nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng rau an toàn tại xã quảng thành – quảng điền – thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi nền kinh tế ngày một phát triển, đời sống xã hội ngày càng được
nâng cao thì nhu cầu về rau càng tăng lên về số lượng và chất lượng để bảo vệ
sức khỏe cho con người và môi trường.
Giá trị của rau còn được thể hiện nhiều mặt trong cuộc sống. Rau xanh
không chỉ là thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, gia cầm, nguyên
liệu cho chế biến thực phẩm mà còn là một mặt hàng có giá trị kinh tế lớn.[2]
Rau xanh nói chung và rau an toàn nói riêng là cây trồng mang lại hiệu
quả kinh tế cao, góp phần nâng cao đời sống, tạo việc làm, tăng thu nhập xóa
đói giảm nghèo, cải tạo môi trường sinh thái, bảo vệ sức khỏe con người,
ngoài ra nó còn góp phần làm tăng nhanh kim nghạch xuất khẩu của đất nước.
[4]
Trong những năm qua, Thừa Thiên Huế rất quan tâm đến sản xuất rau an
toàn và phát triển trên diện rộng, nhưng đến nay việc mở rộng diện tích sản
xuất rau an toàn ra toàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn và lúng túng. Đó là quy
hoạch sản xuất rau an toàn chưa hợp lý về cơ cấu chủng loại, tổ chức sản xuất,
các quy định, chính sách sản xuất rau an toàn vẫn chưa tương xứng với tiềm
năng, thế mạnh của vùng, khâu chế biến và xuất khẩu rau còn yếu kém, khâu
phân phối và kênh tiêu thụ rau an toàn còn nhỏ lẻ và đơn điệu.
Xã Quảng Thành - Quảng Điền - Thừa Thiên Huế là một xã có kinh
nghiệm trồng rau nhiều năm nay và thuận lợi là đất đai phì nhiều, tươi xốp,
nguồn nước dồi dào rất thuận lợi cho mô hình trồng rau xanh. Chính vì vậy
hiện nay toàn xã đã tổ chức sản xuất được 68 ha rau, trong đó có 1,6 ha sản
xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGap. Trong vài năm tới xã sẽ chuyển
dịch từ trồng lúa sang trồng rau an toàn lên khoảng 2,2 ha.
Mặc dù vậy, sản xuất rau an toàn tại xã Quảng Thành chưa thực sự phát
triển, thu nhập của người sản xuất rau an toàn vẫn chưa cao bởi quá trình tiêu
thụ rau an toàn còn gặp phải một số khó khăn, trở ngại vì người tiêu dùng
chưa thực sự tin tưởng sản phẩm rau là rau an toàn. Quá trình tiêu thụ sản
phẩm rau an toàn còn mang tính tự phát, chưa có hệ thống nên người dân sản

để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh và chuyển giao sản phẩm đó tới người tiêu
dùng cuối cùng.[11]
Trong một chuỗi sản xuất - cung ứng: Dòng luân chuyển thông tin
thường không phải là chủ yếu mà mục tiêu chính hướng đến là chi phí và giá.
Chiến lược sản xuất thường tập trung vào các sản phẩm, hàng hoá cơ bản.
Định hướng của chuỗi sản xuất - cung ứng chủ yếu là hướng cung Vấn đề
trọng tâm của chuỗi sản xuất chính là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
và kết cấu tổ chức trong chuỗi là các tác nhân tham gia độc lập.[11]
2.1.2. Khái niệm chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị hàng hóa - dịch vụ là nói đến những hoạt động cần thiết để
biến một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm khác nhau, đến
khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng.
Một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt
động và có trách nhiệm tạo ra giá trị tối đa trong toàn chuỗi.[11]
Chúng ta có thể hiểu khái niệm này theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng.[11]
Nếu hiểu chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp thì chuỗi giá trị là một khối liên kết
dọc hoặc một mạng liên kết giữa một số tổ chức kinh doanh độc lập trong một
chuỗi sản xuất. Hay nói cách khác một chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt
động thực hiện trong một đơn vị sản xuất để sản xuất ra một sản phẩm nhất
định. Tất cả các hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất
với người tiêu dùng, mặt khác mỗi hoạt động lại bổ xung giá trị cho sản phẩm
cuối cùng.
3
Nếu hiểu Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng thì đó là một phức hợp những hoạt
động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện để biến một nguyên liệu
thô thành thành phẩm được bán lẻ. Kết quả của chuỗi có được khi sản phẩm
đã được bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
Như vậy, khái niệm về chuỗi giá trị đã bao hàm cả tổ chức và điều phối,
các chiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau
trong chuỗi.

2.1.4. Khái niệm về tác nhân
Tác nhân là một tế bào sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và tự
quyết định hành vi của mình. Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những
doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt động
kinh tế của họ. Tác nhân được phân ra làm hai loại:
Tác nhân là người thực hiện và tác nhân tinh thần có tính tượng trưng.
Nếu theo nghĩa rộng, người ta dùng tác nhân để nói một tập hợp các đơn vị có
cùng một hoạt động.[11]
2.1.5. Khái niệm sản phẩm
Trong một ngành hàng, mỗi tác nhân đều tạo ra một sản phẩm riêng của
mình, trừ những sản phẩm bán lẻ cuối cùng. Sản phẩm của mọi tác nhân khác
chưa phải là sản phẩm cuối cùng của ngành hàng mà chỉ là kết quả của hoạt
động kinh tế, là đầu ra quá trình sản xuất, của từng tác nhân. Do tính chất
phong phú về chủng loại sản phẩm nên trong phân tích ngành hàng thường
chỉ phân tích sự vận hành của các sản phẩm chính. Sản phẩm của ngành hàng
thường lấy tên sản phẩm của tác nhân của tác nhân đầu tiên. [11]
2.2. Khái niệm rau an toàn
Rau an toàn là những sản phẩm rau tươi bao gồm tất cả các loại rau ăn
củ, thân, lá, hoa, quả có chất lượng đúng với đặc tính giống của chúng, hàm
lượng các chất hóa độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu
chuẩn cho phép, an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được coi là
đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là rau an toàn.[10]
Rau an toàn phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Sạch, an toàn về chất lượng: Khi sản phẩm rau không chứa các dư
lượng dưới đây vượt ngưỡng cho phép
+ Thuốc bảo vệ thực vật
+ Hàm lượng nitrat
5
+ Kim loại nặng
+ Vi sinh vật gây hại

+ Nước tưới cho rau không bị ô nhiễm bởi các sinh vật và hoá chất độc hại,
hàm lượng một số hoá chất không vượt quá mức cho phép tại Phụ lục 2 của.
[10]
Trước khi sản xuất RAT và trong quá trình sản xuất khi thấy có nguy cơ
gây ô nhiễm phải lấy mẫu nước kiểm tra. Phương pháp lấy mẫu nước theo
Tiêu chuẩn TCVN 6000:1995 đối với nước giếng, nước ngầm, hoặc Tiêu
chuẩn TCVN 5996:1995 đối với nước ao, hồ, sông rạch.
- Quy trình sản xuất RAT
Tổ chức, cá nhân sản xuất RAT phải cam kết thực hiện các quy trình sản
xuất RAT do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc tỉnh, thành phố
nơi tiến hành sản xuất ban hành.
Trong thời gian chờ soát xét, chuyển đổi các quy trình sản xuất RAT
hiện có cho phù hợp với Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn và Hướng dẫn thực
hành nông nghiệp tốt (GAP), các tổ chức, cá nhân được phép sử dụng các quy
trình sản xuất RAT hiện có do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và
tỉnh, thành phố đã ban hành.
- Điều kiện sơ chế rau
+ Có địa điểm, nhà xưởng, nguồn nước rửa, dụng cụ sơ chế, phương
tiện vận chuyển, bao gói sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn theo QTSXRAT.
+ Người lao động không bị bệnh truyền nhiễm và được tập huấn về sơ
chế RAT.[9]
2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên Thế giới và Việt Nam
2.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên Thế giới
Theo số liệu thống kê năm 2006, thì diện tích trồng rau trên thế giới là
3.137.682,4 ha với năng suất đạt 219,88 tạ/ ha và tổng sản lượng đạt
68.991380 tấn. trồng rau lớn nhất là Trung Quốc 1.720.050 ha, đứng thứ hai
là Ấn Độ với 290.300 ha và Liên Bang Nga đứng thứ ba với 164.160 ha.
Chính vì thế mà sản lượng Trung Quốc đứng đầu thế giới với 34.826.150 tấn
chiếm 50,48% sản lượng rau toàn thế giới, sau đó là Ấn Độ chiếm 8,91%,
đứng thứ ba là Liên Bang Nga chiếm 5,90%. Bên cạnh đó, việc áp dụng tiến

(143,332 nghìn tấn), Anh (140, 839 nghìn tấn), Đức (116,866 nghìn tấn).
Trong đó 5 nước chi tiêu cho nhập khẩu lớn nhất thế giới chi tiêu nhập khẩu
rau lớn trên thế giới là: Đức(149.140 nghìn USD), Pháp 132.942 nghìn USD;
Canada 84.496 nghìn USD ; Trung quốc 80.325 nghìn USD; Nhật Bản 75.236
nghìn USD
Nhiều nước trên thế giới ngày càng có nhiều chủng loại rau, tăng diện
tích và năng suất để đáp ứng nhu cầu về rau xanh ngày một tăng. Theo FAO,
dự báo thị trường rau của thế giới thì thị trường rau quả vẫn không đủ cầu.
Thời kỳ 2000 đến 2010 nhu cầu nhập khẩu rau quả của các nước trên thế giới
sẽ tăng do mức tăng tiêu thụ rau bình quân, dự báo nhu cầu tăng 3,6% trong
khi mức tăng sản lượng rau quả chỉ đạt 2,8%.[2]
8
2.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam
Nước ta có lịch sử nghề trồng rau lâu đời, quá trình phát triển nghề trồng
rau gắn liền với công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước qua nhiều
thời đại: Theo sổ sách ghi chép từ đời Hùng Vương, bầu bí đã được trồng
trong các vườn rau gia đình. Rau được nhập vào nước ta từ thời Lý thế kỷ thứ
X. Năm 1721- 1783 Lê Quý Đôn đã tiến hành tổng kết các vùng phân bố rau
và thấy trước thế kỷ XIX rau được trồng nhiều ở các vùng phụ cận thủ đô
Thăng Long nay là Hà Nội.[2]
Theo số liệu của FAO 2006, diện tích trồng rau là 40.000 nghìn ha tăng
70,06 % so với năm 2001 (23.456 nghìn ha), bình quân hằng năm tăng 14,092
%. Trong những năm gần đây nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại
trong quá trình sản xuất do đó năng suất có tăng lên tuy nhiên so với mức
trung bình của thế giới thì còn thấp. Tính đến năm 2006 năng suất đạt 175 tạ/
ha, đạt 76,58 % so với mức trung bình của thế giới là 219,88 tạ/ha. Sản lượng
đạt 700.000 nghìn tấn tăng 54,22 % so với năm 2001 và đây là năm có năng
suất trung bình cao nhất từ trước đến nay. Tổng sản lượng rau cả nước năm
2006 đạt 700.000 nghìn tấn, đạt giá trị 144.000 tỷ đồng, chiếm 9 % GDP của
nông nghiệp Việt Nam, trong khi diện tích chỉ chiếm 6%. Với khối lượng

hiện tại lao động trong một ngày hoạt động nặng cần dùng 400 - 500g rau; lao
động nhẹ cần 300 - 350g rau, lứa tuổi 10 - 13 cần dùng 150 – 200g rau. Theo
hội thảo rau trái vụ ở miền trung cho thấy được lượng rau tiêu thụ bình quân
10
trên đầu người/ năm tăng liên tục, đặc biệt là năm 2000 lượng rau tiêu thụ
tăng nhanh đạt 82,3kg/người/năm so với 1997 là 64,9kg/người/năm.
Qua bảng cho ta thấy việc sử dụng rau ở Việt Nam chủ yếu là rau ăn lá.
Rau ăn lá chiếm trên 80% tổng số loại rau. Có mức chênh lệch tiêu thụ giữa
các vùng trong đó Hà Nội , thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng là nhưng
nơi có lượng rau tiêu thụ bình quân đầu người lớn nhất cả nước. [7]
Bảng 2: Mức tiêu thụ rau của một số Thành phố lớn [3],[7]
Thành phố Tổng (kg) Cơ cấu các loại rau thêo tỉ lệ %
Ăn lá Ăn quả Ăn củ Rau gia vị
Hà Nội
112 82 6 8 4
Hồ Chí Minh
98 80 12 6 2
Hải Phòng
103 85 4 6 5
Huế
73 90 2 4 4
Đà Nẵng
82 92 2 2 2
Cũng theo thống kê kim ngạch xuất khẩu rau quả cả nước trong tháng
4/2008 đạt 29,6 triệu USD, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả trong 4
tháng đầu năm 2008 tăng lên 118,1 triệu USD, tăng 148% so với cùng kỳ năm
2007. Phần lớn rau quả nước ta xấu khẩu chủ yếu sang các thị trường Đài
Loan, Trung Quốc, Nhật Bản, Liên Bang Nga…trong đó lượng rau xuất khẩu
sang EU chiếm một phần rất nhỏ. Các loại rau chủ yếu xuất sang thị trường
EU là ớt, khoai môn, bắp cải, dưa leo, cà tím cũng chiếm một vị trí rất khiêm

tấn rau, thứ hai Quảng Điền 9.943 tấn rau và thứ ba là TP Huế với 6.832 tấn.
12
Bảng 3: Diện tích, năng suất và sản lượng rau tại các địa phương tại
Thừa Thiên Huế
Tên huyện,
thành phố
Diện tích
(ha)
Sản lượng
( tấn)
Năng suất
(tạ/ha)
Năm
2002 2006 2002 2006 2002 2006
Tổng số
3.297 4.750 29.914 43.485 90,70 91,50
TP Huế
560 560 1.849 6.832 140,2 122,00
Phú Vang
856 1.352 7.233 12.088 84,50 89,40
Hương Trà
424 529 3.843 5.477 90,60 105,40
Hương
Thủy
280 312 2.830 2.677 85,00 85,10
A Lưới
90 158 602 1.054 66,90 66,70
Phú Lộc
156 205 1.399 1.799 87,70 88,00
Nam Đông

Riêng ở Quảng Thành có 68 ha canh tác rau các loại trong đó các loại
rau chủ lực là rau cải, xà lách, tần ô, rau thơm. Trong đó diện tích sản xuất rau
an toàn là 1,6 ha.
Ở Quảng Thọ, tập trung ở HTX Quảng Thọ 2 gồm chủ lực là rau má và
một số loại rau khác như: cải, xà lách, và các loại cà, bầu bí ….

14
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng:
Là các hộ tham gia sản xuất rau an toàn, tác nhân thu gom, các tác nhân
bán buôn, bán lẻ.
3.2. Nội dung
- Điều kiện tự nhiên của xã Quảng Thành - Quảng Điền – Thừa Thiên Huế
(Vị trí địa lý, đất đai, các yếu tố khí hậu: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, đất
đai, thủy lợi)
- Tình hình kinh tế xã hộ xã Quảng Thành - Quảng Điền – Thừa Thiên
Huế (dân số, lao động việc làm, thu nhập, tập quán trồng trọt)
- Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của các hộ tại xã Quảng
Thành - Quảng Điền - Thừa Thiên Huế (diện tích, năng suất, sản lượng, tình
hình tiêu thụ, các biện pháp kỹ thuật áp dụng, khả năng đầu tư)
- Đặc điểm của thị trường rau của xã Quảng Thành - Quảng Điền – Thừa
Thiên Huế.
- Đặc điểm của các tác nhân tham gia thị trường rau an toàn ở Quảng
Thành
- Hình thành giá sản phẩm, chi phí, phân chia lợi nhuận qua các tác nhân.
- Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình tiêu thụ rau an toàn
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu
- Phương pháp chọn điểm

+ Tình hình sản xuất, tiêu thụ, các kênh tiêu thụ và những thuận lợi khó
khăn trong tiêu thụ rau an toàn của người dân.
- Phỏng vấn hộ (phỏng vấn bằng bảng hỏi bán cấu trúc)
- Phỏng vấn tác nhân thu gom (phỏng vấn bằng bảng hỏi bán cấu trúc)
- Phỏng vấn tác nhân bán lẻ (phỏng vấn bằng bảng hỏi bán cấu trúc)
- Thảo luận nhóm
Tiến hành hai cuộc thảo luận nhóm nông dân và thảo luận nhóm bán
buôn bán lẻ
16
Lần 1: Với số hộ tham gia là 8 hộ, trong đó có sự tham gia của thôn
trưởng thôn Thành Trung ông Nguyễn Quang Hòa và chủ Doanh nghiệp hóa
châu ông Nguyễn Đình Định nhằm tìm hiểu về tình tình sản xuất rau an toàn,
các kênh tiêu thụ rau và lượng rau bán qua các kênh, thuận lợi khó khăn mà
họ đang gặp phải.
Lần 2: Tiến hành thảo luânh nhóm tác nhân thu gom, bán buôn bán lẻ
với số tác nhân tham gia là 4 người trong đó có chủ doanh nghiệp hóa châu là
tác nhân thu gom bán tại các siêu thị nhà hàng. Với mục đích tìm hiểu các
kênh tiêu thụ rau an toàn tại địa phương, mối quan hệ giữa các tác nhân giữa
các kênh tiêu thụ, lượng rau tiêu thụ của các kênh tiêu thụ, thuận lợi khó khăn
và những ý kiến đề xuất nhằm phát tiển hệ thống kênh phân phối rau tại địa
phương. Trong quá trình thảo luận nhóm có sử dụng công cụ thẻ màu lấy ý
kiến người dân.
3.3.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Phương pháp phân tích số liệu
Các thông tin định tính và một số thông tin thứ cấp được tổng hợp, phân tích
và kiểm chứng qua phỏng vấn hộ và các bên liên quan đến thông tin đó.
- Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được mã hóa, và xử lý trên phần mềm Excel.

17

0
c do vậy phù hợp cho sản xuất nông nghiệp
và nuôi trồng thuỷ sản.
- Mật độ nắng bình quân trên địa bàn xã Quảng Thành khoảng 1952
giờ/năm, tuy nhiên có sự chênh lệch giữa hai mùa khoảng 100 - 120 giờ chiếu
sáng, số giờ chiếu sáng bình quân mùa nắng cao hơn mùa mưa từ 3 - 4 giờ.
- Lượng mưa trung bình trên địa bàn xã hàng năm khoảng 2.955
mm
, năm
cao nhất lên tới 4.927
mm
, năm thấp nhất khoảng 1.850
mm
. Số ngày mưa bình
quân/năm khoảng 160 ngày, chiếm 43% số ngày trong năm. Mưa tập trung
nhiều vào đầu tháng 9 đến tháng 12 hàng năm và thường xảy ra lũ lụt do
lượng mưa những tháng này thường chiếm từ 70 - 75% lượng mưa của cả
năm.
4.1.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
- Tình hình dân số và lao động
Toàn xã hiện có 2.625 hộ trong đó có khoảng 11.862 nhân khẩu, người
trong độ tuổi lao động khoảng 6.012 người
Đặc điểm lao động của địa phương tương đối trẻ, chiếm khoảng 60%
tổng số lao động trong độ tuổi. Lực lượng này phần lớn có trình độ và có
19
khoảng 30% đã qua đào tạo nghề. Tuy nhiên đa số lực lượng này đã đi làm ăn
ở ngoại tỉnh, số lao động trẻ trong nông nghiệp còn lại rất ít.
Hộ tham gia sản xuất nông nghiệp là rất lớn 2016 hộ chiếm khoảng 76,8
% số hộ trong toàn xã. Hộ tham gia sản xuất rau là 600 hộ. Trong đó có 12 hộ
tham gia dự án trồng rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGiap.

1.1.1. Đất trồng lúa 529,78 76,35
1.1.2. Đất trồng cây hằng năm khác 72 10,37
1.2. Đất trồng cây lâu năm 0,16 0,03
2. Đất nuôi trông thủy sản 91,94 13,25
(Nguồn: báo cáo xã Quảng Thành, 2010)
- Quảng Thành là một xã chủ yếu sản xuất nông nghiệp thể hiện qua cơ
cấu thu nhập từ nông nghệp, diện tích sản xuất Năm 2010 toàn xã đã gieo
cấy 1.020 ha, năng suất lúa đạt 133 tạ/ha, với tổng sản lượng cả năm là 6.783
tấn, đã mang lại nguồn thu rất lớn trong cơ cấu thu nhập của người dân trong
xã.
Xã Quảng với lợi thế là vùng có kinh nghiệm trong trồng rau và họ hiểu
được cây rau là cây trồng có giá trị thu nhập cao nên tổ chức chuyển đổi cơ
cấu cây trồng từ trồng lúa sang trồng rau. Do đó hiệu quả mà cây rau mang
lại là rất cao và chiếm tỷ trọng lớn trong ngành trồng trọt chỉ đứng sau cây
lúa. Năm 2010 toàn xã đã tổ chức sản xuất với diện tích 68 ha, năng suất
trung bình đạt 51,47 tạ/ha, sản lượng đạt 3.500 tấn, và hiện đang thực hiện đa
dạng hóa sản phẩm, rau trái vụ, phù hợp thị trường tiêu thụ và điều kiện canh
tác.
Năm 2010 xã đưa vào sản xuất 4 ha Lạc tại vùng cao Thanh Hà, với sản
lượng thu hoạch được 2,6 tấn.
21
Bảng 6: Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây trồng chính của
xã năm 2010
Cây trồng Diện tích (ha) Năng xuất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Lúa
1.020
133
6.783
Đông xuân 510
133

6.783
2,6
3500
42,77
30,5
0,03
12,24
61,56
44
0,04
17,54
Chăn nuôi
- Trâu
- Bò
- Lợn
-Gia cầm
Con
Con
Con
Con
218
250
8.500
65.000
19,5
2,30
2,50
10,20
4,50
28,06

Quảng Thành là một xã có kinh nghiệm trồng rau từ lâu đời, gắn với sản
xuất nông nghệp của vùng và đây là cây trồng mang lại thu nhập cao cho
người dân và góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân nhằm tăng
thêm thu nhập. Đến nay trong toàn xã tổ chức sản xuất được gần ha, 68 ha với
nhiều loại rau khác nhau như rau xà lách, rau cải xanh, rau tần ô (rau cúc), rau
thơm, rau dền, rau mồng tơi….Nhưng trong đó có bốn loại rau chủ lực là rau
cải, rau xà lách, tần ô, rau thơm. Ngoài ra xã còn xã còn chỉ đạo sản xuất 1,6
ha rau an toàn ở vùng Thế Lại để sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGap và
bước đầu có 12 hộ tham gia vào dự án của Phòng nông nghiệp và phát triển
23
nông thôn huyện Quảng Điền. Nhờ vậy đã nâng cao thu nhập 1ha trồng rau
lên đến 150 – 200 triệu đồng/ha/năm. Tổng giá trị từ vùng sản xuất rau 10,5 tỷ
đồng, đồng thời giải quyết việc làm cho gần 600 hộ với trên 1.200 lao động
tại địa phương.
4.2.2. Mô tả chuỗi giá trị ngành hàng rau an toàn
Sơ đồ 1: Sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng rau an toàn tại xã Quảng Thành

10% 60% 30%
8%
2%
20% 6% 8% 24% 22%

(Nguồn: thảo luận nhóm 2011)
Trong chuỗi giá trị bắt đầu từ Hợp Tác Xã ( HTX) đóng vai trò cung
ứng nguồn đầu vào như: Giống, phân bón, thuốc bảo vệ thục vật cho hộ nông
24
Người
trồng rau
Người bán lẻ
tại chợ Tây Ba

+ Thứ hai là qua thu gom tại địa phương
Những người thu gom tại điạ phương thường bán rau ở các siêu thị( siêu
thị Thuận Thành, CoopMark, siêu thị Big C, nhà hàng, nhưng lượng rau tiêu
thụ là không lớn chiếm khoảng 2% so với 60 % lượng rau mà tác nhân thu
gom mua của người sản xuất. Hoặc họ tham gia bán tại chợ trong huyện(6%),
chợ đầu mối Bãi Dâu(20),chợ trên thành phố(24%), chợ địa phương (8%),
cho các tác nhân bán lẻ tại những chợ đó, một phần không hết họ sẽ bán lẻ tại
các chợ mà họ tham gia bán.
Với đặc điểm là những người ngay trong xã tham gia thu gom nên thuận lợi
hơn về đi lại, giá cả và mối gắn kết quan trọng hơn là sự quen biết giữa người
sản xuất và tác nhân thu gom ngay tại địa phương đó. Vì vậy mà lượng rau họ
thu mua là lớn hơn chiếm khoảng 60% lượng rau do người sản xuất bán ra.
+ Thứ ba là thu gom ngoài địa phương
Những người thu gom ngoài xã thường bán tại các chợ trong huyện và
thành phố. Lượng rau họ mua chiếm khoảng 30%, sau đó họ bán lại cho các
tác nhân bán lẻ tại cho trong huyện(8%), chợ thành phố(22%).
Các tác nhân thu gom họ đóng vai trò rất quan trọng trong chuỗi cung ứng sản
phẩm từ người dân đến với người tiêu dùng.
4.2.2.1. Các tác nhân tham gia và hoạt động của chuỗi giá trị
- Các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status