thực trạng và giải pháp quản lý các khu chung cư tại hà nội hiện nay - Pdf 13

ĐỀ TÀI :CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC KHU CHUNG
CƯ TẠI HÀ NỘI HIỆN NAY :THỰC TRẠNG VÀ GIẢI
PHÁP
NHÓM THỰC HIỆN:
1.Ngô Thị Hồng Minh
(nhóm trưởng ,thuyết trình)
2.Hoàng Thị Tuyết
3.Mai Thị Kinh Thoa
4.Phạm Thị Hương
5.Nguyễn Mai Hương
6.Chử Thị Thu Hương
7.Vũ Thị Mai
Lớp tín chỉ :phương pháp nghiên cứu khoa học 5
Lớp chuyên ngành :bất động sản 50b
1
LỜI MỞ ĐẦU
۩ ۩ ۩
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay thì việc xây dựng
lên các khu công nghiệp ngày càng nhiều và chiếm 1 phần lớn diện tích đất trong
đó diện tích nhà ở của người dân cũng bị giải tỏa để phục vụ cho việc xây dựng
này. Thay vào đó hàng loạt dự án xây dựng nhà ở, bao gồm các khu chung cư cao
cấp, trung cấp và nhà ở xã hội, nhà cho công nhân, áp lực sốt giá nhà ở do cung
không đủ cầu đang bị đẩy lùi. Nhiều chuyên gia nhận định, từ nay đến 2015, cơ
hội người có nhu cầu tiếp cận nhà ở thực sự rõ nét với giá phải chăng, điều này
cũng ngăn chặn tình trạng gom hàng đầu cơ.
Thành phố Hà Nội là một trong những địa phương đầu tiên của cả nước đã
xây dựng và thực hiện chương trình phát triển nhà ở để giải quyết vấn đề nhà ở
cho các đối tượng dân cư trên địa bàn. Tuy nhiên, kết quả mới dừng ở mức độ
các mô hình thí điểm, Hà Nội vẫn còn thiếu nhà ở nghiêm trọng, nhất là đối với
người nghèo, người thu nhập thấp, công chức, viên chức.

đề nhà ở thì việc tìm hiểu thực trạng quản lý và đề ra các giải pháp cho các khu
chung cư trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Thời gian qua đã phát sinh nhiều
tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quản lý, sử dụng nhà chung cư nhưng việc
giải quyết còn lúng túng, chủ yếu do văn bản pháp luật chưa đầy đủ, chưa phù
hợp với điều kiện cụ thể của thành phố. Việc nghiên cứu này giúp cho chúng ta
có cái nhìn rõ nét hơn về vấn đề chung cư.
3
Vì vậy chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài : “Công tác quản lý
các khu chung cư tại Hà Nội hiện nay: thực trạng và giải pháp”.
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu với mục tiêu hiệu quả là
- Tìm hiểu việc thực hiện công tác quản lý các khu chung cư để đánh giá
những mặt tích cực và những mặt còn tồn tại.
-Trên cơ sở của việc đánh giá đề xuất những biện pháp để quản lý chung cư
đạt hiệu quả cao hơn.
- Tìm hiểu quản lý chung cư đã đi vào thực tế như thế nào? Từ đó rút ra
những nội dung chưa phù hợp hoặc chưa hoàn chỉnh.
* Yêu cầu
- Nắm vững nội dung các quyết định về quản lý chung cư của nhà nước đối
với các bên có liên quan.
- Đảm bảo tính trung thực khách quan trong quá trình đánh giá thực trạng
việc quản lý và sử dụng đất đai đô thị.
- Những kiến nghị đề xuất phải phù hợp với điều kiện thực tế của địa ph-
ương.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài có đối tượng là công tác quản lý của chủ đầu tư và nhà nước
đối với các khu nhà chung cư tại Hà Nội hiện nay.
Chung cư là loại nhà ở có nhiều căn hộ khép kín ( tức là bảo đảm
người ở thực hiện mọi hoạt động riêng tư trong đó) có không gian sử dụng chung
như hành lang, cầu thang, thang máy… và các tiện ích chung như hệ thồng điện

Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để hoàn thành đề tài, với góc độ của sinh viên khoa QTKD bất động sản và
kinh tế tài nguyên, nhóm tác giả đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu đã
học như:
- Phương pháp điều tra dự báo
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp quy nạp diễn giải
- Phương pháp diễn dịch
Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục, tài liệu tham khảo đề tài
gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về chung cư
Chương 2: Thực trạng quản lý và cách giải quyết của chủ đầu tư và nhà
nước tại các khu chung cư ở Hà Nội hiên nay
Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác quản lý chung cư tại Hà Nội
6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHUNG CƯ
۩۩۩
1. Khái niệm chung vể chung cư cao tầng

Chung cư là loại nhà ở có nhiều căn hộ khép kín ( tức là bảo đảm người ở
thực hiện mọi hoạt động riêng tư trong đó) có không gian sử dụng chung như
hành lang, cầu thang, thang máy… và các tiện ích chung như hệ thồng điện nước,
thoát nước, điện thoại v.v.
Chung cư ít nhất có 2 tầng. Tại Hội nghị quốc tế về Kiến trúc năm 1972,
nhà cao tầng (cao ốc) được phân thành 4 loại như sau:
+Nhà cao tầng loại 1: 9~16 tầng ( cao nhất không quá 50 m).
+Nhà cao tầng loại 2: 17~25 tầng ( cao nhất không quá 75 m).
+Nhà cao tầng loại 3: 26~40 tầng ( cao nhất không quá 100 m).
+Nhà cao tầng loại 4: > 40 tầng ( cao hơn 100 m).

3. Vị trí của chung cư trong việc phát triển các đô thị hiện đại:
Hiện nay, Việt Nam là nước đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tốc
độ đô thị hoá nhanh trong khi trình độ phát triển ở nông thôn rất chậm đã kéo
theo các vấn đề xã hội như: việc làm, môi trường, quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật ,
hạ tầng xã hội,… đặc biệt là vấn đề nhà ở đô thị, trong đó có vấn đề nhà ở cho
8
công nhân tại các khu công nghiệp tập trung, nhà ở cho một bộ phận đối tượng
sinh viên mới ra trường chưa có điều kiện để tạo lập nhà ở …điều này đã và đang
tạo ra sức ép rất lớn cho Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách về nhà ở.
Mặt khác, tốc độ tăng dân số nhanh làm cho quỹ đất ngày càng bị thu hẹp. Chính
vì vậy, Nhà nước chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát
triển nhà ở đặc biệt là phát triển nhà ở cung cư cao tầng theo dự án. Đến nay đã
xuất hiện nhiều mô hình nhà chung cư mới, nhiều kiểu dáng đáp ứng một phần
nhu cầu ngày càng tăng lên về chất lượng của nhân dân. Nhà ở chung cư cao tầng
theo dự án được xây dựng đã tạo ra diện mạo mới cho đô thị văn minh với sự
đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, với sự đồng bộ về cảnh quan môi trường nên đã
được xã hội chấp nhận. Hơn nữa, xây dựng nhà chung cư cũng hình thành nếp
sống đô thị văn minh, hiện đại. Đối với Việt Nam, chủ trương phát triển chung
cư cao tầng sẽ tạo cơ hôị cho các ngành xây dựng tiếp cận với tiến bộ khoa học
kỹ thuật, tạo nguồn ngân sách lớn cho nhà nước.
Hiện Hà Nội xuất hiện ngày càng nhiều nhà chung cư với quy mô lớn,
trong đó có những nhà cao tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp, vừa là chung cư
vừa kinh doanh thương mại. Thời gian qua đã phát sinh nhiều tranh chấp, khiếu
nại liên quan đến quản lý, sử dụng nhà chung cư nhưng việc giải quyết còn lúng
túng, chủ yếu do văn bản pháp luật chưa đầy đủ, chưa phù hợp với điều kiện cụ
thể của thành phố.
4. Những quy đị

nh pháp lý về quản lý chung c

chung cư thực hiện.
- Bảo trì nhà chung cư bao gồm việc duy tu bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ, sửa
chữa vừa và sửa chữa lớn nhà chung cư nhằm duy trì chất lượng của nhà
chung cư. Việc bảo trì được thực hiện theo quy định tại Thông tư số
08/2006/TT-BXD ngày 24/11/2006 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng
dẫn công tác bảo trì công trình xây dựng. Việc bảo trì nhà chung cư phải
do tổ chức có tư cách pháp nhân và có chức năng về hoạt động xây dựng
phù hợp với nội dung công việc bảo trì.
- Việc cải tạo, phá dỡ nhà chung cư được thực hiện theo quy định tại Điều
81, 83, 84, 85, 86, 87, 88 và Điều 89 của Luật Nhà ở; Điều 55 và Điều
56 của Nghị định 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ về
10
“quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở” (sau đây gọi tắt là
Nghị định số 90/2006/NĐ-CP) và Nghị quyết số 34/2007/NQ-CP ngày
03/7/2007 về “một số giải pháp để thực hiện việc cải tạo, xây dựng lại
các chung cư cũ bị hư hỏng, xuống cấp”.
- Lưu trữ hồ sơ nhà chung cư: Chủ sở hữu nhà ở (đối với nhà chung cư có
01 chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu nhà chung cư) có trách nhiệm lập, lưu trữ
hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 66 của Luật Nhà ở.
- Bản nội quy quản lý sử dụng nhà chung cư
1. Mọi nhà chung cư đều phải có Bản nội quy quản lý sử dụng nhà chung
cư với những nội dung chính như sau:
a) Trách nhiệm của các tổ chức (Chủ đầu tư hoặc đơn vị quản lý nhà chung
cư, doanh nghiệp quản lý vận hành và Ban quản trị) trong quản lý sử dụng nhà
chung cư theo quy định của Quy chế này;
b) Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp nhà
chung cư;
c) Các hành vi bị nghiêm cấm trong sử dụng nhà chung cư;
d) Các khoản phí, mức phí phải đóng góp dùng cho công tác quản lý vận
hành, bảo trì nhà chung cư và các loại phí hợp lý khác;

- Chủ đầu tư trong quản lý sử dụng nhà chung cư
- Doanh nghiệp quản lý vận hành nhà chung cư
+ Quản lý vận hành nhà chung cư:
- Hợp đồng cung cấp dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư và nghiệm
thu, thanh toán, thanh lý hợp đồng dịch vụ
- Trách nhiệm và quyền hạn của doanh nghiệp quản lý vận hành nhà chung
cư trong vận hành nhà chung cư
- Kinh phí quản lý vận hành phần sở hữu chung nhà chung cư
+ Bảo trì nhà chung cư
- Nguyên tắc bảo trì nhà chung cư
- Mức kinh phí đóng góp để bảo trì phần sở hữu chung nhà chung cư
- Quản lý kinh phí bảo trì phần sở hữu chung nhà chung cư
+Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, người sử dụng trong sử dụng nhà
chung cư; những hành vi bị nghiêm cấm trong sử dụng nhà chung cư
- Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu trong sử dụng nhà chung cư
- Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng không phải là chủ sở hữu nhà
chung cư
- Những hành vi bị nghiêm cấm trong sử dụng nhà chung cư
- Những hành vi bị nghiêm cấm quy định tại Điều 23 của Quy chế này
phải được Ban quản trị hoặc Chủ đầu tư hoặc chủ sở hữu nhà chung cư thông
12
báo trực tiếp và công khai đến các tổ chức, cá nhân có liên quan để biết và
thựchiện.
+ Giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm
- Giải quyết tranh chấp:
1. Các tranh chấp liên quan tới quyền sở hữu trong nhà chung cư do Toà
án giải quyết.
2. Các tranh chấp về quyền sử dụng trong nhà chung cư được giải quyết
trên cơ sở hoà giải nhưng phải đảm bảo các quy định của Quy chế này. Nếu
không hoà giải được thì chuyển Toà án giải quyết.

và 10 khu nhà ở tập thể thấp tầng.
Theo số liệu thống kê ở Hà Nội của Sở Địa Chính Hà Nội năm 2002, nhà
ở chung cư cao tầng (4-6 tầng ) gồm: 434 nhà ở 24 khu tâp thể, diện tích sàn
xây dựng là: 920.195m
2
; 27.573 hợp đồng thuê nhà; 137.163 người.
Còn theo thống kê của Sở Quy hoạch Kiến trúc, hiện nay thành phố Hà
Nội đã có gần 200 công trình cao từ 9 tầng trở lên, chưa kể số chung cư 5-6 tầng
được xây dựng mới, chủ yếu phục vụ công tác tái định cư, giải phóng mặt
bằng. Trong đó, cùng với những thành công của cả nước trong công tác xây
dựng và quản lý nhà chung cư cao tầng, đầu quí I - 2004 Tổng công ty Đầu tư
Phát triển nhà và Đô thị đã đưa vào vận hành 20 khối nhà chung cư cao tầng với
tổng số 1.764 căn hộ, cụ thể như sau:
14
Nguồn: Phòng KHTH - Xí nghiệp quản lý nhà cao tầng
Tên
nhà
Số
căn
hộ
Số
nhà
xe
Số tầng Diện tích
kiốt ( m
2
)
Số
thang
máy

CT2B
84 1 15 141 2
CT3A
72 1 9 459 2
CT4
88 1 12 535 2
CT5 - đơn 1
99 1 12 601 2
CT5 - đơn 2
99 1 12 601 2
CT5 - đơn 3
140 1 15 420 2
CT5 - đơn 4
84 1 15 164 2
15
Như vậy, trong thời gian qua thành phố Hà Nội đã phát triển được nhiều nhà
ở chung cư cao tầng, giải quyết chỗ ở cho mọi bộ phận dân cư của thành phố
với chất lượng và tiện nghi ngày càng tiến bộ hơn.
Với nhu cầu phát triển xã hội ngày càng cao, chung cư trong đô thị hiện đại
không chỉ thoả mãn nhu cầu ở thuần tuý mà còn phải đáp ứng đồng thời nhiều
nhu cầu khác nhằm nâng cao không ngừng chất lượng môi trường cư trú, như
quản trị, an ninh của cộng đồng dân cư trong một chung cư, nhu cầu sinh hoạt,
văn hoá, giao tiếp cộng đồng, về không gian giao thông (kể cả giao thông tĩnh ),
kho tàng và tiện nghi kỹ thuật khác. Đó chính là không gian công cộng trong
chung cư. Việc tổ chức các không gian có chức năng công cộng như vậy đòi hỏi
phải có những nghiên cứu nhất định sao cho vừa đảm bảo tính khoa học vừa
đảm bảo các tiêu chuẩn quy phạm, quy chuẩn xây dựng, cũng như vừa phù hợp
với xu thế phát triển chung, vừa phù hợp với tập quán dân tộc và các yếu tố tự
nhiên khác có tính chất đặc thù của Việt Nam.
Một toà nhà chung cư cao tầng hiện đại, về mặt lý thuyết phải đảm bảo

2
sàn, mức cao có thể lên tới 120- 150m
2
sàn hoặc
hơn nữa. Do sự phát triển của công nghệ thi công, tổ chức mặt bằng điển hình
ngày càng lớn, do vậy giao thông cũng phải tương xứng, đủ số lượng thang máy
thang bộ (chống và thoát hiểm). Tổ chức không gian giao thông này không thể
tiếp xúc toàn bộ với thiên nhiên nên vấn đề thông thoáng, lấy ánh sang phù
hợp với đặc thù khí hậu Việt Nam cũng là một yếu tố quan trọng cần sự quan
tâm nghiên cứu đúng mức.
Việc tân dụng chiều sâu của móng để xây dựng các tầng ngầm phục vụ
nhu cầu giao thông tĩnh, kho tàng cùng các hệ thống kỹ thuật khác của toà nhà
đòi hỏi phải được tính toán, tổ chức hợp lý.
Hệ thống thu rác cho các căn hộ là không thể thiếu. Người ở có thể sử dụng
17
giao thông ngang trong từng tầng đó đưa rác tới nơi tập trung và thông qua hệ
thống ống kỹ thuật theo phương thức đứng để tập trung tại vị trí thích hợp
và được chuyển đi bằng các phương tiện đảm bảo vệ sinh môi trường đô thị.
Nhu cầu cuộc sống của con người ngày càng tăng. Sau thời gian làm việc,
ngoài các nhu cầu nghỉ ngơi tại chỗ trong căn hộ của mình, còn có các nhu cầu
giao tiếp, sinh hoạt văn hoá, thể thoa thư giãn… Với số hộ dân cư đông đúc của
một toà nhà chung cư cao tầng hiện đại, xây dựng các công trình thể thao, giải
trí để kinh doanh là một giải pháp có tính khả thi cao. Tại đây, ngoài việc thoả
mãn các nhu cầu thể thao, giải trí, các cư dân trong một toà nhà còn có điều
kiện gặp gỡ thân mật trong tình xóm láng giềng thân thiết vốn là truyền thống tốt
đẹp của dân tộc Việt Nam.
Như vậy, việc nghiên cứu các loại hình không gian có chức năng công cộng
gắn liền với chung cư cao tầng tại các đô thị lớn là một định hướng cần thiết.
Đồng thời phải có thể chế, bộ máy và phương thức vận hành phù hợp.
Tuy nhiên, hiện nay các khu nhà chung cư cao tầng mới chỉ được chỉ trong

tự nhiên khác có tính chất đặc thù của Việt Nam.
Theo Điều 70 của Luật Nhà ở 2005: Một toà nhà chung cư cao tầng hiện đại,
về mặt lý thuyết phải đảm bảo không gian khép kín không chỉ trong từng căn hộ
độc lập mà còn đòi hỏi sự hoàn chỉnh của toàn bộ toà nhà. Cuộc sống của cư dân
trong toà nhà ngoài thời gian hoạt động xã hội, gần như gắn liền với căn hộ và
các không gian có chức năng công cộng như: giao thông tĩnh, kho tàng, hệ thống
cửa hàng, công trình thể thao, văn hoá, giải trí công cộng… Bởi vậy, quy hoạch
chung cư là vấn đề đầu tiên chúng tôi muốn đề cập đến trong phần thực trạng của
19
các khu chung cư hiện nay. Ngày càng có thêm nhiều các khu chung cư thương
mại mới được xây dựng lên ở các khu vực xa trung tâm thành phố. Việc này góp
phần tạo điều kiện cho nhiều người dân sở hữu được một căn hộ cho riêng mình,
không phải chịu cảnh thuê nhà ở, và ở trong những căn nhà “siêu mỏng” chật
chội. Tuy nhiên, khi các chủ đầu tư và các kiến trúc sư quy hoạch diện tích đất để
xây dựng chung cư thì họ đã không tính đến hạ tầng cơ sở. Cụm từ “hạ tầng cơ
sở” nghe có vẻ gì đó rất xa vời và có thể khiến người ta dễ xem thường. Thật ra,
theo các kiến trúc sư, thực tế nó rất gần gũi và ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi
người hàng ngày, hàng giờ. Đó là điện, nước, đường xá giao thông hay xa hơn
là chợ, siêu thị, trường học, bệnh viện, thậm chí là nơi mai táng. Trong khi ở các
khu vực gần trung tâm thành phố thì luôn xảy ra hiện tượng quá tải trường học
hay bệnh viện, tắc nghẽn giao thông vào giờ cao điểm thì tại một số khu chung
cư mới được xây dựng xa trung tâm dường như lại trái ngược với điều đó. Điển
hình như KĐTM Mễ Trì Hạ (Từ Liêm), (Xí nghiệp Dịch vụ quản lý nhà chung
cư và KĐT - đơn vị quản lý khu Mễ Trì Hạ) được đưa vào sử dụng từ tháng 5-
2006 nhưng đến nay. Các hạ tầng xã hội khác như chợ, trường học, cơ sở y tế
chưa thấy động tĩnh gì. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc sinh hoạt của
những người dân sống tại các khu chung cư đó. Vì thế Nhà nước đã có những
luật về quy hoạch như: luật quy hoạch đô thị của quốc hội khoá XII, kì họp thứ 5
số 30/2009/QH12 ngày 17/6/2009 :”….Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không
gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình

dung được diện mạo ban đầu của những chung cư loại lắp ghép 6X, 7X, bởi các
khu nhà khác (và ngay cả mặt trước của chính khu nhà B1) đều đã biến dạng do
21
cơi nới, sửa sang chắp vá. Bức tường gạch cũ kỹ mọc đầy những cụm dương xỉ,
cửa sổ bằng gỗ tạp xệ hẳn xuống, cống thoát nước thải to thô lố lộ thiên…,
những hành lang hun hút luôn thiếu ánh sáng đã “tố cáo” tuổi tác của các ngôi
nhà. Khỏi phải nói cũng có thể hiểu được sự bất tiện mà cư dân các khu nhà này
phải chịu đựng!
Tuy “trẻ tuổi” hơn, những cư dân của các chung cư như Kim Liên, Trung
Tự, Thành Công, Giảng Võ… cũng đều phải “nếm trải” vô số chuyện bực mình.
Chị Nhung, chủ của một căn hộ chung cư tầng 2 tại Thành Công tâm sự: “Cứ
mỗi khi trời mưa, đặc biệt là những đợt mưa dầm, gió bấc đầu mùa đông hoặc
giông bão mùa hè, nước chảy theo tấm ghép panel, ngấm dần xuống các tầng
thấp tạo nên những mảng ngấm loang lổ, thậm chí nhỏ thành giọt”. Quả là trần
và tường nhà chị, nhất là toilet, cứ loang lổ bờn bợt, thậm chí còn mọc rêu xanh.
Nhưng “méo mó có hơn không”, gia đình chị cũng còn có được hệ thống công
trình phụ riêng biệt chứ hàng ngàn người dân ở chung cư Nguyễn Công Trứ lại
chưa được hưởng “hạnh phúc” này!
Tại khu chung cư C4 Giảng Võ, vốn chỉ được phân cho các cán bộ trung cao
cấp vào những năm 80, hiện vẫn còn những chuyện rất trớ trêu. Số là thiết kế của
các căn hộ tại đây giống nhau, lối đi và hành lang quá hẹp, không thể vận chuyển
được những vật cồng kềnh. Đã có người khi cha già, mẹ héo buộc lòng phải phá
cửa để chuyển quan tài ra ngoài, rồi sau đó cũng không thể di quan theo lối cầu
thang thông thường, đành cắn răng buộc dây hạ áo quan xuống theo đường
“hàng không”
Trước tình trạng nhà chung cũ xây dựng trong giai đoạn 1975 – 1988, thời
gian sử dụng còn lại theo thiết kế phải là 30 - 40 năm nữa. Nhà bị lún mạnh như
khu “Thành Công, Giảng Võ” ở Hà Nội, thời gian sử dụng tối đa chỉ bằng 70%
thời gian thiết kế. Đối với các nhà khác bao gồm số nhà lắp ghép tấm lớn ở Hà
Nội còn lại khu nhà Tân Mai, Tương Mai Hà Nội…. Thời gian sử dụng thực tế

duyệt. Đối với phần diện tích căn hộ được tăng thêm (ngoài diện tích bằng 1,3
lần diện tích ở hợp pháp cũ) thì các hộ gia đình, cá nhân phải trả tiền theo suất
đầu tư m2 sàn của dự án được duyệt. Các hộ thuộc diện nghèo và chính sách,
phần diện tích phải trả tiền sẽ được UBND thành phố xem xét cho phép trả góp
trong 20 năm
Khi HĐND thành phố ra nghị quyết khẳng định, cải tạo chung cư cũ là một
trong những nhiệm vụ trọng tâm của thành phố đến năm 2010, trên cơ sở nguyên
tắc then chốt, nhiều người dân đã khấp khởi mừng thầm .Tuy nhiên, để thực hiên
được công việc này xem ra còn nhiều chuyên phải bàn tới. Sở dĩ có những hạn
chế trên tồn tại là do:
Hiện nay chưa có sự quy định rõ rµng về việc quản lý và sử dụng chung cư,
cụ thể là: Chưa có quy định cụ thể thời gian định kỳ cho công tác trïng tu nhà
ở chung cư cao tầng và các công trình hạ tầng kỹ thuật. Do đó việc xây dựng
kế hoạch trïng tu và dự trù kinh phí công tác này chưa thÓ hiện được.
Theo quy định hiện hành thì việc trïng tu, sửa chữa phần nhà ở thuộc về
chủ sở hữu. Tuy nhiên, phần diện tích sử dụng chung, các công trình hạ tầng kỹ
thuật chưa có văn bản cụ thể quy định mức đóng góp kinh phí để trïng tu, sửa
chữa. Mặt khác việc sửa chữa trong các căn hộ hiện nay rất tuỳ tiện. Một số hộ
dân đã tự đục phá cả kết cấu chịu lực gây nguy hiểm cho cả ngôi nhà, nhiều hộ
dân đã tự cơi nới, lấn chiếm diện tích chung làm ảnh hưởng đến mỹ quan, gây
khiếu kiện và làm giảm tuổi thọ ngôi nhà. Tại một số khu nhà ở chung cư cao
tầng đã quy định các hộ dân phải đóng góp một số tiền nhất định hang tháng.
Dự án khu đô thị mới Bác Linh Đàm đã quy định thu 30.000đ/tháng
nhưng qua thực tế cho thấy số tiền này chỉ đủ chi cho công tác quản lý. Mặt
khác, một số hộ dân từ chối đóng góp thêm với lý do hoàn cảnh khó khăn hoặc
cho rằng họ không có nghĩa vụ đóng góp.
24
Hiện nay chưa có văn bản cụ thể về trách nhiệm đóng góp kinh phí của
chủ đầu tư và các hộ dân cho việc thực hiện công tác quản lý, chung tu, sửa
chữa nhà ở chung cư cao tầng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status