Danh mục bảng biểu
Bảng 1: Xếp hạng thị trường Nhật năm 2010 đối với hàng xuất khẩu Việt
Nam
Bảng 2: 10 chủng loại mặt hàng chủ yếu xuất khẩu sang Nhật Bản năm 2010
so với năm 2009
Bảng 3:Thống kê hàng hóa nhập khẩu từ Nhật Bản ở Việt Nam năm 2010 so
với năm 2009
Biểu đồ 1: Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Nhật Bản trong giai
đoạn 1997 – 2010
Danh mục các từ viết tắt
1
AJCEP : Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản
APEC: Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ARF: Diễn đàn khu vực ASEAN
ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEM: Diễn đàn Hợp tác Á-Âu
DN: Doanh nghiệp
EAS : Hội nghị cấp cao Đông Á
EU: Liên minh châu Âu
JVEPA : Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản
GSP: Hệ thống ưu đãi phổ cập
METI : Bộ trưởng Kinh tế-Thương mại-Công nghiệp Nhật Bản
ODA: Nguồn vỗn hỗ trợ phát triển chính thức
TBCN : Tư bản chủ nghĩa
UN: Liên hợp quốc
UNESCO: Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên hiệp quốc
VJEPA : Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
VJEPA : Hiệp định đối tác kinh tế Việt-Nhật
WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Lời nói đầu
mang lại từ các hiệp định thương mại song phương và đa phương đẵ kí kết.
Từ đó nâng quan hệ thương mại song phương hai nước lên một tầm cao mới
phù hợp với tiềm năng cảu hai nước, đưa Nhật Bản trở thành đối tác chiến
lược hàng đầu của Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là quan hệ thương mại song phương giữa
hai nước Việt Nam và Nhật Bản. Do thời gian tìm hiểu và thực hiện đề tài có
hạn nên nhóm em chỉ tiến hành đề tài này bằng cách thu thập tài liệu thông
quan mạng thứ cấp về thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản
và các hiệp định thương mại đã được chính phủ hai nươc kí kết. Từ đó tìm
kiếm giải pháp mà chính phủ Việt Nam đã thực hiện để nâng cao quan hệ
thương mại của hia nước.
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thu thập và xử lý số liệu: thu thập thông
tin từ sách báo, thông tin từ các tổ chức và Bộ công thương, các tổ chức
chính phủ khác thông qua mạng Internet... sau đó phân tích và so sánh số
liệu đẵ thu thập được để tìm ra các thông tin phù hợp nhất với đề tài.
5. Kết cấu đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài luận gồm 3 chương:
- CHƯƠNG 1: Lược sử quan hệ Việt- Nhật (1973 – 1991
- CHƯƠNG 2: Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản từ năm
1992 đến nay
- CHƯƠNG 3: Định hướng và giải pháp phát triển quan hệ thương mại Việt
Nam – Nhật Bản.
4
CHƯƠNG 1: Lược sử quan hệ Việt- Nhật (1973 – 1991)
Mặc dù quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam và Nhật
Bản đã được chính thức thiết lập kể từ ngày 21/9/1973, song do nhiều
nguyên nhân lịch sử và đương đại khác nhau cùng chi phối, trong đó phải kể
đến nguyên nhân cơ bản nhất là mỗi nước đều thuộc về một hệ thống chính
ngừng các mối quan hệ chính thức , đông kết các khoản viện trợ đã cam kết,
đưa ra yêu cầu Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia làm điều kiện để
phía Nhật mở lại viện trợ. Mặt khác, Nhật Bản đã phối hợp với Mỹ và
phương Tây thực hiện bao vây cấm vận kinh tế Việt Nam, ngăn cản các tổ
chức tài chính - tiền tệ quốc tế cho Việt Nam vay tiền...
Trên thực tế, sự " lạnh nhạt " cùng với các biện pháp " cứng rắn
" trên đây của Nhật Bản đối với Việt Nam như nhiều nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước đã cho rằng có phần chủ yếu là do ảnh hưởng của Mỹ từ
những ràng buộc bởi Hiệp ước liên minh Nhật - Mỹ đã được hai bên ký kết
từ sau Thế chiến thứ hai, chứ không hẳn là vì ý muốn chủ quan của Nhật
Bản.Có hai lý do chính giải thích cho vấn đề này:
- Thứ nhất, Nhật Bản khi này đã luôn mong muốn thực thi một
chính sách đối ngoại nhằm nâng cao vị thế chính trị nước lớn trên thế giới,
nhất là ở châu Á, đặc biệt là ở Đông Á, mà Việt Nam như đã biết là một
quốc gia cộng sản có vị trí,vai trò quan trọng nhiều mặt lại vừa đánh thắng
Mỹ... nên Nhật Bản không thể không muốn có quan hệ với Việt Nam;
- Thứ hai, như đã biết , Nhật Bản và Việt Nam là hai nước vốn
đã các mối quan hệ giao lưu từ lâu đời, nhất là trong lĩnh vực kinh tế thương
mại đã đem lại nhiều lợi ích lớn cho cả hai nước, đặc biệt là cho phía Nhật
6
do là nước nghèo tài nguyên, vì thế Nhật Bản rất cần duy trì các quan hệ hợp
tác phát triển với Việt Nam.
Chính vì thế, mặc dù "lạnh nhạt và cứng rắn" với Việt Nam
nhưng suốt thời gian này, Nhật Bản vẫn tiếp tục "giữ cầu" quan hệ với Việt
Nam nên cuối thập niên 1980 vẫn có giao lưu, hợp tác phát triển văn hóa
như : Hỗ trợ tài chính của phía Nhật Bản dành cho Việt Nam để xây dựng
các cơ sở hạ tầng và mua sắm trang thiết bị văn hoá thông tin. Đó là các dự
án như: 24 triệu yên cho Bộ Văn hoá năm 1987; 10 triệu yên cho việc bảo
dưỡng và tôn tạo phố cổ Hội An thông qua Tổ chức UNESCO năm 1989; 23
triệu yên cho mua sắm trang thiết bị in ấn các chương trình văn hoá giáo dục
Ngày 7/4/2003, Thủ tướng Phan Văn Khải và Thủ tướng Nhật
Bản Junichiro Koizumi đã thống nhất và quyết định thực hiện Sáng kiến
chung Nhật Bản - Việt Nam nhằm cải thiện môi trường đầu tư và tăng cường
sức cạnh tranh của Việt Nam.
Sáng kiến này có mục đích tăng cường sức cạnh tranh về kinh tế của Việt
Nam thông qua xúc tiến đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Mục tiêu cụ thể của
Sáng kiến này là chia sẻ, áp dụng các chính sách, biện pháp đặc biệt và ưu
8
tiên, với phương châm phát huy triệt để sự tham gia và cam kết một cách
tích cực của chính phủ hai nước.
Sáng kiến này được thực hiện trên nhiều lĩnh vực và nhất là
trong lĩnh vực đầu tư như luật đầu tư, cơ chế hành chính, thủ tục hành
chính, phát triển và xây dựng chiến lược thu hút đầu tư, xây dựng chương
trình xúc tiến thương mại… sang kiến này là tiến đề để chính phủ hai nước
đi đến kí kết “ hiệp đinh về tự do, xúc tiến và bảo hộ đầu tư Việt Nam –
Nhật Bản” được kí kết ngày 14/11/2003.
2.1.3 Hiệp định về tự do, xúc tiến và bảo hộ đầu tư Việt Nam – Nhật Bản
Ngày 19 tháng 11 năm 2003, tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt
Nam tại Hà Nội, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam Norio
Hattori và Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc đã ký công hàm
trao đổi để “Hiệp định giữa Nhật Bản và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam về tự do, xúc tiến và bảo hộ đầu tư” có hiệu lực.
- Xét từ góc độ tự do hóa đầu tư và bảo hộ quyền lợi của nhà đầu tư thì
hiệp định đầu tư này ở mức độ cao.
- Hiệp định quy định các nguyên tắc đối xử quốc gia trong giai đoạn
cấp phép đầu tư và quy định cấm về mặt nguyên tắc yêu cầu thực hiện
nghĩa vụ.
- Hiệp định này có ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo tính minh bạch,
tính ổn định về pháp luật và tính dự báo cho nhà đầu tư.
- Đầu tư từ Nhật Bản vào Việt Nam được mong đợi sẽ tăng đột phá sau
hàng trong vòng 10 năm tới.Tiến trình trên đối với 4 nước ASEAN còn lại
gồm Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar sẽ được thực hiện chậm hơn.
Tại cuộc gặp cấp cao ASEAN-Nhật Bản, Thủ tướng Nhật Bản
Yasuo Fukuda cam kết tăng cường hợp tác với ASEAN trong nhiều lĩnh
vực khác nhau, trong đó có hỗ trợ chống dịch cúm gia cầm.
Hiệp định mới giữa Nhật Bản với khối ASEAN phải tạo ra các
giá trị gia tăng và bổ sung cho các hiệp định song phương. Hiệp định khu
vực phải góp phần nâng cao giá trị của các hiệp định song phương và ngược
lại, các hiệp định song phương đóng vai trò mở đường để tạo ra một mô
hình hiệp định khu vực hiệu quả hơn.
Về khả năng ký kết hiệp định về đầu tư, bài toán tương tự cũng
được đặt ra tại tiểu ban về đầu tư, với mục tiêu có thể đạt được thỏa thuận
về vấn đề này vào năm 2011. Cho đến nay, Nhật Bản đã có hiệp định đầu tư
song phương với 9 nước thành viên ASEAN (trừ Mianma).
Ngoài ra, tại Hội nghị hai bên đã thảo luận về chương trình hợp
tác trong khuôn khổ AJCEP. ASEAN dự định đưa ra một số đề xuất hợp tác
trong quản lý rừng và xây dựng nhãn mác về môi trường trong các sản
phẩm, hàng hóa, lĩnh vực mà Nhật Bản có ưu thế.
• Việt Nam được hưởng lợi từ hiệp định
Việt Nam là một trong số các nước hưởng tương đối nhiều ưu
đãi trong hiệp định này. Việt Nam có lộ trình cam kết dài hơn so với một số
nước khác nhưng lại được hưởng ưu đãi như các nước ASEAN khác khi
tiếp cận thị trường Nhật Bản. Tỷ lệ sử dụng các ưu đãi thuế quan của doanh
11
nghiệp Việt Nam trong AJCEP tương đối cao, chiếm khoảng 27% tổng kim
ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản. Đây có thể coi là một mô hình đàm phán
thành công của Việt Nam bởi vì AJCEP thực sự mang lại lợi ích cho các
doanh nghiệp trong nước. Đối với các nước khác, việc thực hiện AJCEP
tương đối thuận lợi. Trong giai đoạn từ 2010 đến khi kết thúc, ASEAN và
Nhật Bản dự kiến sẽ đưa ra lộ trình toàn diện cho các cam kết cắt giảm thuế
WTO từ 1/1/2007, với cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu hàng hóa từ mức
bình quân hiện hành 17,4% xuống còn 13,4% trong vòng 5-7 năm. Đây là
cơ hội để các DN có thể tận dụng những ưu đãi này để nhập khẩu nguồn
nguyên vật liệu và công nghệ của Nhật Bản để sản xuất các sản phẩm có giá
trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ cao phục vụ cho tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu.
2.1.6 Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản ( hay được gọi
tắt là JVEPA) là một hiệp định tự do hóa thương mại, dịch vụ, bảo hộ đầu tư
và khuyến khích thương mại điện tử giữa Việt Nam và Nhật Bản. Đây là
hiệp định tự do hóa thương mại song phương đầu tiên của Việt Nam và là
hiệp định đối tác kinh tế thứ mười của Nhật Bản.
Khái quát
13
Hai nước có ý định thành lập hiệp định này ngay từ năm 2005
và bắt đầu tiến hành đàm phán về Hiệp định này từ tháng 1 năm 2007 ngay
sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Sau 9 phiên đàm
phán chính thức và nhiều phiên đàm phán không chính thức, hai bên đã hoàn
tất thỏa thuận nguyên tắc vào tháng 9 năm 2008 và chính thức ký hiệp định
vào ngày 25/ 12 /2008.
Nội dung cơ bản của Hiệp định
Theo cam kết của phía Nhật Bản, thuế suất bình quân đánh vào hàng hóa
của Việt Nam nhập khẩu vào Nhật Bản sẽ giảm dần xuống 2,8% vào năm
2018.
Nhật Bản cam kết sẽ giảm thuế suất cho 95% tổng số dòng
thuế, trong đó khoảng vài ngàn dòng thuế xuống 0%. Nếu Hiệp định được
ký kết và có hiệu lực. Đây là mức cam kết cao nhất của Nhật Bản đối với
một nước thành viên ASEAN. Cụ thể
- Ít nhất sẽ có 86% hàng nông lâm thủy sản và 97% hàng công nghiệp Việt
Nam xuất sang Nhật sẽ được hưởng ưu đãi thuế.
thuần là một hiệp định thương mại tự do, nên ngoài hàng hóa, còn có dịch vụ
cũng sẽ được tự do hóa. Đầu tư của nước này vào nước kia sẽ được bảo hộ.
Và còn có nhiều nội dung hợp tác kinh tế khác.
Tác động Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
Những năm gần đây, kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản ngày
càng tăng: năm 2001 đạt 351 tỷ USD, năm 2004 đạt 454 tỷ USD và năm
15
2006 đạt 580 tỷ USD, năm 2007 đạt 621 tỷ USD (tăng 7,2% so với năm
2006), trong đó: nông thủy sản, thực phẩm là 51 tỷ USD (chiếm 8,3% tổng
kim ngạch nhập khẩu), hải sản là 14,6 tỷ USD (chiếm 2,4%), may mặc là 30
tỷ USD (chiếm 4,9%)…
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Nhật Bản năm
2002 đạt 4,9 tỷ USD, tới năm 2007 tăng lên 12,2 tỷ USD, gấp 2,5 lần so với
5 năm trước. Cán cân thương mại giữa hai nước tương đối cân bằng.Từ năm
2000-2004, Việt Nam nhập siêu khoảng trên 50 triệu USD/năm;Năm 2005-
2006 Việt Nam xuất siêu trên 300 triệu USD/năm và đến năm 2007, nhập
siêu khoảng 108 triệu USD (chủ yếu là do nhập khẩu máy móc thiết bị gia
tăng do có sự gia tăng trong đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam).
Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật đạt 6,069 tỷ USD,
tăng 16,7% so với năm 2006 và Nhật Bản tiếp tục là thị trường xuất khẩu
lớn thứ 2 của Việt Nam sau Hoa Kỳ. Bước sang năm 2008, với sự nỗ lực của
cộng đồng doanh nghiệp hai nước, kim ngạch thương mại hai chiều đã có tín
hiệu tăng trưởng tốt. Tính đến hết tháng 7 năm nay, kim ngạch thương mại
hai chiều đã đạt xấp xỉ 10 tỷ USD, tăng 59,8% so với cùng kỳ năm ngoái,
trong đó, Việt Nam xuất siêu trên 180 triệu USD. Như vậy, có thể tin tưởng
rằng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Nhật bản của cả
năm 2008 sẽ vượt xa con số 15 tỷ USD, hoàn thành trước hai năm mục tiêu
mà lãnh đạo cấp cao hai nước đề ra.
Năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu sang nước này 7,73 tỉ USD,
chiếm 10,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Ngược lại, Việt