Giáo trình Địa lý du lịch
Vùng du lịch Bắc Bộ
Phần 1: Vị Trí Địa Lý Vùng Tự Nhiên
1.Giới thiệu chung về vùng du lịch Bắc Bộ
Khi nhìn quả địa cầu tròn trịa, tại vùng Đông Nam Châu Á, Việt Nam chúng
ta khiêm tốn một dải đất hình chữ S ôm lấy, che chở bán đảo Đông Dương
lưng quay ra biển Đông. Từ lâu thế giới đã biết đến Việt Nam, bằng chứng
là các hoạt động thương mại diễn ra tại Hội An những năm thế kỷ XVI-
XVII. Thời gian này Việt Nam chỉ được biết đến như là một nơi có thể tìm
được những sản vật quý hiếm. Suốt 90 năm (1885-1975), thế giới biết đến
Việt Nam như là một biểu tượng bất khuất của các dân tộc bị áp bức trên thế
giới đã kiên cường chống lại những đế quốc hùng mạnh trên thế giới.
Ngày nay, Việt Nam ngày càng trở nên nổi bật trên trường quốc tế về khả
năng phát triển mạnh về mọi mặt, trong đó du lịch là một lĩnh vực được
dành nhiều ưu ái. Với lợi thế thiên nhiên cùng những cảnh quang độc đáo và
các di tích khảo cổ đặc sắc đã và đang thu hút du khách vào Việt Nam ngày
càng đông.
Vị trí địa lý cùng với sự phát triển lãnh thổ lâu dài và phức tạp đã tạo cho
Việt Nam một hoàn cảnh tự nhiên khá độc đáo. Ba phần tư diện tích đất liền
là đồi núi nhưng chủ yếu là đồi núi thấp và tập trung chủ yếu ở phía Bắc
Việt Nam. Trong số những đỉnh núi cao của Việt Nam có đỉnh Fansipan
(Lào Cai) cao nhất 3.143m được mệnh danh là nóc nhà của Đông Dương.
Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ (tả ngạn sông Hồng) có các nếp núi uốn
dạng hình cánh cung bao quanh khối núi vòm sông Chảy, mở rộng về phía
Tây Bắc quay mặt lồi về hướng Đông, một đầu chụm lại ở Tam Đảo. Các
cánh cung đó là Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn và Đông Triều. Địa hình
toàn khu vực co hướng nghiêng là Tây Bắc-Đông Nam. Phía tây Bắc giáp
biên giới Việt Trung có một số đỉnh núi cao trên 2.000m như Tây Côn lĩnh
cao 2.431m, Kiều Liên Ti cao 2.403m, Pu Ta Ca 2.274m. Vùng du lịch Bắc
bộ có những núi non hùng vĩ, những cánh rừng bạt ngàn với những rừng
nhiệt đới nguyên sinh nổi tiếng – xa là dãy Hoàng Liên Sơn, gần hơn là Tam
đứng một mình nơi cổng làng quanh năm che chở tỏa bóng mát cho bao
người dừng chân. Đây là miền đất được giành giật từ biển do sức lao động
bồi đắp cần cù nhẫn nại của sông Hồng qua hàng triệu năm cùng với bàn tay
lao động của con người. Vùng du lịch Bắc Bộ gắn liền với vùng tam giác
châu thổ sông Hồng – Thái Bình – một vùng văn hoá lúa nước nổi tiếng của
Việt Nam và vùng biển rộng với nhiều hải cảng tốt, bãi biển đẹp và tài
nguyên biển phong phú. Đây là nơi tập trung nhiều nhất các giá trị văn hóa,
những dấu tích xưa còn lưu lại nơi hoàng thành Thăng Long, những làn điệu
dân ca quan họ vùng Bắc Ninh tiêu biều cho loại hình dân ca trữ tình Bắc Bộ
như mời gọi níu chân du khách.
2.1.1-Hà Nội
Tiếp giáp với các tỉnh: Thái Nguyên ở phía bắc, Bắc Giang, Bắc Ninh và
Hưng Yên ở phía đông và đông nam, Hà Tây và Vĩnh Phúc ở phía tây. Hà
Nội có khoảng cách dài nhất từ phía bắc xuống phía nam là trên 50km và
chỗ rộng nhất từ tây sang đông 30km. Ðiểm cao nhất là núi Chân Chim:
462m (huyện Sóc Sơn); nơi thấp nhất thuộc phường Gia Thụy (quận Long
Biên) 12m so với mặt nước biển.Hà Nội nằm hai bên bờ sông Hồng, giữa
vùng đồng bằng Bắc Bộ trù phú và nổi tiếng từ lâu đời, Hà Nội có vị trí và
2
địa thế đẹp, thuận lợi để là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa
học và đầu mối giao thông quan trọng của cả nước
2.1.2-Vĩnh Phúc
Là tỉnh thuộc miền núi trung du Bắc bộ, cách thủ đô Hà Nội 60km về phía
bắc, tiếp giáp các tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên về phía bắc; phía đông
và đông nam giáp Hà Nội, phía tây giáp tỉnh Phú Thọ, phía nam và tây nam
giáp Hà Tây.
Nền kinh tế của tỉnh trong những năm gần đây đã dần đi vào ổn định. Năng
suất cây trồng khá, chăn nuôi gia súc, thủy sản phát triển ở hầu hết các địa
phương của tỉnh. Thiên nhiên đã tạo cho Vĩnh Phúc nhiều cảnh quan kỳ thú
như Tam Đảo, Tây Thiên, hồ Đại Lải… trong đó vùng núi Tam Đảo khí hậu
tỉnh Lạng Sơn. Phía tây giáp Bắc Giang, Hải Dương, phía nam giáp Hải
Phòng. Phía đông nam giáp biển Ðông với 250km bờ biển.
2.2.2-Hải Phòng
Thành phố biển Hải Phòng, một trong những trung tâm du lịch lớn của Việt
Nam, nằm bên bờ biển Đông – Thái Bình Dương; phía bắc giáp tỉnh Quảng
Ninh, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp tỉnh Hải Dương, phía nam
giáp tỉnh Thái Bình.
2.2.3-Dân tộc:
Việt (Kinh), Tày, Dao, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa, Tày, Nùng…
2.3.Tiểu Vùng du lịch miền núi Đông Bắc (Thái Nguyên, Tuyên Quang,
Hà Giang, Cao Bằng, lạng Sơn, Bắc Cạn)
2.3.1-Thái Nguyên
Là tỉnh miền núi và trung du nằm ở phía đông bắc Việt Nam. Phía bắc giáp
Bắc Kạn, phía tây và tây nam giáp Tuyên Quang và Vĩnh Phúc, phía đông và
đông nam giáp Lạng Sơn và Bắc Giang, phía nam giáp Hà Nội.
Thành phố Thái Nguyên nằm trên quốc lộ số 3 (Hà Nội – Cao Bằng). Đường
sắt từ đây nối liền với hệ thống đường sắt của cả nước. Thành phố Thái
Nguyên cách trung tâm Hà Nội là 80km.
2.3.2-Hà Giang
Phía bắc tỉnh Hà Giang giáp Trung Quốc (chiều dài đường biên 274km),
phía đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía tây giáp Yên Bái và Lào Cai, phía nam
giáp tỉnh Tuyên Quang.
2.3.3-Cao Bằng
Là một tỉnh miền núi ở phía bắc Bắc bộ. Phía bắc và phía đông Cao Bằng
giáp Trung Quốc, phía tây giáp Tuyên Quang và Hà Giang, phía nam giáp
Bắc Kạn và Lạng Sơn.
2.3.4-Lạng Sơn
Là một tỉnh nằm ở biên giới phía bắc có đường biên giới với Trung Quốc dài
253km. Phía bắc Lạng Sơn giáp tỉnh Cao Bằng, phía nam giáp tỉnh Bắc
Giang, phía đông giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), phía đông nam giáp
Du khách sẽ được thưởng thức món ăn dân tộc, đặc sản cơm lam, thịt nướng
rượu cần và xem các tiết mục cồng, chiêng, trống đồng, hát ví Mường, hát
Khắp Thái, hòa nhập vào đêm Hội xòe, ngủ nhà sàn dân tộc, mua hàng dệt
thổ cẩm và các lâm thổ sản quý… tại những bản Thái cổ
2.4.2-Phú Thọ
Là tỉnh thuộc miền núi trung du Bắc bộ. Phía bắc giáp Tuyên Quang và Yên
Bái; phía đông giáp Vĩnh Phúc; phía đông nam giáp Hà Tây; phía tây giáp
Sơn La; phía nam giáp Hoà Bình.
2.4.3-Điện Biên
Là tỉnh được tách ra từ tỉnh Lai Châu cũ, nằm ở phía nam sông Đà. Địa hình
Điện Biên có nhiều dãy núi chạy dài theo hướng tây bắc – đông nam. Lòng
chảo Mường Thanh ở Điện Biên lớn nhất vùng Tây Bắc. Phía bắc Điện Biên
giáp tỉnh Lai Châu, phía đông nam giáp Sơn La, phía tây bắc và tây nam
giáp Lào.
Tỉnh có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, giàu tiềm năng du lịch, đặc biệt là
cụm di tích lịchsử Điện Biên Phủ, với chiến thắng chấn động địa cầu năm
1954.
Từ Hà Nội lên Điện Biên Phủ, nếu đi đường không, chỉ sau một giờ bay, bạn
đã có mặt ở Điện Biên. Nếu đi theo đường bộ, bạn sẽ đi hàng trăm ki lô mét
5
đường đèo dốc và nhất thiết phải vượt đèo Pha Đin dài 32km. Với độ cao
trên 1.000m, khi lên dốc, lúc xuống dốc, con đường ngoằn ngoèo, chênh
vênh, một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm, lại
nhiều “cua tay áo” hiểm trở. Vượt đèo Pha Đin là cuộc hành trình lý thú cho
du khách trên vùng núi non hùng vĩ.
2.4.5-Lào Cai
là một tỉnh vùng cao biên giới, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc),
phía tây giáp tỉnh Lai Châu, phía đông giáp tỉnh Hà Giang, phía nam giáp
Yên Bái và Sơn La.
2.4.6-Yên Bái
6
đáng kể: dãy núi Tam Điệp chạy dài phía Bắc, giáp ranh giới với Sơn La,
Hòa Bình, Ninh Bình và Nam Định; dãy núi Pulông phía Tây, dãy núi
Quỳnh Lưu phía Nam, phía Đông có núi Lao, Ba Làng.
2.5.5-Dân tộc
Việt (Kinh), Tày, Mường, Hoa…
PHẦN 2 :TÀI NGUYÊN DU LỊCH CỦA VÙNG
I.Tài Nguyên Tự Nhiên
1.1Tiểu Vùng du lịch trung tâm (Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Bắc
Giang, Hà Nội, Hà Tây, Hưng Yên, Thái Bình).
1.1.1-Địa hình du lịch của vùng.
Vùng du lịch trung tâm Bắc Bộ gồm các tỉnh Hà Nội,Hải Dương,Hưng
Yên,Thái Bình,Bắc Ninh,Bắc Giang,Hà Tây,Vĩnh Phúc. Đây là tiểu vùng du
lịch thuộc đồng bằng sông Hồng. Địa hình của vùng nhìn chung thuộc kiểu
địa hình vùng đồng bằng và đồi núi thấp.
1.1.1.1-Địa hình đồng bằng
Đồng bằng châu thổ được bồi đắp bởi phù sa của các con sông đặc biệt là 2
con sông lớn:sông Hồng và sông Thái Bình.
Nhìn chung các tỉnh vùng trung tâm Bắc Bộ có địa hình đồng bằng khá bằng
phẳng. Độ cao trung bình từ 5-20m so với mực nước biển(Hà Nội),từ 2-3m
(Hải dương,Thái bình,Vĩnh phúc,Bắc ninh). Địa hình của vùng nghiêng và
thấp dần từ tây bắc xuống đông nam theo hướng chung của địa hình và cũng
theo hướng của dòng chảy sông Hồng. Địa hình bằng phẳng đất đai màu mỡ
do lớp bồi tích phù sa của sông Hồng và các phụ lưu nên rất thuận lợi cho
việc trồng và phát triển các loại cây nông nghiệp.
Cùng nằm trong vùng trung tâm như Hà tây, Hưng yên,Bắc giang thì địa
hình đồng bằng không bằng phẳng và có những đặc điểm phân dị khác nhau
theo từng khu vực. Ơ Hưng yên độ dốc trung bình là 8 cm/1km.
1.1.1.2-Địa hình đồi núi
Phần lớn các tỉnh trung tâm Bắc Bộ có địa hình đồi núi thấp và trung bình
Nhìn chung thảm động thực vật của vùng trung tâm Bắc Bộ không nhiều
song nếu biết bảo tồn và khai thác bảo vệ hợp lý thì đây cũng sẽ là cái nôi
cung cấp cho ngành du lịch nói riêng và 1 số các ngành kinh tế khác một
khối lượng nguồn tài nguyên sinh vật tương đối lớn cụ thể là. Hiện nay ở nội
thành Hà nội đã có hệ thống cây xanh với 46 loài khác nhau
như:sấu,phượng,hoa sữa,bằng lăng,xà cừ…trồng trên khắp các đường phố.
hà nội có 48 vườn hoa,công viên với tổng diện tích 138,3 ha và 377 ha thảm
cỏ. Ơ Hà nội còn có các làng hoa và cây cảnh như Nghi tàm, Ngọc hà,Quảng
bá …vốn rất nổi tiếng.
Ơ Hà tây tập trung vùng đồi gò và khu vực núi Ba vì với gần 2000 ha rừng
tự nhiên 7800 ha rừng trồng. Rừng Hà tây có nhiều loài chim, thú và có
nhiều loại cây gỗ quý đặc biệt tập trung ở vườn quốc gia Ba vì.
Ơ Hải Dương nguồn tài nguyên sinh vật quan trọng nhất của tỉnh là rừng Chí
Linh với diện tích 1800 ha. Đây là kiểu rừng ẩm thường xanh ở đai núi thấp.
Thành phần loài ở rừng Chí Linh khá phong phú và đa dạng gồm:117 họ,304
chi, 400 loài thực vật (103 loài cây cho gỗ như lát hoa,lim xanh,tán mật,128
loài cây dược liệu, 9 loài thực vật quý hiếm,13 loài cây làm cảnh) rừng Chí
Linh còn có một số loài động vật quý hiếm: Gà tiền mặt vàng, Sáo mỏ gà,
Cu ly lớn, Ech xanh, Tắc kè, Kỳ đà hoa, Chăn mốc.
Đặc biệt ở Vĩnh Phúc có vườn quốc gia tam đảo với trên 620 loài thân gổ và
thân thảo có cả gỗ quý như pơ nu, nhiều loại cây thuốc và một số loại rau có
8
giá trị. Động vật hoang rã trên núi tam đảo có rất nhiều loại: chim có tới 120
loài( Vàng anh, sơn tiêu trắng, sơn tiêu đỏ, gà tiền, gà nôi, họa mi, khiếu,
bách thanh, đa đa, phượng hoàng đất) thú rừng có khoảng 45 loài( báo gấu
vượn nai, hoãng, sơn dương …) đáng chú ý có một số loài thuộc diện quý
hiếm trên thế giới như cầy mực, sóc bay, vượn…
1.1.3-Khí hậu:
Nhìn chung vùng trung tâm bắc bộ khí hậu của vùng mang nét chung nhất
của khí hậu miền bắc Việt Nam: nhiệt đới ẩm, gió mùa , có mùa đông lạnh
hết các tỉnh thuộc vùng du lịch trung tâm Bác Bộ . Ngòai 2 hệ thống sông
9
chính là sông Hồng va sông Thái Bình còn có các con sông nhỏ va phụ
lưunhư : sông Cầu , sông Thương ( chảy qua Bắc Ninh , Bắc Giang ), sông
Dáy , sông Cà Lồ(chảy qua Vĩnh Phú), sông Tích , sông Tô Lịch chảy
quaHà Tây , Hà Nội … .Các coin sông này có tác dụng rất lớn đến việc phát
triển kinh tế của từng tỉnh . Sông không chỉ cung cấp nước tưới , nước sinh
họat cho nhân dân mà hàng năm còn cung cấp một lượng phù sa lớn thuận
lợi cho phát triển nông nghiệp , trồng các lọai cây hoa màu mang lại sản
luợng lớn cho họat động sản xuất nông nghiệp của vùng
Mặt khác với hệ thống sông ngòi dày đặc còn là cầu nối cho các tuyến giao
thông đừơng thủy tạo thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa giữa các tỉnh
Chế độ nước của vùng phân phối thành 2 mùa rõ rệt : mùa lũ từ tháng 6 đến
tháng 10, tập trung 70 đến 80 %tổng lượng nước cả năm . Cao điểm cuả mùa
lũ thường vào tháng 7 tháng 8. Mùa cạn từ tháng 10 đến tháng 5
1.1.4.2-Hồ
Nhìn chung các tỉnh của vùng du lịch trung tâm Bắc Bộ có một lượng lớn về
hồ. Đặc biệt là Hà Nội , Vĩnh Phúc . Hà Nội được xem là thủ đôcó nhiều hồ
trên thế giới với 3600 ha hồ , đầm , trong đó có 27 hồ , đầm lớn như Hồ
Tây , Trúc Bạch , Giảng Võ , Hòan Kiếm , Thủ Lệ.
Hồ Tây
Ở Vĩnh Phúc có hồ Đại Lải hình thành trên cơ sở một hồ chứa nước nhân tạo
, để đảm bảo nước tưới cho gần 3000 ha đất canh tác xung quanh sườn phía
Nam của chân núi Tam Đảo . Hồ rộng 525 hamặt hồ có độ cao trung bình là
21,5 m chứa đựơc 30,4 triệu m3. Khi mực nước hạ thấp trong lòng hồ xuất
hiện nhiều đảo nhỏ. Hồ Đại Lải là một trong những điểm du lịch thu hút du
khách đặc biệt là du lịch cuối tuần cho người dân thủ đô .
Ngòai một số hồ lớn thì trong vùng còn có những hồ nhỏ như : hồ Bến Tắm
(35 ha),hồ Tiên Sơn (50 ha) ỏ tỉnh Hải Dương , hồ Suối Hai , Hồ Đồng Mô
thuộc tỉnh Hà Tây…
nước . Đây là một lợi thế của vùng và quan trọng hơn là nhiều hồ trong vùng
là những điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia.
Hồ Tây là một hồ tự nhiên hình thành từ một khúc uốn của sông Hồng trước
đây. Hiện nay hồ Tây như là một lá phổi của thủ đô Hà Nội bởi cảnh quan ở
đây rất đẹp : mặt hồ khi thì phẳng lặng như mặt gương , khi tjì phủ kín
sương mù , khi thi nổi sóng to . Nhờ có mặt nước rộng , Hồ Tây có tác dụng
điều hòa khí hậu : mùa hè bớt nóng nực , mùa đông như ấm áp hơn. Hồ tây
là khu vui chơi giải trí rất thuận lợi cho nguời dân thủ đô và khách du lịch.
Hồ Đại Lải (Vĩnh Phúc ) có phong cảnh thiên nhiên đẹp , khí hậu rất thuận
lợi : mùa hè mát mẻ , mùa đông ấm áp , lượng mưa hàng năm thấp , khỏang
1300- 1400 mm , số ngày mưa ít phù hợp với nhiều loại hình du lịch trong
suốt cả năm.hơn nữa hồ Đại Lải có vị trí rất thuận lợi cho du khách đi từ Hà
Nội và các vùng phụ cận, chỉ cách Hà Nội có 50 km và rât gần sân bay Quốc
tế Nội Bài , rát thuận lợi cho phát triển du lịch và thu hút khách du lịch quốc
tế.
Hồ suối hai (Ba vì – Hà Tây) cũng là điểm du lịch hết sức lí tưởng đây là hồ
nhân tạo,trong lòng hồ có tới 14 đảo lớn nhỏ diện tích khoảng 90 ha.Ở ven
hồ có nhiều cây xanh,vườn cây ăn quả.Hồ rộng nước sạch,có nhiều bãi tắm
dẹp nên được khách du lịch rất ưa thích.Hệ sinh thái vùng hồ được bổ xung
thêm các đàn chim trời như lele,két , vịt trời………… làm cảnh quan thiên
nhiên thêm phong phú sinh động và hấp dẫn và thu hút nhiều du
khách.Ngoài ra điểm du lịch trung tâm Bắc Bộ còn có hệ thóng nước ngầm
rất lớn thuận lợi phát triển Công Nông nghiệp va đô thị.
11
1.1.5.2-Khó khăn:
Mặc dù tài nguyên tự nhiên của vùng du lịch trung tâm Bắc Bộ rất phong
phú và đa dạng để phát triển du lịch song việc khai thác và sử dụng cũng
như việc bảo vệ như thế nào của vùng cũng gặp rất nhiều khó khăn.
Phần lớn địa hình của vùng là đồng bằngvà đồi núi thấp nên ít tạo được lực
hấp dẫn đói với du khách vì ngoại hình rất đơn điệu không thích hợp cho
1.2-Tiểu Vùng du lịch duyên hải Đông Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng)
1.2.1-Địa hình vùng:
Vùng duyên hải Đông Bắc không phải là dải đất cuối cùng của miền Đông
Bắc nhìn thẳng ra biển khơi. Một vòng cánh cung khác gồm hơn nghìn đảo
12
lớn nhỏ sắp thành 2 hàng nối đuôi nhau chạy từ mũi Ngọc- Bán đảo lớn nhất
địa đầu phía bắc của Tổ quốc- đến Hòn Gai ở phía nam
Địa hình của Hải Phòng thay đổi rất đa dạng, phản ánh một quá trình địa
chất lâu dài và phức tạp
Phần Bắc Hải Phòng có dáng dấp một vùng trung du với những đồng bằng
ven đồi trong khi phần phía Nam thành phố lại có địa hình thấp và khá bằng
phẳng của một vùng đồng bằng thuần tuý nghiêng ra biển.
Đồi núi của Hải Phòng chỉ chiếm 15% diện tích chung của thành phố nhưng
lại chiếm hơn ½ phần Bắc thành phố từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc-
Đông Nam có quá trình phát sinh gắn liền với hệ núi Quảng Ninh thuộc khu
đồng bằng Bắc bộ về phía nam. Có 2 dải núi chính: dải đồi núi từ An Lão
đến Đồ Sơn nối tiếp không liên tục, kéo dài khoảng 30km có hướng Tây
Bắc- Đông Nam; dải Kỳ Sơn-Tràng Kênh và An Sơn- Núi Đèo.
Quảng Ninh là tỉnh miền núi – duyên hải. Hơn 80% đất đai là đồi núi – hơn
hai nghìn hòn đảo nổi trên mặt biển cũng đều là các quả núi. Có thể thấy các
vùng địa hình sau đây:
1.2.1.1-Vùng núi chia làm hai miền:
- Vùng núi miền đông từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Quảng Hà đến Móng Cái.
Đây là vùng nối tiếp của vùng núi Thập Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc, hướng
chủ đạo là đông bắc – tây nam. Có hai dãy núi chính: dãy Quảng Nam Châu
(1.507m) – Cao Xiêm (1.330m) chiếm phần lớn diện tích tự nhiên các huyện
Bình Liêu, Quảng Hà, dãy Ngàn Chi (1.166m) ở phía bắc huyện Tiên Yên.
- Vùng núi miền tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía bắc thị xã
Uông Bí và thấp dần xuống ở phía bắc huyện Đông Triều. Vùng núi này là
những dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi
một tiềm năng cảng biển và giao thông đường thủy rất lớn
1.2.2-Khí hậu:
Khí hậu ở vùng duyên hải Đông Bắc cũng lạnh không kém gì vùng Cao-
Lạng. Điều kiện khí hậu ở đây không thuận lợi lắm cho một số hoạt đông
kinh tế.
Ơ Hải Phòng, do nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa Châu Á, sát biển
đông nên chịu ảnh hưởng của gió mùa.
Mùa gió Bấc( mùa đông) lạnh và khô héo kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4.
Mùa gió Nồm( mùa hè) mát mẻ, nhiều mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1600-1800mm.
Bão thường xảy ra vào tháng 6 đến tháng 9.
Thời tiết Hải Phòng có 2 mùa rõ rệt, khí hậu tương đối ôn hoà. Do nằm sát
biển, về mùa đ6ng, Hải Phòng ấm hơn 10C, về mùa hè mát hơn 10C so với
Hà Nội.
Nhiệt độ trung bình hàng tháng: 200C- 230C
Nhiệt độ cao nhất có khi lên tới 400C, nhiệt độ thấp nhất ít khi dưới 50C
Độ ẩm trung bình hàng năm là 80-85%, cao nhất là 100% vào những tháng
7,tháng 8, tháng 9; thấp nhất là tháng 12, tháng1.
Khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Một
năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Đây là vùng nhiệt đới – gió mùa. Mùa
hạ nóng, ẩm, mưa nhiều, gió thịnh hành là gió đông nam. Mùa đông lạnh,
khô hanh, ít mưa, gió là gió đông bắc.
Nằm trong vùng nhiệt đới, Quảng Ninh có lượng bắc xạ trung bình hàng
năm 115,4 Kcal/cm2. Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm trên 21OC.
14
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm trên 21OC là 84%. Từ đó lượng mưa
hàng năm lên tới 1.700 – 2.400 mm, số ngày mưa hàng năm từ 90 – 170
ngày. Mưa tập trung nhiều vào mùa hạ (hơn 85%) nhất là tháng 7 và 8. Mùa
đông chỉ mưa khoảng 150 – 400mm.
So với các tỉnh Bắc Bộ, Quảng Ninh chịu ảnh hưởng gió mùa đông bắc
giao lưu, phát triển kinh tế- văn hoá- du lịch với hầu khắp các tỉnh thành của
Việt Nam và nhiều quốc gia tên thế giới.
Nằm trong ba trung tâm du lịch lớn ở miền Bắc Việt Nam là Hà Nội- Hải
Phòng- Hạ Long. Hải phòng có khu nghỉ mát với những bãi biển lượn quanh
bán đảo Đồ Sơn, vươn ra biển Đông tới 5km
15
Quảng Ninh có nhiều sông suối nhưng các sông đều ngắn, nhỏ, độ dốc lớn.
Lưu lượng và lưu tốc rất khác biệt giữa các mùa. Mùa đông, các sông cạn
nước, có chỗ trơ ghềnh đá nhưng mùa hạ lại ào ào thác lũ, nước dâng cao rất
nhanh. Lưu lượng mùa khô 1,45 m3/s, mùa mưa lên tới 1.500 m3/s chênh
nhau 1.000 lần.
Về phía biển Quảng Ninh giáp vịnh Bắc Bộ, một vịnh lớn nhưng kín lại có
nhiều lớp đảo che chắn nên sóng gió không lớn như vùng biển Trung Bộ.
Chế độ thủy triều ở đây là nhật triều điển hình, biên độ tới 3-4m. Nét riêng
biệt ở đây là hiện tượng sinh “con nước” và thủy triều lên cao nhất vào các
buổi chiều tháng mùa hạ, buổi sáng các tháng mùa đông những ngày có con
nước cường. Trong vịnh Bắc Bộ có những dòng hải lưu chảy theo phương
bắc nam kéo theo nước lạnh lại có gió mùa đông bắc nên đây là vùng biển
lạnh nhất nước ta. Nhiệt độ có khi xuống tới 13OC.
1.2.3.1- Nước và nước khoáng
Quảng Ninh có tài nguyên nước khá phong phú và đặc sắc: Nước mặt chủ
yếu là nước sông hồ. Các sông lớn là sông Ka Long (đoạn chủ yếu là đường
biên giới quốc gia giáp Trung Quốc), sông Hà Cối, sông Đầm Hà, sông Tiên
Yên, sông Phố Cũ, sông Ba Chẽ, sông Diễn Vọng, sông Trới, sông Míp,
sông Uông, sông Đạm, sông Cầm và ranh giới phía nam tỉnh là sông Kinh
Thầy nối với sông Đá Bạch chảy ra sông Bạch Đằng. Tổng trữ lượng tĩnh
các sông ước tính bằng 175 triệu m3 nước.
Trong tổng số 72 hồ đập có 28 hồ lớn với tổng dung tích là 195,53 triệu m3
nước. Lớn nhất là hồ Yên Lập ngăn cửa sông Míp (còn gọi là sông Đồn,
sông Yên Lập), dung tích 118 triệu m3. Hồ Khe Chè (Đông Triều) dung tích
Đảo lớn Cát Bà có vườn quốc gia Cát Bà rộng 600ha được thành lập từ ngày
23/5/1983, bảo tồn hệ sinh thái rừng nhiệt đới nguyên sinh với hơn 600 loài
thực vật với những vạt rừng nguyên sinh nhiệt đới tồn trữ nhiều loại cây
rừng như Báng, Gội Nếp, Săng lẻ, Kim Giao cùng nhiều loại động vật rất có
giá trị như: khỉ mặt đỏ, khỉ mặt vàng, sơn dương, hoẵng, rái cá, sóc đuôi đỏ,
sóc bụng đỏ, mèo rừng, nhím… đặc biệt là khỉ voọc đầu trắng sống từng
đàn, là loài thú quý hiếm trên thế giới chỉ mới thấy ở Cát Bà và các loại
chim như: hoạ mi, khiếu, vẹt, đa đa, đại bàng, hải âu, én…. Những núi đá
vôi ẩn chứa trong lòng nhiều hang động kỳ thú; những bãi tắm thiên tạo,
nước biển trong xanh bên những vùng biển tĩnh lặng nằm giữa các đảo đá;
những con suối tuôn chảy trên các triền núi rồi cả hồ trên núi, Cát bà là vùng
đất trù phú, đã được khai phá từ lâu đời. Ơ đây đã phát hiện được nhiều di
tích khảo cổ học thuộc thời kỳ đồ đá mới. Ngoài khơi xa là đảo Bạch Long
Vĩ nằm giữa vịnh Bắc Bộ. Ngoài ra còn có bãi biển Đồ Sơn ở ngoại thành
Hải Phòng. Ưu thế nổi bậc của Đồ Sơn là rất gần thành phố Hải
phòng(18km) và cách thủ đô Hà Nội không xa nên bân cạnh loại hình nghỉ
mát, tắm biển còn có điều kiện thuận lợi để phát tiển các loại hình nghỉ ngắn
ngày, hội nghị, thể thao để có thể tận dụng khả năng khai thác phục vụ du
lịch quanh năm.
Quảng Ninh là vùng đất đa dạng về địa hình, khí hậu thổ nhưỡng nên hệ sinh
thái cũng phát triển đa dạng và phong phú về chủng loại.
Động vật: trước hết là gia súc có trâu, bò, lợn, dê, gà, chó, mèo, thỏ, ngan,
ngỗng, vịt… Chăn nuôi đại gia súc khá phát triển ở miền núi. Đáng chú ý là
Quảng Ninh có giống lợn Móng Cái nổi tiếng vì dễ nuôi, chóng lớn, nạc
nhiều, sinh sản tốt. Các huyện miền Đông còn nuôi nhiều ngan lai vịt, tiếng
địa phương gọi là “cài sáy” thịt ngon, chóng lớn.
17
Quảng Ninh cũng là nơi nhập nhiều giống ngoại: trâu Mu-ra Ấn Độ, bò
Sinnơ Ấn Độ, bò sữa Hà Lan, ngựa, cừu, dê Mông Cổ. Tuy nhiên có một số
giống không thích nghi được chỉ phát triển một thời. Nay trong gia súc có
Trong đó ở Quảng Ninh có cây ba kích nổi tiếng. Với 3/4 diện tích tự nhiên
là rừng và ít rừng, nếu được bảo vệ và trồng thêm nhiều, rừng Quảng Ninh
sẽ phát huy thế mạnh và là một nguồn lợi lớn của Quảng Ninh.
Nhận xét:
Nhìn chung Quảng Ninh là một tỉnh có điều kiện tự nhiên đa dạng phong
phú về nhiều mặt. Đó là những tiềm năng to lớn để Quảng Ninh phát triển
một nền kinh tế khá toàn diện từ sản xuất công, nông, ngư nghiệp đến phát
18
triển thương mại, dịch vụ. Đặc biệt là Quảng Ninh có tiềm năng phát triển
du lịch rất lớn. Chính vì vậy mà Quảng Ninh đang là một trung tâm, một
trọng điểm, một chân kiềng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước,
trước hết là một tỉnh trong vùng tam giác kinh tế phía bắc: Hà Nội – Hải
Phòng – Quảng Ninh.
1.3- Tiểu Vùng du lịch miền núi Đông Bắc (Thái Nguyên, Tuyên Quang,
Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn)
1.3.1-Về địa hình:
Hầu hết các tỉnh miền núi Đông Bắc có điạ hình đồi núi cao, phức tạp và hệ
thống sông ngòi dày đặt. Địa hình thay đổi từ nơi này đến nơi khác. Nơi cao
nhất có hình thái núi trung bình là khu vực vòm sông chảy.
Những nhân tố ảnh hưởng đến địa hình ở đây là các đá kết tinh. Vận động
kiến tạo khá mạnh và lượng mưa lớn. Độ cao cùng với lượng mưa lớn dẫn
đến xâm thực theo chiều sâu diễn ra dữ dội, đa số thung lũng có dạng hẻm
vực, đồng thời sự tỏa mạnh của mạng lưới xâm thực đã chia cắt khoảng rộng
đường phân thủy ra thành nhiều mảnh.
Vì vậy hầu hết các tỉnh ở đây có hình thể phức tạp như tỉnh Tuyên Quang có
nhiều dãy núi cao, ngăn cách nhau bởi lưu vực của bốn con sông chính chảy
qua tỉnh giữa sông Hồng Hà và sông Chảy là dãy núi Côn cao 800m. Kế tiếp
là dãy mỏ Rô và Sáu Tàu rồi đến những ngọn núi thấp dần.
Giữa sông Chảy vàsông Lô là núi Khánh. Dãy núi ngăn cách sông Chảy với
thung lũng sông Bách . Núi Nùng, núi La cao 1000 – 1100m và núi Bách
núi Đông Bắc tương đối thuận lợi, rất thuận lợi cho việc tổ chức du lịch vào
mùa đông.
1.3.3-Động – Thực Vật :
- Hiện nay mức sống của con người ngày càng cao thì nhu cầu nghỉ ngơi
tham quan du lịch và giải trí, trở thành nhu cầu cấp thiết. Thị hiếu về du lịch
ngày càng đa dạng và phong phú ngoài một số hình thức truyền thống như
tham quan phong cảnh. Các di tích văn hoá lịch sử của loài người, đã xuất
hiện rất lớn khách du lịch. Đó là du lịch các khu bảo tồn thiên nhiên với đối
tượng là các loài động vật, thực vật, việc tham quan du lịch trong thế giới
động vật, hài hoà trong thiên nhiên làm cho con người yêu thêm cuộc sống.
- Tài nguyên thực- động vật ở vùng bắc bộ rất phong phú và đa dạng với
động vật bao gồm những loài thú quí hiếm: hưu, chim, các loài bò sát quí
hiếm … có giá trị kinh tế cao trong đó có một số loài động vật được ghi vào
sổ đỏ góp phần cho sự đa dạng về động vật thu hút sự tham quan nghiên cứu
tạo điều kiện phát triển cho vùng bên cạnh động vật thì hệ thực vật ở đây rất
đa dạng gồm các loài như: Đinh, Liêm, Sếu, Tàu, Gõ …tạo điều kiện cho
các ngành khai thác và chế biến lâm sản là nơi cư trú an toàn cho các
loàiđộng vật mang lại nền kinh tế cap như vậy tài nguyên động, thực vật ở
đây co ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành du lịch Bắc Bộ.
1.3.4-Tài nguyên nước :
Tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm. Đối với du
lịch Bắc Bộ thì nguồn nước có ý nghĩa rất lớn. Nước không những cung cấp
cho tưới tiêu, thuỷ điện mà nước được dùng cho các nhà tắm, nhằm mục
đích du lịch. Nước được sử dụng tuỳ theo nhu cầu cá nhân theo độ tuổi, và
theo nhu cầu quốc gia.
- Taì nguyên nước không chỉ có tác dụng phục hồi trực tiếp mà còn ảnh
hưởng đến các thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt nó làm dịu
khí hậu quen bờ.
20
- Ngoài ra nước còn cần thiết cho đời sống để uống, vệ sinh, và các nhu cầu
Lào Cai, Yên Bái, Sơn La)
1.4.1.Địa hình
Chủ yếu là núi rừng, cao nguyên hùng vĩ, xen kẽ với các sườn núi là các
thung lũng hẹp
Địa hình Lo Cai kh phong ph gồm nhiều loại hình, cĩ địa hình thung lũng, cĩ
địa hình vng ni thấp, địa hình vng ni cao v cc đỉnh núi rất cao như đỉnh
Phanxiphăng – nóc nhà của tổ quốc cao 3.143m…
Giá trị về du lịch :
21
Ø Du lịch thám hiểm
Ø Du lịch thể thao
Ø Du lịch nghỉ dưỡng
Ø Du lịch nguyên cứu khoa học địa chất, địa hình
Ø Du lịch hang động
1.4.2.Khí hậu :
Nóng ẩm, nhiệt độ trung bình khỏang 210C-250C.Khí hậu chia làm 2 mùa
rõ rệt:mùa đông rét lạnh và khô, ít mưa; mùa hè mưa nhiều ,không có bão,
khí hậu mát mẻ.
Tác động của khí hậu đến khai thác các loại hình du lịchí
Ø Du lịch tắm biển, nghỉ mát:
o Số ngày nắng nhiều
o Số ngày nắng trên ngày
o Nhiệt độ trung bình của khí hậu và nước
(20-250C)
Ø Du lịch leo núi
Ø Du lịch nghỉ dưỡng :Ở đây có thể khai thác được nguồn nứơc khoáng theo
các mạch nước suối tự nhiên hay nằm sâu trong lòng đất, được chế biến làm
nứơc giải khát hoặc để chữa bệnh, đủ sức thỏa mãn mọi nhu cầu của khách
du lịch . Như nguồn nứơc khoáng Kim Bôi (Hòa Bình ) đạt tiêu chẩn chất
lượng cao và có thể khai thác tốt.
Thuộc xã Thea La, thị xã Sơn La, nước khoáng ở đây có nhiệt độ 35-400C.
Rất thịch hợp với việc chữa trị và dưỡng bệnh.
+ Đầm Ao Châu ở Phú Thọ.
Ao Châu là một hồ nước lớn diện tích khoảng 2 km2, nằm ở địa phận ba xã
Am Thượng (cũ), Am Hạ và Y Sơn thuộc huyện Hạ Hoà cách thành phố
Việt Trì 70 km. Du khách có thể đi bằng đường bộ, đường sắt hoặc đường
thuỷ đến Ao Châu đều thuận tiên.
Đầm Ao Châu có hình dạng như đầu của con trâu, có hai sừng choải về phía
sông Thao và sông Chảy. Mặt đầm trải rộng mênh mông, phẳng lặng, nước
hồ trong xanh quanh năm. Vào những đêm trăng sáng Đầm Ao Châu trông
giống như bức tranh thuỷ mạc với rừng cọ, đồi chè, đồi mơ, đồi vải soi bóng
lung linh trên mặt nước. Đầm có 99 ngáchnày được ví như 99 con giao long
đang trườn vào đầm ngập nước.
+ Suối nước nóng Kim Bôi.( Hoà Bình )
Từ thị xã Hoà Bình đi 30 km đến nhà nghỉ mang tên một người bản Mường
là nhà nghỉ mỏ đá Kim Bôi . Nhà nghỉ được xây ở bên cạnh nơi có mạch
nước khoáng lớn nhất, vì vậy ngồi trong phòng vẫn nghe thấy tiếng nước
phun lên ào ào vô tận. Nước phun lên luôn luôn ở nhiệt độ 360C. Qua kiểm
nghiệm nguồn nước khoáng Kim Bôi có đủ tiêu chuẩn dùng làm nước uống,
ngâm mình chữa các bệnh về khớp, đường ruột, dạ dày, huyết áp…
Nước suối Kim Bôi dã được đóng chai làm nước giải khát, nó cùng loại với
nước khoáng Thạch Bích ở Quảng Ngãi, Kum-dua ở Nga và Pa ven Bảbia
của Hung gải.
+Công trình thuỷ điện Hoà Bình trên sông Đà. (Hoà Bình)
Từ Hà Nội theo Quốc Lộ 6 đi 70Km đến thị xã Hoà Bình, đi tiếp về phía
thượng lưu sông Đà 1.5 Km là đến nhà máy thuỷ điện Hoà Bình lớn nhất
Việt Nam, công suất 1,92 triệu KW. Điện năng hàng năm đạt gần 8 tỷ
KW/h.
Hồ chứa nước của nàh máy còn là hồ nuôi cá, cải tạo môi sinh, hồ du lịch.
23
+ Tự nhiên thuận lợi về tài nguyên thiên nhiên của vùng tạo được nhiều loại
hình du lịch sinh thái, hấp dẫn du khách khai thác được tài nguyên thiên
nhiên.
+ Khó khăn và tồn tại:
- Mặc dầu như vậy cần khai thác và bảo vệ hợp lý nguồn tài nguyên, môi
trường và du lịch đang sử dụng.
- Nâng cao ý thức để nhận rõ đặc điểm môi trường thiên nhiên, khi du khách
đang hoà mình vào đó.
- Không săn bắn và đàu tư vào đó hợp lý để tạo thêm điểm du lịch mới.
24
Yên Bái là tỉnh có nhiều dải rừng lớn. Rừng có nhiều gỗ quí như pơmu, lát
hoa, chị chỉ… Nhiều cy dược liệu và nhiều loại động vật quí hiếm. Sản vật
của tỉnh Yên Bái là quế Văn Yên, chè Suối Giàng, nếp Tú Lệ. Yên Bái có
mỏ đá quí nổi tiếng Lục Yên.Thành phố Yên Bái là trung tâm chính trị, kinh
tế, văn hoá của tỉnh. Tỉnh Yên Bái có nhiều di tích lịch sử văn hóa đặc biệt
là hồ Thác Bà, một trung tâm sinh thái, giải trí, leo núi, khám ph rừng tự
nhin. Thắng cảnh Yn Bi cịn giữ được nhiều vẻ hoang sơ, môi trường sinh
thái chưa bị ô nhiễm rất hấp dẫn đối với khách du lịch.
Sơn La, một địa bàn lý tưởng để chăn nuôi bị sữa trn cao nguyn Mộc Chu,
pht triển cy du, nuơi tằm, ươm tơ dệt lụa, là vùng đất có nhiều ưu thế phát
triển cây cà phê, cây chè và nhiều loại cây ăn quả. Một vùng đất có thể phát
triển công nghiệp khai khoáng, chế biến chè và nông, lâm sản khác.
Sơn La có lễ hội Hoa ban của dân tộc Thái, có bản Hìn, danh thắng Yn Chu,
hang Thẩm Tt Toịng.
1.5.Tiểu Vng du lịch Nam Bắc Bộ(Nam Định, Thanh Hóa, Ninh Bình,
Hà Nam):
1.5.1-địa hình
Tương đối phức tạp đa dạng :
v Đồng bằng : Có những thềm phù sa cổ đôi chỗ còn là thềm hỗn hợp, không
phải hòan tòan đồng nhất. Tùy theo từng khu vực lại có những quá trình địa