Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Trang
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Kể từ năm 1987, khái niệm "phát triển bền vững” được nhiều nhà lãnh đạo trên
thế giới đánh giá cao. Tính đặc thù của phát triển bền vững thừa nhận môi trường là
một yếu tố phát triển. Ở nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, du lịch sinh thái
(DLST) được coi là một "giải pháp thần kỳ" đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững
trong việc mang lại lợi ích to lớn về mặt kinh tế, góp phần xóa đói, giảm nghèo, từng
bước nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư địa phương và có ý nghĩa
rất lớn cho công cuộc bảo tồn môi trường tự nhiên và văn hóa bản địa.
Nhận thức rõ vai trò của DLST, Việt Nam nói chung và tỉnh Ninh Bình nói
riêng đã và đang chú trọng xây dựng kế hoạch phát triển DLST làm cơ sở cho việc
phát triển du lịch của đất nước và của tỉnh. Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 13/7/2009
của Tỉnh ủy Ninh Bình về việc “Phát triển du lịch đến năm 2020, định hướng đến năm
2030” đã đề cập đến việc ưu tiên phát triển DLST, coi DLST là một trong những loại
hình du lịch làm nên sản phẩm du lịch đặc trưng của tỉnh. Trong đó, Tràng An được
xem là khu du lịch trọng điểm trong chiến lược phát triển du lịch này.
Khu du lịch sinh thái Tràng An với những giá trị nổi bật về cảnh quan thiên
nhiên, đa dạng sinh thái, kiến tạo địa chất và các di tích khảo cổ học hang động, xứng
đáng là địa danh được đầu tư để trở thành một khu du lịch tầm cỡ quốc tế. Tuy nhiên,
trong những năm qua, hoạt động DLST tại đây phát triển chưa tương xứng với tiềm
năng của khu du lịch này. Nguyên nhân chủ yếu do điều kiện cơ sở hạ tầng (CSHT),
cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVC-KT) chưa hoàn thiện, hạn chế về mặt quản lý, cũng như
nhận thức của cộng đồng dân cư và khách du lịch chưa cao trong việc bảo vệ môi
trường tự nhiên nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh về phát triển DLST tại khu du lịch
này. Xuất phát từ thực trạng đó nên tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện việc phát triển du
lịch sinh thái tại khu du lịch sinh thái Tràng An, Ninh Bình”.
2. Mục đích nghiên cứu
− Tìm hiểu, đi sâu phân tích tiềm năng, thực trạng tài nguyên DLST, thực trạng
phát triển DLST và nhu cầu DLST của khách du lịch tại khu du lịch sinh thái
Tràng An
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những sai
sót. Kính mong quý thầy, cô giáo và các bạn sinh viên góp ý để bài viết được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
SVTH:Đinh Thị Tâm Lớp:dl5b Khoa Văn Hóa Du Lịch
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Trang
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu du lịch sinh thái
I. Cơ sở lý luận về loại hình du lịch sinh thái
1. Vài nét về loại hình du lịch sinh thái
1.1. Khái niệm du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã nhanh
chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau. Đây là
một khái niệm rộng, được hiểu từ nhiều góc độ khác nhau. Song, đứng ở góc nhìn rộng
hơn, tổng quát hơn thì một số người quan niệm rằng: DLST là một loại hình du lịch
thiên nhiên. Như vậy, với cách tiếp cận này, mọi hoạt động của du lịch có liên quan
đến thiên nhiên như: tắm biển, leo núi,…đều được hiểu là DLST.
Về mặt nội dung, DLST là loại hình du lịch tham quan, thám hiểm, đưa du
khách tới những môi trường còn tương đối nguyên vẹn, về các vùng thiên nhiên hoang
dã đặc sắc để tìm hiểu, nghiên cứu các hệ sinh thái và nền văn hóa bản địa độc đáo,
làm thức dậy ở du khách tình yêu và trách nhiệm bảo tồn, phát triển đối với tự nhiên
và cộng đồng địa phương. Nói cách khác, DLST là loại hình du lịch với những hoạt
động có nhận thức mạnh mẽ về thiên nhiên và ý thức trách nhiệm đối với xã hội.
Vào năm 1987, nhà bảo vệ môi trường người Mehico, Hector Ceballos –
Lascurain, thường được cho là người đã đặt ra thuật ngữ DLST, đã đưa ra định nghĩa
về DLST như sau: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị
biến đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng
thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”.
Theo Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế (The International Ecotourism Society
– TIES) (1991): “Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm đối với các khu thiên
DLST tiêu dùng tài nguyên dựa vào nguồn tài nguyên có thể tái sinh. Các hoạt
động phải kể đến như: săn bắn, câu cá,… DLST tiêu dùng tài nguyên cũng có thể được
sử dụng làm công cụ quản lý những quần thể động vật tăng nhanh, loại bỏ những động
vật phá hoại cây trồng, và cung cấp thịt cho người dân địa phương.
1.3. Những đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái
DLST là một dạng của hoạt động du lịch, vì vậy nó cũng bao gồm tất cả những
đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung. Bên cạnh những đặc trưng này,
DLST còn có những đặc trưng riêng:
− DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa.
− Các đơn vị tham gia vào DLST có trách nhiệm tích cực bảo vệ môi trường sinh
thái, giảm thiểu tác động tiêu cực của du lịch đối với môi trường và văn hoá.
SVTH:Đinh Thị Tâm Lớp:dl5b Khoa Văn Hóa Du Lịch
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Trang
− Các phương tiện phục vụ DLST gồm: các trung tâm thông tin, đường mòn tự
nhiên, cơ sở lưu trú, ăn uống sinh thái, các tài liệu in ấn khác.
− Các hướng dẫn viên vừa thực hiện chức năng thuyết minh giới thiệu, vừa giám
sát các hoạt động của du khách.
− Thông qua hoạt động DLST, du khách được giáo dục và nâng cao nhận thức, ý
thức tôn trọng môi trường thiên nhiên và nền văn hóa bản địa.
− Hoạt động DLST phải đem lại lợi ích về kinh tế - xã hội cho cộng đồng địa
phương, thu hút người dân địa phương tham gia bảo vệ môi trường.
1.4. Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái
− Nguyên tắc 1: Giáo dục và nâng cao hiểu biết cho du khách về môi trường tự
nhiên, qua đó tạo ý thức tham gia của khách du lịch vào các nỗ lực bảo tồn
− Nguyên tắc 2: Góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh
thái tự nhiên, góp phần bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa của vùng, quốc gia…
− Nguyên tắc 3: Tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương
− Nguyên tắc 4: Du khách được hòa nhập với hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn
nhưng phải có trách nhiệm giữ gìn hệ sinh thái đang hòa nhập
− Nguyên tắc 5: Lượng du khách luôn được kiểm soát điều hòa để đảm bảo cho
lịch nói chung, DLST nói chung mới được xem là tài nguyên DLST.
2.2. Đặc điểm của tài nguyên du lịch sinh thái
− Tài nguyên DLST phong phú, đa dạng, đặc sắc và có sức hấp dẫn lớn
− Tài nguyên DLST thường nhạy cảm với các tác động.
− Thời gian khai thác tài nguyên DLST là không đồng nhất
− Tài nguyên DLST thường nằm xa các khu dân cư và được khai thác tại chỗ để
tạo ra các sản phẩm du lịch
− Tài nguyên DLST có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài
2.3. Các loại tài nguyên du lịch sinh thái cơ bản
− Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt là nơi có tính đa dạng sinh học cao
với nhiều loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm (các vườn quốc gia, các khu bảo tồn
thiên nhiên, các khu dự trữ sinh quyển)
− Các hệ sinh thái nông nghiệp (vườn cây ăn trái, hoa quả)
− Các giá trị văn hóa bản địa có sự hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại
và phát triển của hệ sinh thái tự nhiên như: các phương thức canh tác, các lễ
hội, sinh hoạt truyền thống, công trình kiến trúc dân gian, các sản phẩm thủ
công mĩ nghệ gắn với cuộc sống của cộng đồng,…
3. Mối quan hệ giữa phát triển du lịch sinh thái và phát triển du lịch bền vững
Theo tổ chức Liên Hợp Quốc (1984): “Phát triển bền vững là sự phát triển có
SVTH:Đinh Thị Tâm Lớp:dl5b Khoa Văn Hóa Du Lịch
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Trang
thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả
năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ".
Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế (WTTC) (1996), thì: “Du lịch bền
vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn bảo
đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”.
Vai trò của DLST trong phát triển du lịch bền vững
DLST nếu diễn ra theo đúng nguyên tắc cơ bản của nó sẽ có những đóng góp
rất to lớn cho phát triển du lịch bền vững vì nó đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa các
mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường; giữa bảo tồn và phát triển lâu dài. DLST mang
Phát triển DLST bền vững phải đảm bảo phát triển cân bằng cả 3 mục tiêu liên
quan: kinh tế, xã hội và môi trường.
Hình 1: Mô hình các nguyên tắc phát triển DLST bền vững
4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Số lượt khách: Số lượt khách là tổng số khách du lịch đến và tiêu dùng các sản
phẩm du lịch trong kỳ nghiên cứu.
Số ngày khách: Số ngày khách là tổng số ngày lưu trú tại khách sạn, nhà nghỉ,
…được thu thập bằng các báo cáo thống kê định kỳ.
Doanh thu du lịch: Doanh thu du lịch là toàn bộ số tiền thu được của khách du
lịch trong thời kỳ nghiên cứu.
Chỉ số thời vụ:
+ Nếu dãy số thời gian có lượng khách biến động tương đối ổn định
Công thức:
Trong đó: I
TV
: Chỉ số thời vụ
SVTH:Đinh Thị Tâm Lớp:dl5b Khoa Văn Hóa Du Lịch
0
y
y
I
i
TV
=
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Trang
y
i
: Bình quân lượng khách của các tháng (quý) i cùng tên qua các năm
y
0
50’ đến 20
0
27’ vĩ độ Bắc và 105
0
32’ đến 106
0
33’ kinh độ Đông. Về
phía Bắc, Ninh Bình giáp Hà Nam, phía Nam giáp Thanh Hóa, phía Tây giáp Hòa
Bình, phía Đông Nam giáp biển Đông.
Ninh Bình có tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú và hấp dẫn, đặc biệt là có
vùng núi đá vôi với các hang động xuyên thủy và hệ sinh thái độc đáo, đan xen với
những tài nguyên du lịch nhân văn, những di tích lịch sử - văn hóa, tiêu biểu như Cố
đô Hoa Lư. Đó là những lợi thế to lớn để phát triển du lịch.
1.2. Tiềm năng du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Bình
Khu du lịch sinh thái Tràng An
Khu du lịch sinh thái Tràng An gồm hệ thống dãy núi đá vôi ngập nước tạo ra
các hồ, đầm thông nhau bằng những hang động xuyên thủy. Trong danh thắng này còn
có nhiều hệ sinh thái rừng ngập nước, rừng trên núi đá vôi và các di tích gắn với lịch
sử của kinh đô Hoa Lư xưa.
Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động
SVTH:Đinh Thị Tâm Lớp:dl5b Khoa Văn Hóa Du Lịch
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Trang
Thiên nhiên và lịch sử đã ưu ái tặng cho vùng đất này một quần thể di tích,
danh lam thắng cảnh tuyệt mỹ với hệ thống động cạn và hang xuyên thuỷ, nét huyền bí
của các khu di tích lịch sử văn hoá tâm linh.
Vườn quốc gia Cúc Phương
Vườn quốc gia Cúc Phương có hệ động động, thực vật phong phú và đa dạng.
Đây là nơi lý tưởng để phát triển loại hình DLST với các hoạt động như: dã ngoại, đi
bộ trong rừng, tham quan, nghiên cứu, quan sát động vật, thăm bản làng dân tộc,…
Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long
vị
tính
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
Tăng
trưởng
bình
quân
năm
(%)
I
Tổng LK đến
Ninh Bình
Lượt 1.741.602 2.199.975 3.096.589 3.247.888 23,99
+ Trong nước Lượt 1.193.464 1.608.572 2.433.305 2.584.724 30,76
+ Quốc tế Lượt 548.138 591.403 663.284 663.164 6,68
II
Tổng LK đến
các cơ sở lưu trú
Lượt 157.198 187.725 219.466 236.479 14,69
LK lưu trú qua
đêm
Lượt 128.632 152.500 181.077 197.119 15,38
+ Trong nước Lượt 110.670 131.428 146.670 147.504 10,31
dẫn khách du lịch trong và ngoài nước như: tuyến tham quan khu bảo tồn đất ngập
nước Vân Long, tuyến tham quan sinh thái Kênh Gà – Vân Trình, tuyến Thạch Bích –
Thung Nắng, tuyến tham quan hang động, khu du lịch sinh thái Tràng An. Chi cục
Kiểm lâm phối hợp với ngành du lịch đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của
những tổ chức, cộng đồng, cá nhân trực tiếp tham gia hoạt động du lịch, như mở lớp
tập huấn cho cán bộ, công nhân viên các doanh nghiệp hoạt động du lịch; tổ chức cho
các hộ dân tham gia vận chuyển khách những hiểu biết cơ bản về DLST và mối quan
hệ giữa lợi ích của bảo tồn với DLST. Phối hợp với địa phương xây dựng các dự án
nhỏ nhằm tạo cơ chế cho cộng đồng địa phương được tham gia hoạt động bảo tồn và
có thu nhập từ DLST. Thông qua đó chính cộng đồng phải tích cực bảo vệ tài nguyên
du lịch, thực chất là bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh thái.
2. Vị trí, vai trò của khu du lịch sinh thái Tràng An đối với sự phát triển của du
lịch tỉnh Ninh Bình
Xét riêng trong hệ thống du lịch Ninh Bình, khu du lịch sinh thái Tràng An có
một vị trí đặc biệt quan trọng. Trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Ninh Bình
đến năm 2010 và định hướng đến 2015, với đặc điểm nổi trội về cảnh quan thiên
nhiên, giá trị lịch sử - văn hóa, khu du lịch sinh thái Tràng An đã và đang trở thành
động lực chính tạo nên sức hấp dẫn, hình ảnh thương hiệu cho ngành du lịch Ninh
Bình.
Với điểm mạnh là gần trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận, việc xây dựng khu
du lịch sinh thái Tràng An thành khu du lịch tổng hợp: Lịch sử - Văn hóa – Sinh thái
với quy mô lớn, hấp dẫn để tạo cơ hội thu hút khách du lịch, và nhìn rộng ra, địa danh
này còn có thể phát triển như một điểm “vệ tinh” của Hà Nội với chức năng là điểm du
lịch cuối tuần – loại hình du lịch có nhu cầu ngày càng tăng hiện nay.
SVTH:Đinh Thị Tâm Lớp:dl5b Khoa Văn Hóa Du Lịch
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Trang
Khu du lịch sinh thái Tràng An sau khi hoàn thành sẽ tạo ra hệ thống tour,
tuyến liên hoàn với các khu du lịch khác trong tỉnh, làm cho quy mô du lịch Ninh Bình
có tầm cỡ quốc gia và quốc tế, đủ sức thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.
Mặt khác, phát triển du lịch tại khu du lịch sinh thái Tràng An còn góp phần
Khu du lịch sinh thái Tràng An mang đặc điểm chung của khí hậu Ninh Bình.
Địa danh này nói riêng và Ninh Bình nói chung thuộc tiểu vùng khí hậu của đồng bằng
sông Hồng. Thời tiết trong năm chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
10, mùa khô từ tháng 11, 12 năm trước đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng
năm là 24,2
o
C. Tổng số giờ nắng trung bình năm trên 1400 giờ. Độ ẩm trung bình năm
là 83% và có sự chênh lệch không nhiều giữa các tháng trong năm: tháng 2 cao nhất là
89%, tháng 11 thấp nhất là 75%. Lượng mưa trung bình năm đạt từ 1.860-1.950 mm
và thường tập trung vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 10.
Khu du lịch sinh thái Tràng An nằm trong khu vực có hệ thống sông ngòi dày
đặc. Cần lưu ý nhất đến hệ thống các hồ, thung, hang động nước nằm giữa các dãy núi
đá vôi trong khu vực quần thể hang động Tràng An. Đây chính là sản phẩm du lịch
độc đáo, hiếm có của hành trình du lịch về miền đất Cố đô.
1.3. Địa chất, địa mạo
Sự đa dạng về địa chất – địa mạo và hệ thống hang động kỳ thú ở Tràng An là
kết quả của quá trình hoạt động địa chất lâu dài bao gồm hoạt động kiến tạo, sự hình
SVTH:Đinh Thị Tâm Lớp:dl5b Khoa Văn Hóa Du Lịch
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Trang
thành các bồn trũng, quá trình kết tủa của CaCO
3
trên một diện tích rộng kéo dài hàng
triệu năm, quá trình vận chuyển, phân dị và lắng đọng thành hệ trầm tích lục nguyên.
Các bồn trầm tích tuổi Trias và Kainozoi đã tiến hóa theo thời gian địa chất và bị biến
cải trong các pha tạo núi. Từ biển cả đã biến thành núi non hùng vĩ, từ các núi đá vôi
nguyên vẹn đã biến thành trên 500 hang động thuộc nhiều thế hệ khác nhau có tuổi
kéo dài từ 32 triệu năm đến 6000 năm dưới sự thay đổi mực nước biển toàn cầu và
chuyển động thăng trầm của Vỏ Trái Đất.
Đặc điểm địa chất nêu trên đã để lại những dáng nét địa hình phân hóa tương
đối phức tạp với hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Xen kẽ trong vùng núi
khu nhà vườn, biệt thự cao cấp, khu thể thao, vui chơi giải trí và khu bán đồ lưu niệm.
∗ Phân khu 4: Khu trung tâm
Khu trung tâm bến thuyền được xây dựng trên khu đất có diện tích 99,3 ha. Khu
này được quy hoạch để xây dựng bến thuyền, nhà chờ, nhà quản lý, hội trường lớn, bãi
đỗ xe, các công trình hạ tầng kỹ thuật, vườn hoa, cây xanh, thảm cỏ với chức năng đón
tiếp và hướng dẫn khách du lịch, là nơi tổ chức các lễ hội lịch sử - văn hóa – thương
mại – du lịch và các hội nghị, hội thảo tầm cỡ quốc gia và quốc tế.
∗ Phân khu 5: Khu núi chùa Bái Đính
Với diện tích 964 ha, khu này được quy hoạch với chức năng là khu văn hóa -
tâm linh. Tại đây có khu núi chùa Bái Đính mới, khu núi chùa Bái Đính cũ, khu công
viên văn hoá và học viện phật giáo, khu đón tiếp và công viên cảnh quan, bãi đỗ xe,
khu cây xanh, hồ nước,…
II. Tổng quan tiềm năng du lịch sinh thái tại khu du lịch sinh thái Tràng An
1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
1.1. Cảnh quan karst
Khu vực Tràng An – Bích Động thuộc tiểu vùng cảnh quan Karst Trường Yên.
Khối Karst này điển hình cho Karst nhiệt đới với các đỉnh dạng tháp, chuông điển
hình; sườn rửa lũa – đổ lở dốc đứng; các thung lũng kéo dài và liên kết với nhau. Quá
trình Karst nhiệt đới đã tạo nên các cảnh quan Karst trên mặt và Karst ngầm với hệ
thống hang động đa dạng, độc đáo.
− Địa hình Karst trên mặt: bao gồm những khối karst sót với đỉnh dạng tháp,
vòm, chuông và sườn vách dốc đứng. Phần rìa núi là các thung lũng và đồng bằng
Karst rộng lớn, địa hình phẳng, dễ ngập úng vào mùa mưa. Cảnh quan Karst trên mặt
vừa có sự trùng điệp, hùng vĩ của những khối núi đá vôi phần trung tâm chạy nối tiếp
nhau, vừa có sự nên thơ, non xanh nước biếc của những khối núi sót nhô lên trên bề
mặt đồng bằng trũng, soi bóng xuống hồ nước và có cả sự đặc sắc về hình thù như hòn
Cá, hòn Ông Rùa, đàn Hải Cẩu và những hình khối mang chiều sâu văn hóa như: hòn
SVTH:Đinh Thị Tâm Lớp:dl5b Khoa Văn Hóa Du Lịch
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Trang
Ông Trạng, hòn Tập Sách.
nhau, dấu tích văn hóa không giống nhau, phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau của
SVTH:Đinh Thị Tâm Lớp:dl5b Khoa Văn Hóa Du Lịch
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Trang
văn hóa nhân loại từ tiền sử đến lịch sử, tiêu biểu như: hang Hoa Sơn, hang Lợn, hang
Vượn trên, hang Vượn dưới, hang núi Thung Bình, Trong quá trình nạo vét hệ thống
hang động, khai quật khảo cổ từ nhiều năm qua, nhiều di vật, dấu tích của người tiền
sử từ 5000 đến 30000 năm đã được tìm thấy ở Hang Bói, hang Trống.
2.2. Di tích lịch sử - văn hóa
Khu du lịch sinh thái Tràng An được mệnh danh là “Vịnh Hạ Long trên cạn”,
là điểm đến quan trọng và hấp dẫn trong hành trình “Kết nối các Kinh đô cổ” của các
chương trình tham quan “Du lịch về cội nguồn dựng nước và giữ nước, tìm hiểu văn
hóa và lịch sử” của dân tộc Việt Nam.
Tràng An như một cuốn bảo tàng vĩ đại và sống động mang tính nhân văn và
gìn giữ những giá trị văn hóa dân tộc quý báu trong quá trình dựng nước và giữ nước
đầy cam go, sóng gió nhưng rất oanh liệt và hào hùng của dân tộc. Hiện nay, trong khu
vực có 12 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 1 di tích cấp quốc gia là khu núi chùa
Bái Đính. Các di tích lịch sử - văn hóa ở đây là những dấu vết của buổi bình minh văn
minh Đại Việt, thời các vua Đinh, Tiền Lê, Lý với cố đô Hoa Lư, tiêu biểu như: đền
thờ Quý Minh đại vương (đền Trần), đền thờ Cao Sơn đại vương (núi chùa Bái Đính),
đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng, đền thờ vua Lê Đại Hành, nhà bia tưởng niệm vua Lý
Thái Tổ, đền Phất Kim, Phủ Khống, Phủ Đột. Bên cạnh các di tích gắn với Cố đô Hoa
Lư, còn có rất nhiều các di tích mang đậm tính tín ngưỡng và tâm linh như chùa Nhất
Trụ, chùa Am, chùa Ngần, chùa Bàn Long, chùa Bái Đính, …
2.3. Lễ hội
Lễ hội chùa Bái Đính được tổ chức vào các ngày mồng 6, mồng 7 tháng Giêng
(Âm lịch). Phần lễ ngoài việc thờ cúng Đức Phật, còn là để tưởng nhớ công ơn của
Thánh Nguyễn Minh Không, người đã tìm ra và đặt chùa lễ Phật tại đây. Phần hội gồm
các trò chơi dân gian như múa lân, múa rồng, đánh cờ người, đấu vật, thi thổi cơm,
chọi gà, kéo co, cờ tướng, thi viết chữ Nho,… Ngoài ra, Tràng An còn có các lễ hội
được tổ chức ở các điểm: Đền Trần, chùa Bàn Long, phủ Đột, phủ Khống, hang Địa
cửa lui vào tận hàng cột cái để che hậu cung bên trong.
− Phủ Khống: Ngày nay, Phủ Khống được xây dựng lại, theo kiểu chữ Đinh
gồm 3 gian: Tiền đường, gian giữa và Hậu cung. Trong hậu cung đặt một hương án
sơn son thiếp vàng thờ vị quan đã lập bát hương bảy vị quan tuẫn tiết triều Đinh.
− Đền Trần: Trước kia đường lên đền Trần, chỉ là lối mòn còn rất gập ghềnh
mấp mô, đi lại rất khó khăn. Nhưng từ khi có dự án du lịch, đường leo núi lên đền đã
được kè bậc chỉnh chu, đẹp đẽ như hiện nay.
− Khu núi chùa Bái Đính mới: Khu chùa mới được khởi công xây dựng vào
năm 2003. Đây là một công trình lớn gồm nhiều hạng mục, được xây dựng theo nhiều
SVTH:Đinh Thị Tâm Lớp:dl5b Khoa Văn Hóa Du Lịch
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Trang
giai đoạn khác nhau. Hiện nay, một số hạng mục đã được hoàn thành như: Cổng Tam
Quan, tháp chuông, hành lang La Hán, Giếng Ngọc, điện thờ Tam Thế, điện thờ Pháp
Chủ, điện thờ Quan Âm Bồ Tát, điện thờ 500 vị La Hán, tượng đồng 50 tấn, tượng 100
tấn, giàn chuông 8 quả, tượng A Di Đà và các công trình phụ trợ khác.
− Khu chùa Bái Đính cổ: Khu chùa này nằm ở một vùng rừng núi khá yên tĩnh,
gồm một ngôi chùa cổ, đền thờ thánh Nguyễn, hang động sáng thờ Phật, hang động
Tối thờ Tiên và đền thờ thần Cao Sơn. Sau quá trình trùng tu, khu chùa trở nên khang
trang và kiên cố hơn.
2. Hiện trạng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch
Dự án xây dựng CSHT khu du lịch sinh thái Tràng An do Sở Văn hóa, Thể thao
và Du lịch Ninh Bình làm chủ đầu tư; cơ quan quản lý trực tiếp là UBND tỉnh. Dự án
này bao gồm các dự án thành phần: xây dựng CSHT khu dịch vụ; xây dựng CSHT khu
núi chùa Bái Đính; cải tạo núi Rạch, núi Nghẽn – huyện Hoa Lư; xây dựng khu Công
viên văn hóa Tràng An; xây dựng CSHT khu động Am Tiên, bãi đỗ xe và khu dịch vụ
phục vụ khu Cố đô Hoa Lư – Tràng An.
2.1. Hệ thống cung cấp điện
Hiện tại khu vực Tràng An đang được cấp điện chủ yếu qua 03 đường dây
thuộc các trạm Trung gian Yên Bình – Yên Mô, Hợp Bình – Hoa Lư và Trung gian
Rịa – Nho Quan thông qua các trạm biến áp 10/0,4KV cấp điện cho các trạm bơm tưới
giao thông Ninh Bình. Trong đó, giao thông toàn tỉnh với tư cách là hạ tầng bên ngoài,
quyết định việc đáp ứng được hay không nhu cầu du lịch tới địa bàn.
Mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Mạng lưới giao thông đường bộ trong tỉnh gồm hệ thống đường quốc lộ, tỉnh lộ,
đường huyện, liên huyện, đường xã và liên xã với tổng chiều dài 2.278,2 km. Quốc lộ
1A chạy trên địa phận tỉnh Ninh Bình khoảng trên 50 km. Bên cạnh đó còn có các
tuyến quốc lộ chạy qua như: 10, 12B, 45. Ninh Bình còn là địa phương nằm trên tuyến
đường sắt Bắc – Nam. Toàn tỉnh có 4 ga là: ga Ghềnh, ga Đồng Dao, ga Cầu Yên, ga
Ninh Bình. Ngoài ra, Ninh Bình có 22 sông, kênh với 2 cảng lớn do trung ương quản
lý là: cảng Ninh Bình và cảng Ninh Phúc.
Mạng lưới giao thông của khu du lịch sinh thái Tràng An
Do Tràng An là khu vực bắt đầu được xây dựng mới, nằm sâu trong khu vực
núi đá vôi ít được khai thác trước đây nên khi thành lập khu du lịch, giao thông ở đây
được xây dựng một cách hoàn thiện bao gồm hệ thống giao thông đường bộ và đường
thủy.
Đường bộ
Trên cơ sở dự án được duyệt, đến nay đơn vị thi công đã cơ bản hoàn thành
SVTH:Đinh Thị Tâm Lớp:dl5b Khoa Văn Hóa Du Lịch
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Trang
tuyến giao thông từ quốc lộ 1A đến chùa Bái Đính bao gồm: tuyến giao thông trục
chính, tuyến giao thông số 1, tuyến số 4, tuyến số 8 và toàn bộ các cầu (cầu Ghềnh
Tháp, cầu Liên Hoa, cầu Đá Bàn, cầu Huệ Lâm), hầm đường bộ (hầm Ngô Ngã, hầm
Vụng Quao) trên toàn tuyến phục vụ khách du lịch và nhu cầu đi lại của người dân.
Ngoài ra cũng đã hoàn thành tuyến đường nối liền các điểm tham quan trong khu du
lịch từ cầu Đá Bàn đến khu bến thuyền, tuyến từ cầu Ghềnh Tháp đến khu hồ Đàm
Thị; các tuyến giao thông nội bộ trong khu dịch vụ du lịch, khu núi chùa Bái Đính,
khu sinh thái hang động, khu công viên văn hóa, khu trung tâm; hoàn thành các hạng
mục cây xanh, thảm cỏ tuyến đường số 4, tuyến số 8, tuyến trục chính,…và tiếp tục thi
công hoàn thiện các tuyến đường bộ từ chùa Bái Đính đến đền Trần, tuyến đường số 9,
tuyến đường giao thông 1-1,…
Điều đáng mừng là trong khu sinh thái hang động và khu núi chùa Bái Đính đã hoàn
thiện hệ thống nhà vệ sinh công cộng sạch sẽ, tiện nghi, đáp ứng được nhu cầu của
khách du lịch. Việc chuyên chở khách bằng đường thủy cũng được đảm bảo nhờ vào
sự trang bị 850 chiếc thuyền tay có ghi số thứ tự để tiện cho công tác quản lý.
Tuy nhiên, do chưa có nhiều dịch vụ bổ trợ khác, hoạt động du lịch tại Tràng
An mới chỉ dừng ở việc tận dụng khai thác một vài tuyến hang động đã hoàn thành và
tham quan khu núi chùa Bái Đính trong những ngày đầu xây dựng. Do vậy, khách du
lịch thường không lưu trú tại khu du lịch mà thường đi tham quan trong ngày, tận dụng
cơ sở lưu trú tại TP Ninh Bình, chỉ cách khu Tràng An khoảng 7 km về phía Tây Nam.
Bảng 2: Cơ sở lưu trú có thể sử dụng cho khách du lịch tại Tràng An (2011)
Stt Khu vực Tổng số cơ sở lưu trú Khách sạn Nhà nghỉ
1 TP Ninh Bình 119 67 52
2 H. Gia Viễn 17 4 13
3 H. Hoa Lư 28 13 15
4 Tổng số 164 84 80
(Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Ninh Bình)
Việc tận dụng các cơ sở lưu trú như trên chỉ là biện pháp tạm thời. Trong tương
lai, khi lượng khách du lịch tăng lên nhanh chóng cùng sự hoàn thiện của khu du lịch
sinh thái Tràng An thì diện mạo Tràng An sẽ đổi khác rất nhiều so với hiện tại.
4. Tình hình lao động trong du lịch
Theo thống kê, số lao động trực tiếp ở khu du lịch sinh thái Tràng An là 600
người năm 2009 và tăng lên 1545 người năm 2011, tăng 2,6 lần. Tại khu sinh thái
hang động, đội ngũ lao động được chia ra thành các tổ, nhóm, mỗi tổ từ 25 đến 35
người. Toàn khu có 28 tổ, mỗi tổ được phân công đảm trách một nhiệm vụ riêng, ở hai
lĩnh vực chính, quản lý chung (1 tổ) và lái đò phục vụ trực tiếp khách du lịch (27 tổ).
Lao động ở khu du lịch sinh thái Tràng An chủ yếu là lao động nữ, tuổi đời từ
SVTH:Đinh Thị Tâm Lớp:dl5b Khoa Văn Hóa Du Lịch
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Trang
khoảng 25 – 40 tuổi, bao gồm: đội ngũ quản lý chung, nhân viên bán vé, nhân viên bán
hàng, đội ngũ lái đò, bảo vệ, thuyết minh viên, thợ chụp ảnh, nhân viên trực vệ sinh.
SVTH:Đinh Thị Tâm Lớp:dl5b Khoa Văn Hóa Du Lịch
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Trang
Theo quy hoạch, khu du lịch sinh thái Tràng An có 9 tuyến du lịch đường thủy
và 2 tuyến du lịch đường bộ (xem chi tiết ở phần Phụ lục). Nhưng hiện nay, mới đưa
vào khai thác phục vụ khách đến thăm quan du lịch một tuyến du lịch đường bộ và
một tuyến du lịch đường thủy.
Tuyến du lịch đường bộ: Bến Cây Bàng đèo Cậy đèo Vài đèo đền Trần
đền Trần (đền Nội Lâm)
Tuyến du lịch đường thủy: Bến thuyền phủ Đột hang Địa Linh hang
Tối hang Nấu Rượu đền Trần hang Nấu Rượu hang Sính hang Si
hang Ba Giọt hang Seo hang Sơn Dương phủ Khống hang Khống hang
Trần hang Quy Hậu Bến thuyền.
Tuyến du lịch liên kết: Khu núi chùa Bái Đính hồ Đồng Chương (cổng
Rừng Đập Tràn Rừng Thông Đập Tràn Thác Ba Tua Khu nhà nghỉ
Rừng thông đập Tràn chính Rừng thông đập Tràn phụ Rừng thông cổng
Rừng)
6. Tình hình xúc tiến, quảng bá
Từ nhiều năm qua, Tỉnh đã quan tâm, chú trọng đến hoạt động xúc tiến, quảng
bá du lịch Ninh Bình. Đơn cử là việc thành lập Trung tâm Thông tin Xúc tiến du lịch
trực thuộc Sở VHTTDL Ninh Bình vào năm 2001. Đây là một trong những đơn vị xúc
tiến du lịch cấp tỉnh được thành lập đầu tiên ở nước ta. Tràng An là khu du lịch trọng
điểm trong chiến lược phát triển du lịch của tỉnh. Vì vậy, hình ảnh Tràng An luôn
được xuất hiện trong các ấn phẩm, tài liệu quảng bá du lịch Ninh Bình, trang tin điện
tử, hội chợ, triển lãm du lịch,… Theo tổng hợp của anh Nguyễn Xuân Khang, giám
đốc Bảo tàng Ninh Bình, hiện có 47 bài viết chính thức về Tràng An trên các báo, tạp
chí: TT&VH online, Vietnamnet, Vnexpress, tạp chí Du lịch Việt Nam, Báo Nhân
Dân, Báo Đảng Cộng sản Việt Nam, báo Tuổi trẻ, … Bên cạnh đó, trung tâm đã chủ
động, tích cực phối hợp với các đài truyền hình địa phương, đài truyền hình trung
ương xây dựng và phát sóng bộ phim “Hoa Lư Non nước Tràng An” (2005), “Ấn
tượng Hạ Long Cạn và Hoa Lư huyền thoại” (2006) và nhiều phóng sự chuyên đề khác