PHẦN I:
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước,
nền sản xuất nông nghiệp có những bước phát triển vượt bậc. Đời sống của
người dân được cải thiện, tỷ lệ nghèo đói giảm rõ rệt.
Chăn nuôi bò thịt đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nguồn
thịt cho người tiêu dùng, một phần sức kéo trong nông nghiệp, cũng như thu
nhập cho người chăn nuôi. Chăn nuôi đang được coi là một trong những giải
pháp quan trọng trong phát triển nông thôn [18]. Chính vì thế có rất nhiều chủ
trương, các chính sách, các hoạt động của các tổ chức trong nước và các tổ
chức phi chính phủ nhằm phát triển hệ thống chăn nuôi bò tại các địa phương
khác nhau. Theo Quyết định số 225/1999/QĐ – TTg ngày 10 tháng 12 năm
1999 và quyết định số 17/2006/QĐ – TTg ngày 20 tháng 01 năm 2006, chính
phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi. Định
hướng đến năm 2015 tăng đàn bò thịt bình quân 4% năm, đạt khoảng 10 triệu
con, trong đó bò lai đạt khoảng 45% [14][15].
Đà Nẵng là thành phố thuộc Duyên hải Miền Trung phát triển chăn
nuôi theo hướng chăn nuôi trang trại. Theo điều tra của Sở NN&PTNT, năm
2010, tổng đàn bò trên địa bàn thành phố đạt 23 nghìn con, tổng đàn heo 160
nghìn con và tổng đàn gia cầm 1.100 nghìn con [4]. Huyện Hòa Vang là
huyện ngoại thành duy nhất của thành phố, và có tiềm năng phát triển chăn
nuôi khá lớn. Trong những năm qua, huyện có chủ trương phát triển chăn
nuôi, đầu tư chiều sâu theo hướng lai tạo có năng suất cao, chất lượng tốt từng
bước phát triển chăn nuôi [3].
Hoàng Mạnh Quân (2006) đã báo cáo rằng chăn nuôi bò ở Thừa Thiên
Huế đang có những chuyển đổi tích cực từ hướng nuôi tận dụng là chính sang
phương thức nuôi có đầu tư hoặc bán thâm canh. Thực tế chăn nuôi bò thịt của
nông hộ đang được thực hiện theo 4 phương thức chính: Chăn thả hoàn toàn,
chăn thả có bổ sung thức ăn tại chuồng, bán thâm canh và thả rông [13].
1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1.Tình hình phát triển chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam
2.1.1. Số lượng và sản lượng thịt bò
Qua biểu đồ 1 cho thấy số lượng đàn bò tăng khá nhanh qua các năm, đặc biệt
từ trong giai đoạn từ năm 2001 – 2007. Tỷ lệ tăng đàn bình quân tăng 9,67%
năm ở bò thịt trong giai đoạn 2001 – 2006. Riêng năm 2007 tổng đàn bò cả
nước đạt 6,72 triệu con, tăng 3,29% so với năm 2006. Tuy nhiên, từ năm 2008
đến nay, đàn bò thịt chịu ảnh hưởng của thiên tai và dịch bệnh nên tốc độ tái
đàn còn chậm. Cụ thể là so với thời điểm 2007, đàn bò cả nước có 6.338 nghìn
con, giảm 5,8%. Tại thời điểm 1/10/2009 đàn bò đạt 6.103,3 nghìn con, giảm
3,7% so với năm 2008. Đàn bò giảm hầu hết ở các vùng là do:
+ Số lượng bò cày kéo giảm
+ Bệnh lở mồm long móng vẫn diễn ra ở một số địa phương
+ Mưa bão ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên đã làm thiệt hại đến
tổng đàn bò
Biểu đồ 1: Diễn biến số lượng và tốc độ tăng trưởng đàn bò qua các năm
Mặc dù chăn nuôi bò gặp khó khăn nhưng phạm vi và mức độ ảnh hưởng
không lớn nên nhìn chung vẫn phát triển tốt. Các mô hình chăn nuôi quy mô
lớn có đầu tư thâm canh được hình thành đã làm thay đổi về mặt nhận thức và
tập quán nuôi bò truyền thống. Phong trào trồng cỏ thâm canh tăng năng suất
4
làm thức ăn cho bò được thực hiện ở nhiều địa phương trong cả nước. Kinh
nghiệm quản lý giống, trang trại của cán bộ kỹ thuật cũng như của người dân
được nâng cao.
Biểu đồ 2: Sản lượng thịt bò và sự tăng trưởng qua các năm
Nguồn: 1. Tổng cục Thống kê, 2009 (từ năm 2001 - 2009)
2. Trích báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch tháng 12 năm 2009 ngành Nông
nghiệp và PTNT ( năm 2009)
Về sản lượng thịt bò hơi,hằng năm tăng nhanh, từ 97,8 ngàn tấn
2.1.3. Quy mô và phương thức chăn nuôi
+ Các phương thức chăn nuôi bò thịt hiện nay ở Việt Nam
- Phương thức thả rông
Đây là phương thức chăn thả truyền thống, lâu đời của người dân phản
ánh trình độ lạc hậu trong sản xuất. Với phương thức này, người chăn nuôi hạn
chế đến mức thấp nhất việc đầu tư chi phí, chủ yếu tận dụng diện tích đồng cỏ và
thảm thực vật tự nhiên. Gia súc được khoanh vùng cô lập, ăn cỏ và trú ẩn dưới
cây che bóng. Mức độ đầu tư chỉ dừng lại ở chi phí giống và công thăm nuôi
định kỳ, công vận chuyển đàn. Phương thức này khá phổ biến trong một thời
gian dài tại đồng cỏ lớn, đặc biệt là ở khu trung du, miền núi, và vùng sâu, nơi
sản xuất chưa thực sự phát triển. Đây là phương thức chăn nuôi kém bền vững
nhất xét cả mặt kinh tế, xã hội lẫn môi trường môi sinh, rủi ro cao và tác động
kìm hãm đến các ngành kinh tế khác như: bò phá rẫy, nương trồng trọt của
người dân. Hiện nay cùng với sự phát triển của mặt bằng dân trí, phương thức
này đã bị thu hẹp đáng kể, đặc biệt là sau khi quy định cấm chăn nuôi thả rông
gia súc của nhà nước ban hành.
- Phương thức chăn thả hoàn toàn
6
Thực chất là phương thức thả rông có sự giám sát của người chăn nuôi.
Đây là sự thay đổi của các hộ nuôi trong quản lý đàn bò của gia đình, hạn chế
rủi ro và gây mất mỹ quan khu dân cư. Chi phí cho chăn nuôi thấp, bao gồm
công chăn dắt và chi phí chuồng trại tạm bợ, vật liệu rẻ tiền mau hỏng như:
dây thừng, cọc tre nhỏ, mái tranh cột nhỏ… Nhờ có sự chặt chẽ của người
chăn dắt nên hình thức này có thể mở rộng phạm vi nuôi, bao gồm vùng sâu
vùng xa, vùng trung du miền núi, vùng ven đô thị, nông thôn… nơi có đồng
cỏ tự nhiên đủ cho nhu cầu của vật nuôi.
- Phương thức bán chăn thả (phương thức bổ sung thức ăn)
Đây là bước chuyển giữa phương thức chăn nuôi quảng canh sang dần
đầu tư thâm canh. Lề lối truyền thống vẫn còn thông qua việc chăn thả bán
thời gian. Thêm vào đó, người chăn nuôi đã chú trọng đến khâu chăm sóc vật
ngay tại chuồng. Phương thức này áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, và hiện
nay được áp dụng phổ biến tại các trang trại với quy mô nuôi lớn và các hộ
gia đình với quy mô từ 1- 2 con. Phương thức này thường áp dụng ở những
nơi dân cư đông, không có nơi chăn thả, hoặc tận dụng phân chuồng làm
BIOGA
+ Hiệu quả chăn nuôi bò theo phương thức chăn nuôi
Năm 2006, Hoàng Mạnh Quân đã báo cáo kết quả chăn nuôi bò là hiệu
qua, thu nhập chung đạt 3,58 triệu đồng/hộ/năm ( tương ứng với 878 ngàn
đồng/con/năm). Hộ nuôi bò có số lượng càng lớn thì thu nhập càng cao. Ở
phương thức nuôi bán thâm canh trên 8 con lãi 1,84 triệu đồng/con, bô sung
thức ăn nuôi từ 5-6 con lãi 1,65 triệu đồng/con, chăn thả hoàn toàn nuôi từ 3-4
con lãi 1,65 triệu đồng/con [13].
Phương thức chăn nuôi có ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi bò nông
hộ. Phương thức nuôi bán thâm canh đạt 1,12 triệu đồng/con/năm cao hơn so
cới các phương thức khác. Nếu áp dụng phương thức nuôi bán thâm canh thì
thu nhập của hộ sẽ cao hơn phương thức chăn dắt bổ sung thức ăn999,8 ngàn
đồng/năm, phương thức chăn thả hoàn toàn là 1229,5 ngàn đồng/năm [13].
+ Quy mô chăn nuôi
- Đặc điểm chăn nuôi bò ở nông hộ: Trong những năm gần đây với
những chính sách phát triển nông nghiệp của Đảng và Nhà Nước thì nông
nghiệp nước ta đã phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt, ngành chăn nuôi nước ta đã
đạt được nhiều thành tựu đáng kể, trong đó có chăn nuôi bò.Chăn nuôi bò ở
nước ta chủ yếu phát triển ở quy mô nông hộ.
8
Đối với người nông dân thời xưa thì chăn nuôi bò chủ yếu nhằm tận
dụng sức kéo là chủ yếu. Ngày nay do tác động của khoa học công nghệ và cơ
chế thị trường phát triển nên dần dần chăn nuôi chuyển hướng sản xuất hàng
hóa là chủ yếu. Tuy nhiên, chăn nuôi bò ở nông hộ nước ta chủ yếu với quy
mô nhỏ lẻ một vài con, chăn nuôi theo hướng tận dụng các phế phẩm nông
nghiệp và nguồn lao động nhàn rỗi ở địa phương đồng thời tận dụng phân thải
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chính của nông nghiệp, đóng vai
trò quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển trong nền kinh tế quốc dân.
Vai trò của ngành chăn nuôi bò thể hiện [8]:
+ Cung cấp sức kéo: Ở nước ta hiện nay mặc dù có cơ khí hóa nông
nghiệp, nhưng công việc làm đất vẫn thu hút gần 70% trâu, 40% bò trong toàn
quốc, đáp ứng khoảng trên 70% sức kéo trong nông nghiệp.
+ Cung cấp thực phẩm: Cung cấp hai loại thực phẩm có giá trị cao đối
với con người là thịt và sữa.
+ Cung cấp phân bón và chất đốt: Hằng ngày mỗi trâu trưởng thành
thải ra từ 15-20 kg phân, bò trưởng thành 10-15 kg. Phân trâu bò được làm
phân bón cho cây trồng rất phổ biến. Phân trâu chứa 78% nước, 5,4% khoáng.
1,06% axits photphoric, 0,1% kali, 0,2% canxi. Mặc dù chất lượng phân
không cao như phân lợn, nhưng nhờ có khối lượng lớn trâu bò đã đáp ứng tới
50% nhu cầu phân hữu cơ cho nông nghiệp nước ta. Trên thế giới, phân trâu
bò còn được dùng làm chất đốt.
+ Ý nghĩa kinh tế xã hội: Phát triển chăn nuôi bò góp phần tăng thu
nhập, giải quyết công ăn việc làm cho người dân. Trong kinh tế hộ, 85% số bò
được nuôi tại các gia đình, tỷ lệ thu nhập có thể đạt 50-60% trong tổng thu
nhập của hộ. Ngành chăn nuôi chiếm trên 20% trong tổng thu từ nông nghiệp
và tác động mạnh mẽ đến công cuộc xóa đói giảm nghèo (XĐGN) ở vùng
nông thôn. Nước ta hiện nay lao động không có việc làm trong thời gian nông
nhàn còn nhiều. Trong những năm qua có nhiều dự án, chương trình của
chính phủ và của các tổ chức phi chính phủ thực hiện nhằm giải quyết nguồn
lao động còn dư thừa. Khi mà dân số ngày càng tăng, đất chật người đông,
công ăn việc làm khan hiếm. Do vậy, phát triển chăn nuôi không chỉ giải
quyết vấn đề thu nhập mà còn tạo công ăn việc làm
2.1.2. Thực trạng phát triển chăn nuôi bò thịt trong nông hộ ở Việt Nam
10
Chăn nuôi nông hộ là một hình thức chăn nuôi truyền thống phổ biến ở
nước ta. Có thể nói, chăn nuôi nông hộ đang là lực lượng cung cấp hầu hết
vàng Việt Nam. Giống bò này thích nghi với điều kiện chăn nuôi tận dụng ở
nông hộ nhưng năng suất thấp.
Việc thực hiện công tác thú y ở nông hộ tiến hành chưa tốt nên dịch
bệnh xảy ra nhiều và lay lan rộng. Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm thấp
chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước,
nhất là cho xuất khẩu.
Quản lý chất lượng giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi có nhiều bất cập
nên hiệu quả thấp
Chăn nuôi trang trại mặc dù đã hình thành và phát triển nhanh về số
lượng nhưng nhìn chung quy mô còn nhỏ, công nghệ thiếu đồng bộ, trình độ
quản lý thấp và phát triển mang tính tự phát thiếu quy hoạch.
Hệ thống tổ chức quản lý ngành chăn nuôi chưa đáp ứng yêu cầu quản
lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Với các thực trạng trên, khi muốn phát triển chăn nuôi bò thịt theo
hướng thâm canh cần có sự thay đổi toàn diện từ con giống, phương thức nuôi
dưỡng đến hình thức tổ chức sản xuất hợp lý và gắn với thị trường tiêu thụ.
2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chăn nuôi bò thịt
- Điều kiện tự nhiên
+ Khí hậu và thời tiết
Đối với các nước thuộc khu vực nhiệt đới thì khí hậu thời tiết là yếu tố
quan trọng quyết định đến năng suất của vật nuôi. Trong đó nhiệt độ và ẩm độ
là những yếu tố đáng quan tâm và có tầm quan trọng trong thực tiễn.
Khí hậu thời tiết không những ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể gia súc
mà còn tác động đến sự phát triển, chất lượng của cây cỏ nối chung và cây
trồng nói riêng, đây là nguồn cung cấp thức ăn xanh cho bò. Ở nước ta khí
hậu phân thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô. Trong hai mùa này sản
lượng và giá trị dinh dưỡng của cỏ có sự thay đổi khác nhau tùy thuộc vào
điều kiện khí hậu và thời tiết. Theo Trịnh Văn Thịnh (1974) đồng cỏ tự nhiên
sản lượng chỉ chiếm 25% vào mùa khô và 75% vào mùa mưa.
Mùa mưa cỏ phát triển tốt cung cấp lượng thức ăn dồi dào cho bò.
đầu tư mua con giống tốt, đảm bảo nguồn thức ăn dồi dào, có chuồng trại phù
hợp thì vốn là yếu tố cần thiết.
+ Lao Động
13
Lao động là nguồn nhân lực của sản xuất nông nghiệp, là nhân tố ảnh
hưởng rất lớn đối với chăn nuôi bò thịt, đặc biệt khi nuôi bò ở nước ta còn ở
trình độ chuyên môn hóa thấp và áp dụng máy móc chưa nhiều
Trâu bò là con vật dễ nuôi, các thành viên trong gia đình đều có thể
nuôi được. Đây là hình thức chăn nuôi sử dụng hợp lý nguồn lao động dư
thừa và nhàn rồi trong nông thôn. Nhưng không phải vì vậy mà nuôi bò không
cần đến kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng…Chính vì vậy, việc đào tạo tập huấn
để nâng cao năng suất lao động trong chăn nuôi bò cho người dân các được
thực hành ở các vùng miền.
+ Chính sách kinh tế
Chính sách kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của một
ngành nghề. Nếu chính sách đúng sẽ thúc đẩy nền kinh tế phất triển, ngược lại
nó sẽ kìm hãm nền kinh tế.
Trong những năm qua Nhà nước đã có những chính sách như khuyến
nông, trợ giá, tín dụng nhằm đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp.
Đối với chăn nuôi bò thịt, theo số liệu thống kê có 22 tỉnh thành trong
cả nước ban hành các chính sách khuyến khích và có chương trình phát triển
chăn nuôi bò. Chính sách ở các địa phương tập trung ở các lĩnh vực sau: Đầu
tư con giống, thức ăn và đồng cỏ, thú y và phòng bệnh, vốn vay và lãi suất
ngân hàng…Các chính sách này đã góp phần tạo động lực để phát triển chăn
nuôi bò. Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta vẫn chưa có chính sách tổng thể về
phát triển chăn nuôi bò thịt nên tốc độ cải tạo đàn bò theo hướng nâng cao sản
lượng và chất lượng thịt chưa đáp ứng được mong mỏi của người dân. Do vậy
cần nghiên cứu để thay đổi, bổ sung và hoàn thiện các chính sách để nó thực
sự là một động lực thúc đẩy sản xuất chăn nuôi với tốc độ cao hơn.
+ Thị trường tiêu thụ
trọng tốt được.
Hiện nay, trong chăn nuôi chăn nuôi trâu bò thịt có đến 95% nguồn thức ăn
thô xanh chủ yếu tận dụng từ cây cỏ tự nhiên, ở đồi núi, rừng, bờ bãi…
+ Thú y
Bệnh tật là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất.
Ở các cấp, các ngành, mỗi địa phương và trong các nông hộ cần phải
tiến hành tốt công tác vệ sinh trong chăn nuôi bò thịt và tiêm phòng định kỳ.
15
2.1.4. Định hướng phát triển chăn nuôi trong thời gian đến
Chăn nuôi bò thịt là một trong những ngành được nhà nước, Bộ Nông
Nghiệp và phát triển nông thôn, các địa phương quan tâm ưu tiên phát triển và
được nông dân đồng tình. Phát triển chăn nuôi bò thịt nhằm tạo ra khối lượng
lớn sản phẩm thịt bò có giá trị và chất lượng cao, tạo việc làm, tăng thu nhập,
cải thiện đời sống cho nông dân, phát triển chăn nuôi bò thịt bền vững và bảo
vệ môi trường.
Nhằm thực hiện tốt các mục tiêu trên, định hướng phát triển chăn nuôi
bò thịt giai đoạn 2006 – 2015 của nước ta ( Cục Chăn nuôi, 2006) [6]:
+ Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo Nghị Quyết
06 của Bộ Chính Trị 12/2000. Chuyển một phần đất canh tác sang trồng cây
thức ăn chăn nuôi, trồng cỏ thâm canh, sản xuất thức ăn cho chăn nuôi bò.
+ Khuyến khích và ưu tiên phát triển chăn nuôi bò trang trại thâm canh
quy mô vừa và nhỏ sản xuất hàng hóa chất lượng cao.
+ Phát triển chăn nuôi bò thịt phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế -
xã hội của địa phương, phát huy tập quán chăn nuôi, sử dụng nguồn lao động
và các nguồn lợi tự nhiên về thức ăn.
+ Áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ sinh học vào phát triển
chăn nuôi bò thịt đặc biệt các công nghệ ứng dụng cho công tác giống và sinh
sản để tăng nhanh tiến bộ di truyền, năng suất và chất lượng sản phẩm chăn
nuôi bò thịt.
+ Niên giám thống kê, 2009 để tìm hiểu phân bố đàn bò theo vùng
+ Ngoài ra, các báo cáo khoa học, kết quả nghiên cứu của các tác giả đã
được công bố trên sách, báo, tạp chí chuyên ngành, chăn nuôi, nông nghiệp,
internet… cũng được thu thập làm nguồn tài liệu tham khảo cho đề tài.
17
3.3. Thu thập thông tin sơ cấp :
+ Thảo luận nhóm:
Chọn đối tượng thảo luận nhóm:
Chúng tôi tiến hành thảo luận nhóm theo hai nhóm đối tượng bao gồm:
nhóm cán bộ và nhóm nông dân được tiến hành tại xã Hòa Phước. Sở dĩ như
vậy là nhằm thu thập các đánh giá của các đối tượng khác nhau về thực trạng
chăn nuôi bò tại địa phương trong những năm qua. Mỗi nhóm tối đa 8 – 14
người, cụ thể như sau:
* Thảo luận nhóm cán bộ: Phó chủ tịch xã, chủ tịch hội phụ nữ, chủ
tịch hội nông dân, cán bộ thú y xã, cán bộ phụ trách nông ngiệp để tìm hiểu
thực trạng chăn nuôi bò trong những năm qua cũng như các khó khăn trong
chăn nuôi của hộ
* Thảo luận nhóm nông dân : chọn từ 8-10 người, tiến hành thảo luận 2
lần, bao gồm những nông dân có hoạt động chăn nuôi bò để tìm ra thuận lợi,
khó khăn, cách thức giải quyết khó khăn, các yếu tố chi phối trong quá trình
chăn nuôi, phương thức mà ngườ dân nuôi có hiệu quả nhất…
+ Phỏng vấn người am hiểu
Đó là nông dân sản xuất giỏi, phó chủ tich xã, cán bộ phụ trách kinh tế,
cán bộ phụ trách hợp tác xã, cán bộ phòng nông nghiệp, cán bộ phụ trách kinh
tế của Sở NN, những người có kinh nghiệm trong chăn nuôi bò để tìm hiểu
các phương thức chăn nuôi hiện có cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc
lựa chọn phương thức chăn nuôi của các hộ
+ Phỏng vấn hộ:
Các hộ được chọn phỏng vấn 45 hộ của 2 thôn thuộc xã Hòa Phước.
Trong các hộ này có cả hộ khá, trung bình, nghèo và các hộ này có đầy đủ các
của huyện Hòa Vang, giáp ranh với huyện Điện Bàn – tỉnh Quảng Nam, tiếp
giáp với các xã Hòa Châu, Hòa Quý, Điện Ngọc, Điện Thắng Bắc, Điện Hòa,
có đường quốc lộ chạy qua trung tâm xã. Mặt khác, xã nằm ngay cửa ngõ ra
vào thành phố Đà Nẵng.
Xã Hòa Phước có 10 thôn trong đó thôn Tân Hạnh và thôn Trà Kiểm là
nơi tập trung các hộ nuôi bò nhiều nhất.
Hòa Phước có vị trí tương đối thuận lợi, là cầu nối để giao lưu kinh tế -
văn hóa, xã hội giữa các xã trên địa bàn, và với các địa phương khác.
4.1.1.2. Điều kiện thời tiết khí hậu
Khí hậu là tổng hợp các yếu tố thời tiết mang tính quy luật bị chi phối
bởi địa hình và vị trí địa lý. Khí hậu có mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt
động sống của con người cũng như động thực vật. Đối với hoạt động sản xuất
nông nghiệp thì khí hậu, thời tiết, thủy văn là một trong những yếu tố quan
trọng, nó ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng, vật nuôi, và
góp phần quyết định đến năng suất, kết quả thu hoạch.
Việc nghiên cứu khí hậu thời tiết của vùng rất quan trọng để ta bố trí hệ
thống cây trồng, vật nuôi làm tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh
giúp ta có kế hoạch phòng chống bão lũ, hạn hán nhằm giảm nhẹ thiên tai và
đảm bảo nguồn nước mùa khô.
Hòa Phước là một xã chịu ảnh hưởng chung của thời tiết khí hậu gió
mùa, một năm có 2 mùa mưa nắng rõ rệt:
Mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 12, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7.
Mùa mưa thường trùng với mùa bão lớn. Do lượng mưa tập trung nhiều về
một vài tháng nên thường có lũ lụt, ngập úng nhiều vùng. Bão thường xuất
20
hiện các tháng 9, 10, 11, 12 các đợt bão thường kèm theo mưa to gây lũ lụt
cho một số vùng. Mùa khô ít mưa nền nhiệt độ cao nên gây hạn. Sự thất
thường về thời tiết là một trong những khó khăn cho các ngành sản xuất kinh
tế nói chung và ngành chăn nuôi bò nói riêng. Lũ lụt hay khô hạn đều ảnh
hưởng đến thức ăn cho bò.
21
Tổng số hộ Hộ 2.877 162 168
Hộ nghèo Hộ 123 11 12
Tỷ lệ hộ nghèo % 4.27 6.79 7.14
Hộ khá Hộ 863 51 53
Tỷ lệ hộ khá % 30 31.48 31.55
Hộ trung bình Hộ 1891 100 103
Tỷ lệ hộ trung bình % 65.73 61.73 61.31
Số hộ chăn nuôi bò Hộ 259 35 37
Tổng số lao động Người 6.329 463 448
Lao động/hộ Lao
động
2.2 2.86 2.67
Tổng số nhân khẩu Nguời 11.310 639 678
Nhân khẩu/hộ Khẩu 3,93 3,94 4.04
Nhân khẩu/lao động Nguời 1.79 1.38 1.51
(Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế xã hội xã Hòa Phước, 2011)
Xã Hòa Phước có tổng diện tích tự nhiên là 764.6178 ha, trong đó đất
sử dụng gồm các loại: Nhóm đất sản xuất nông nghiệp có diện tích 227.5043
ha ( chiếm 29.75 %). Trong khi đó nhóm đất phi nông nghiệp chiếm diện tích
khá lớn 433.7024 ha (chiếm 56.72%), diện tích đất chăn thả trâu bò chiếm
2,95 %. Mặt khác một số nơi diện tích đất chưa sử dụng được dùng làm bãi
chăn tạm thời cho bò nhằm tận dụng nguồn thức ăn từ cỏ tự nhiên. Bên cạnh
đó, diện tích đất chưa sử dụng và đất chăn thả của thôn Trà Kiểm chiếm
39.79% so với tổng diện tích đất của thôn. Đây là điều kiên thuân lợi giúp cho
việc chăn thả trâu bò.
Hòa phước có 10 thôn đó là các thôn Nhơn Thọ 1, Nhơn Thọ 2, Quá
Giáng 1, Quá Giáng 2, Trà Kiểm, Tân Hạnh, Miếu Bông, Cồn Mong, Giáng
Nam 1, Giáng Nam 2. Trong những năm gần đây, cùng với quá trình đô thị
hóa, sự phát triển của hoạt động kinh tế thì những điều kiện về lao động, loại
Để thấy được tình hình phát triển của xã ta xem xét bảng sau:
Giá trị tổng sản xuất của xã năm 2010 tăng so với năm 2008 là 2 tỷ 752
triệu đồng. Sự gia tăng về mặt kinh tế qua các năm giúp xã có điều kiện đầu
tư phát triển các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và xây cơ sở hạ tầng ở nông thôn,
tăng ngân sách tự có và theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của toàn
huyện.
23
Bảng 3 : Tình hình phát triển sản xuất của xã qua 3 năm (2008 – 2010)
(ĐVT: Triệu đồng)
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2010/2008
GT % GT % GT % GT %
Tổng GTSX 35.998 100 37.595 100 38.750 100 2.752 107,64
I Nông lâm nghiệp 33.745 93,74 35.449 94,29 36.571 94,3
8
2.826 108,37
1. Nông nghiệp 26.730 79,21 28.772 81,16 29.297 80,1
1
2.567 109,60
- Trồng trọt 11.025 41,25 11.230 39,03 11.475 39,1
8
450 104,08
- Chăn nuôi 14.310 53,54 16.125 56,04 16.703 57,0
1
2.393 116,72
- Dịch vụ, khác 1.395 5,22 1.417 4,9 1.119 3,82 -276 80,22
2. Lâm nghiệp 7.215 21,38 6.677 18,84 7.774 21,2
6
559 107,75
II. CN – DV 2.053 5,7 2.146 5,7 2.674 6,9 621 130,25
(Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội xã, 2011)
liên tục, vì thế ngành trồng trọt và chăn nuôi của xã có nhiều biến động, thể
hiện rõ nhất là số lượng đàn bò được thể hiên qua bảng sau:
Bảng 4: Số lượng, cơ cấu giống đàn bò qua các năm tại xã Hòa Phước
giai đoạn năm 2007 đến 2010
Chỉ tiêu Tổng số bò Bò vàng Bò Lai Sind
Số lượng
(con)
Tỷ lệ
(%)
Số lượng
(con)
Tỷ lệ
(%)
2007 1250 839 67,12 411 32,88
2008 1075 678 63,07 397 36,93
2009 750 468 62,4 282 37,6
2010 700 432 61,61 268 38,29
(Nguồn : Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của xã)
Qua bảng ta thấy được số lượng đàn bò xã Hòa Phước giảm từ 1250
con năm 2007 xuống còn 700 con năm 2010, trung bình giảm khoảng 137
con/năm. Có điều này là do trong những năm gần đây xã có chính sách đẩy
mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ và thương mại, giảm dần về nông
nghiệp. Bên cạnh đó, những năm qua do sự xuất hiện của dịch lở mồm long
móng, khiến cho một lượng lớn bò bị chết, và yếu tố không kém phần quan
25