiều tổ chức tiền tệ nước ngoài đã rút vốn khỏi Nhật Bản và chuyển
sang các khu vực khác ít chịu sự rủi ro hơn. Nỗi lo lắng lớn nhất đối với
thị trường tài chính Nhật Bản là số lượng cổ phiếu giao dịch không tăng.
Trong thời kỳ cực thịnh của nền kinh tế “bong bóng”, người ta đã ước
đoán số lượng cổ phiếu giao dịch tại Thị trường chứng khoán Tokyo lên
tới 3 tỷ một ngày, song trong những năm 1990 con số thực tế chỉ đạt từ
200 đến 300 triệu tức là bằng 10%. Điều này đã khiến cho các công ty
chứng khoán, mà việc kinh doanh chủ yếu là dựa vào thu phí giao dịch,
lâm vào tình trạng hết sức khó khăn. Hậu quả nan giải nhất là trong khi
nền kinh tế Nhật Bản rất cần vốn để đầu tư phục hồi sản xuất thì các ngân
hàng lại không muốn và không thể cho các công ty vay được do số nợ
khó đòi quá lớn đã làm cho các ngân hàng giảm hẳn lòng tin vào các nhà
kinh doanh sản xuất.
1
Trịnh ngọc. Kinh tế Nhật Bản phục hồi trong sự trì trệ, Nghiên cứu Nhật Bản, số 1 (5), 3/1996, tr. 8 .
18
Xem: Trương Thục Anh; Vòng điều chỉnh mới về kết cấu kinh tế ngành sản xuất của Nhật Bản. Tạp
chí kinh tế thế giới (Trung Quốc), số 11/1998.
19
cho người tiêu dùng Nhật Bản được lợi trên thực tế, song giới sản xuất
kinh doanh đã bị thua lỗ nghiêm trọng, đặc biệt là bộ phận các xí nghiệp
chế tạo kể cả cho nhu cầu trong nước lẫn xuất khẩu. Họ thực sự phải đối
mặt với những thách thức nghiệt ngã do chênh lệch giá trong và ngoài
nước quá lớn. Hàng nhập khẩu tăng nhanh trong khi đó hàng loạt công ty
sản xuất không bán được hàng trong nước hoặc không xuất khẩu được
bởi vì sự lên giá của đồng Yên đã làm triệt tiêu rất nhiều lợi thế trước đây
của họ. Sự mất lợi thế của Nhật Bản được biểu hiện cụ thể trên một số
khía cạnh chủ yếu như sau:
Thứ nhất, giá thành sản xuất trong nước tăng lên một cách khủng
khiếp. Những năm 1990 đã trở thành những năm mà kết cấu giá thành các
mặt hàng sản xuất ở Nhật Bản trở nên cao đến mức chưa từng có. Cụ thể
là: giá đất xây dựng cao nhất thế giới, giá nông phẩm cao nhất thế giới,
giá sức lao động cao nhất thế giới, thu phí các phương tiện công cộng cao
nhất thế giới. Giá thành sản xuất cao đã làm giảm mạnh khả năng cạnh
tranh của các công ty và xí nghiệp Nhật Bản, đồng thời cũng tạo điều
kiện cho hàng hoá nước ngoài dễ thâm nhập hơn vào thị trường Nhật
Bản.
Thứ hai, nhu cầu trong nước giảm mạnh do cả đầu tư tư nhân lẫn
tiêu dùng cá nhân đều giảm. Về đầu tư tư nhân, có thể nói đây là một
trong những cấu thành quan trọng của nhu cầu trong nước. Biểu hiện rõ
nhất của nhu cầu đầu tư tư nhân là sự tiến triển của đơn vị đặt hàng máy
móc và tình hình xây dựng nhà xưởng. Trong suất thập kỷ 90, nhu cầu về
máy móc của các công ty Nhật Bản đã giảm đi đáng kể so với thời kỳ
trước đó. Tình hình xây dựng nhà xưởng lại còn tồi tệ hơn nữa, gần như
giảm liên tục trong suốt các năm không trừ năm nào. Nhu cầu tái thiết
mạnh khu vực Kansai sau trận Đại động đất Hanshin cũng không bù đắp
21
thị trường trong nước. Điều này đã khiến họ tự cắt giảm chi tiêu và tăng
cường tiết kiệm. Chính vì thế mà tỷ lệ tiết kiệm có lúc đã lên tới 77%
3
.
Kể từ khi nền kinh tế “bong bóng” sụp đổ, các chính phủ Nhật Bản
kế tiếp nhau đã thực hiện rất nhiều biện pháp cả gói và các chương trình
cải cách kinh tế với tổng chi phí lên tới hàng trăm nghìn tỷ Yên. Ngân
hàng trung ương Nhật Bản đã duy trì một tỷ lệ lãi suất thấp tới mức chưa
từng có trong lịch sử Nhật Bản (0,5%) trong suốt nhiều năm liên tục và
thậm chí hiện nay đã xuống tới mức xấp xỉ con số không nhằm phục hồi
và lấy lại sinh khí cho nền kinh tế. Đây chính là những biện pháp can
thiệp của chính phủ mà theo lý thuyết của Keynes thì, có thể tạo ra những
đòn bẩy cho nền kinh tế. Nhưng những biện pháp này đã tỏ ra không mấy
hiệu quả trước một nền kinh tế đã trở nên quá yếu đuối như nền kinh tế
Nhật Bản hiện nay. Cùng với các biện pháp kích cầu của chính phủ, để
đối phó với tình trạng sản xuất trì trệ, các công ty Nhật Bản đã và đang
thực hiện các giải pháp như:
(1) Cắt giảm chi phí sản xuất, trước hết là chi phí lao động. Trong
suốt những năm 1990, các công ty Nhật Bản đã hết sức hạn chế việc
tuyển thêm công nhân mới, giảm công nhân hợp đồng, khuyến khích
những người cao tuổi về hưu sớm, và ép các xí nghiệp vừa và nhỏ làm
thầu khoán phải giảm tối đa các chi phí sản xuất phụ tùng. Kết quả là thất
nghiệp gia tăng và các công nhân thường xuyên còn được tuyển mộ phải
làm thêm giờ song tiền lương lại không được tăng một cách tương ứng.
Chính vì thế, trong suốt những năm 1990, những cơ hội tìm kiếm công ăn
việc làm tại các công sở nhà nước lẫn khu vực tư nhân cho những người
dân Nhật Bản ở độ tuổi lao động, đặc biệt là những sinh viên mới và đang
chuẩn bị tốt nghiệp ra trường, đã trở nên rất khó khăn. Đối với những ai
3
phẩm và linh kiện, đặc biệt là những sản phẩm được sản xuất từ những cơ
sở chế tạo của Nhật Bản ở nước ngoài và nâng cao hơn nữa giá cả hàng
xuất khẩu để bù lại những thiệt hại do sự tăng giá của đồng Yên gây ra.
Ví dụ trong năm 1995, nhiều công ty xuất khẩu của Nhật Bản đã tăng giá
4
Tạp chí “Kinh tế” (Nhật Bản) số tháng 7/1996, tr. 20.
5
“Sách trắng đầu tư”, Hội Chấn hưng mậu dịch Nhật Bản, năm 1995, tr. 42.
23
hàng xuất khẩu từ 10 - 15%. Điều này đã khiến cho hàng nhập khẩu dễ có
điều kiện thâm nhập hơn vào thị trường Nhật Bản trong khi đó hàng xuất
khẩu từ Nhật Bản lại khó được chấp nhận hơn đối với người tiêu dùng
nước ngoài. Theo số liệu thống kê, xuất khẩu của Nhật Bản trong năm
1995 chỉ tăng có 2,6% so với 5,1 % vào năm 1994, trong khi đó, nhập
khẩu tăng tới 9,2% so với 8,4% vào năm 1994. Do xuất khẩu giảm và
nhập khẩu tăng, cán cân mậu dịch thặng dư của Nhật Bản đã giảm đi
đáng kể. Song điều đáng nói là trong khi thặng dự mậu dịch với Mỹ và
EU giảm đi thì thặng dư mậu dịch của Nhật Bản với châu Á vẫn liếp tục
tăng nhanh, chứng tỏ châu Á ngày càng trở thành một thị trường xuất
khẩu quan trọng của Nhật. Ví dụ, xuất khẩu của Nhật Bản sang châu Á
trong 6 tháng đầu năm 1995 đã lên tới 99,8 tỷ đôla, cao hơn cả xuất khẩu
của Nhật Bản sang Mỹ và EU cộng lại (97,3 tỷ đôla)
6
.
(4) Tăng cường liên doanh, liên kết với nước ngoài trong việc
nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới. Đồng thời tiến hành đào tạo
lại lao động, hợp nhất các cơ sở sản xuất không có hiệu quả, hoặc bán lại
cho các nhà đầu tư nước ngoài.v.v…
Tất cả những biện pháp của chính phủ cũng như của giới kinh
doanh kể trên, mặc dù chưa tạo ra một sự phục hồi thực sự cho nền kinh
xây dựng)
36,3 36,1 34,9 33,3 31,9 31,2 30,9 30,8 29,7 29,2 29,0
Khu vực III (ngân
hàng, vận tải, thông
tin, dịch vụ…)
60,9 61,4 62,7 64,5 65,8 66,7 67,1 67,4 68,6 69,2 69,5
Tổng cộng 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100
Nguồn: METI, tính toán từ các số liệu thống kê về các ngành kinh tế Nhật Bản, 2000.
Qua bảng 2 chúng ta có thể thấy sự giảm đi một cách rõ rệt tỷ trọng
của các ngành thuộc khu vực I và khu vực II, và sự tăng lên một cách
vững chắc tỷ trọng của các ngành thuộc khu vực III trong GDP của Nhật
Bản. Trong vòng một thập kỷ từ 1990 đến 2000, tỷ trọng của các ngành
thuộc khu vực I trong GDP đã giảm từ 2,8% (1990) xuống còn l,5%
25