Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Chương II.
CÁC PHẢN ỨNG TỰ VỆ CỦA CƠ THỂ
Nội dung chính của chương hai
Cơ thể vật nuôi thường xuyên bị tác động của các yếu tố môi trường bên ngoài và bên trong,
nhưng chúng có những phản ứng trả lời lại các kích thích đó, nhằm thiết lập một cân bằng
mới để cho cơ thể ổn định.
Trong chương này cần nắm được các nội dung chính sau:
- Phòng tuyến bảo vệ cơ giới vật lý hóa học sinh vật học của cơ thể. Trên cơ sở đó
trong công tác chăn nuôi cần sử dụng các biện pháp để bảo toàn cơ thể, tránh những tổn
thương không đáng có có thể xẩy ra. Như thường xuyên tắm chảy cho vật nuôi, nâng cao quá
trình trao đổi và điều tiết bảo vệ gia trước nguy cơ tấn công của các yếu tố gây bệnh. Đó là
yếu tố tác động cơ học (chuồng trại thoáng mát, nền chuồng tránh quá trơn con vật dề bị
trượt ngã, thành chuồng không nên để các vật liệu dễ xây xướt da, các công cụ sản xuất như
dây cày kéo không để gia súc bị tổn thương )
Thức ăn nước uống phải đầy đủ chất dinh dưỡng, và chất lượng làm nguy hại tới màng niêm
mạc các bào quan bên trong.
-Cơ thể trả lợi lại các kích thích bằng các phản ứng đặc hiệu tùy theo mức độ tác
dụng của các yếu tố tấn công vào cơ thể. Như phản ứng viêm. Cần nắm được bản chất
củaphản ứng viêm, trên cơ sở đó người thầy thuốc trân trọng phản ứng đó và có thái độ xử lý
đúng mức. Nhằm nâng cao sức đề kháng của con vật, hạn chế đến mức tối đa có thể hạn chế
được sử dụng các hóa chất để điều trị.
-Phản ứng Stress, cũng là một phản ứn tự vệ của cơ thể. Biết ứng dụng vào thực tiển
chăn nuôi thú y, như vị trí xây chuồng trại,âm thanh ánh sáng kích thích trực tiếp đến con
vật từ đó cũng sinh ra bệnh tật
-Miễn dịch, ý nghĩa của phản ứng miễn dịch, ứng dụng của phản ứng, cụ thểcông tác
tiêm phòng cho vật nuôi
1. Khái niệm chung
-Da có khả năng sinh miễn dịch đặc hiệu
Da: gồm hai phần chính. Lớp ngoài cùng mỏng còn gọi là biểu bì, chứa các tế bào
biểu mô, lớp trong là bì chứa các tế bào mô liên kết. Các tế bào biểu mô sắp xếp ken chặt tạo
thành hàng rào ngăn chắnự xâm nhập của vi khuẩn. Trên mặt biểu bì có lớp hóa sừng -keratin
không tan trong nước không cho nước thấm qua. Chính vì vậy mà vi sinh vật không phân giải
được keratin và không theo nước xâm nhập vào cơ thể đrr gây bệnh.
-Niêm mạc: khác với da bao phủ mặt ngoài, niêm mạc bao phủ mặt trong của nhiều
cơ quan nội quan, như ống tiêu hóa, sinh dục, tiết niệu. Niêm mạc được cấu tạo lớp biểu mô
bề mặt và lớp mô liên kết kế theo. Chất nhầy do tế bào biểu mô tiết ra là cái bẩy bắt giữ vsv
không cho chúng xâm nhập vào bên trong.
Đường hô hấp niêm mạc và hệ thống nhung mao luôn giao động với bước sóng 20microm
theo một hướng để hất các vật lạ và vsv gây bệnh ra ngoài.
Với các phản ứng như hắt hơi, ho cũng là phản xạ đẩy vật lạ và vsv gây bệnh ra ngoài.
Tế bào niêm mạc là tế bào sống nên một số virut gây bệnh có thể sống và nhân lênđược, đặc
biệt như virrut cúm.
-Dịch thể: Một số mô của cơ thể tiết ra dịch thể rữa trôi các chất bám và các vsv gây
bệnh. Ví dụ vsv không thể bám lâu vào xoang miệng vì bị nước bọt rữa trôi, nước tiểu về mặt
cơ bản là vô trùng cũng cuốn trôi các vsv bám trên đường tiết niệu
-Dịch mật kìm hảm sự phát triển chủa nhiều vi khuẩn
-Gan lách thận là một khí quan đắc lực chống sự xâm nhập của các yếu tố gây bệnh
-Hệ lâm ba: Bao gồm các cơ quan miễn dịch trung ương, mầm bệnh sau khi xâm nhập
qua da thì gặp hạch lâm ba, là một phòng tuyến bảo vệ cơ thể.
Hàng rào VSV.
Vi sinh vật cộng sinh: Mặc dù bề mặt của cơ thể được bảo vệ song một số vi khuẩn vẩn xâm
nhập vào cơ thể và sống trên đó. một số sống trong cơ thể chúng không gay hại cơ thể mà
còn tham gia bảo vệ cơ thể trước sự tấn công của vi khuẩn gây bệnh. Ở cơ thể động vật trung
bình, tổng các tế bào cơ thể khoảng 10
13
, thì sô tế bào vsv sống cộng sinh lên tới 10
14
sau đó làm tan tế bào vi khuẩn, đồng thời tăng cường hiện tượng thực bào.
3. Viêm
Viêm là một tập hợp những quá trình phản ứng của cơ thể để chống lại các xâm nhập, biểu
hiện chủ yếu có tính chất cục bộ.
-Ý nghĩa của viêm:
+Viêm là những quá trình rối loạn tạm thời để đạt đến một thăng bằng mới, nói chung
là có lợi:, sau một nhiểm khuẩn nhẹ, cơ thể có khả năng chống lại vi khuẩn một cách hữu
hiệu hơn. Trong thú y cũng như y học tiêm chủng là một cách gây viêm nhẹ, để sau đó cơ thể
sản xuất ra kháng thể chống lại vi khuẩn đó gây bệnh.
+ Viêm có thể đưa đến phản ứng quá mức tùy theo từng cơ địa, mà trong một số
trường hợp sinh bệnh nặng có thể dẫn tới chết.
+ Viêm liên quan đến miễn dịch, nhất là trong những phản ứng viêm kéo dài.
Tóm lại, về phương diện sinh học, cần đánh giá viêm một cách toàn diện qua những quá trình
liên tục có sự điều hòa chung của cơ thể, nếu sự điều hòa này tốt viêm sẻ loại trừ vật lạ dù
nội tại hay ngoại lai và đưa đến một sự ổn định nói chung là có lợi cho cơ thể.
-Các hiện tượng của viêm (các giai đoạn của viêm)
Để dễ hiểu người ta phân chia viêm ra bốn hiện tượng hay còn gọi là bốn giai đoạn của viêm.
+Giai đoạn hóa sinh: sau khi có sự xâm phạm do vật lý, hóa học, hoặc do vi khuẩn
virut vào cơ thể, thì tại điểm đó sẻ toan hóa nguyên phát, pH giảm 6,8-6,0. do các tế bào bị
tổn thương hồng cầu mang oxy tới bị thiếu hụt, tăng lượng khí CO
2
. Sau hiện tượng toan hóa
nguyên phát dẫn đến toan hóa thứ phát. Toan hóa thứ phát liên quan tới vai trò của các
enzym. Các tế bào bị tổn thương túi lysosom bị vở giải phóng enzym thủy phân, tiêu hóa các
protein, lipid, gluxit, đặc biệt các peptit gây giản mạch tăng tính thấm của thành mặch. Gọi là
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
14
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
lại như cũ. Các huết quản sẻ thoái hóa, thường là sự tiêu tưới máu cho vùng sẹo kém hơn
trước. Nếu hoại tử và mất nhiều chất xơ, xơ hóa rộng, ảnh hưởng đến chức năng phủ tạng.
-Quá trình hủy hoại: Nếu các kích thích viêm không giảm, lượng chất độc tăng, tế bào
mô sẻ hủy hoại, quá trình viêm sẻ tiếp diễn từ cấp tính chuyển sang mãn tính. Có thể sự hàn
gắn từng phần, nhưng sự hủy hoại chưa chấm dứt, lúc thì rầm rộ lúc thì âm ỉ. Viêm càng kéo
dài quá trình tu sửa vết thương càng khó khăn và phứ tạp, dù khỏi cũng tổn thương nặng về
chức năng. Viêm mạn tính có thể đưa đến tử vong trong những đợt hồi cấp, sức chống đở của
cơ thể kém.
- Phân loại viêm
Có rất nhiều cách phân loại viêmn nhưng cơ bản có hai cách sau:
Theo tiến triển của viêm
Theo các thể giải phẫu bệnh
Theo tiến triển của viêm được phân ra mấy loại viêm sau:
Viêm cấp
Viêm bán cấp
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
15
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Viêm mạn tính
Theo các thể của giả phẫu bệnh
Viêm huyết quản rỉ ướt
Viêm thanh dịch
Viêm tơ huyết
Viêm sinh huyết khối
Viêm mủ
Apxe
Viêm hoại thư
Viêm hạt
Các yếu tố làm thay đổi chất lượng đáp ứng viêm:
Có rất nhiều yếu tố địa phương và toàn thân ảnh hưởng đến quá trình viêm. Sau đây là một số
phẩm trung gian, mặt khác do hiện tượng sưng nên chèn ép đầu mut dây thần kinh cảm giác
nên sinh ra đau.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
16
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Kết luận: Viêm là một quá trình sinh học hết sức phứ tạp bao gồm nhiều hiện tượng sinh
hóa, vật lý liên quan chặt chẽ với nhau. Viêm là một quá trình liên tục, nếu xem xét tách rời
các hiện tượng thì hình như có những rối loạn có hại, nhưng về mặt tổng thể viêm phải được
đánh giá hâụa quả thế nào đối với cơ thể. Vì vậy người thầy thuốc phải hiểu được các qui luật
của viêm để có sơ sở tạo điều kiện nhanh chống thiết lập sự cân bằng mới hạn chế được bệnh
tật.
4.Phản ứng stress
Stress -từ tiếng Anh có nghĩa là sự căng thẳng. Là trạng thái đặc biệt của cơ thể trả lời lại các
kích thích từ bên ngoài, và có sự thay đổi về hình thái ở cơ quan nhất là ở cơ quan nội tiết- là
một hội chứng đáp ứng tổng thể.
Trong các giai đoạn của phản ứng stress ông Selia chia ra 3 giai đoạn, và mỗi một giai đoạn
có mối liên hệ khăng khít với nhau. (Giai đoạn căng thẳng, giai đoạn bền vững và giai đoạn
thoái. Các tác nhân gây stress được gọi là kích thích stresor. Nếu kích thích đó kéo dài nhr
hưởng rất lớn đến hoạt động của vỏ bán cầu đại não.
Quá trình chỉ đạo trả lời lại các kích thích stresor là hoạt động của miền võ tuyến thượng
thận. Nếu như kích thích qu á mạnh và kéo dài thì khả năng đáp ứng của miền võ tuyến
thượng thận tiết ra hôcmn ACTH ít, dẫn tới sự rối loạn cục bộ, không ít trường hợp trụy tim
mạch dẫn tới chết.
Trong chăn nuôi thú y để tránh các kích thích stresor không có lợi, như âm thanh ánh sáng
làm cho con vật luôn ở trạng thái căng thẳng, ức chế đến quá trình trao đổi chất, sinh trưởng
kém, sinh ra nhiều bệnh tật. Do vậy khi thiết kế chuông trại cho các đối tượng vật nuôi phải
đảm bảo tránh các kích thích không cần thiết như xa đường quốc lộ, sơn các màu mới lạ
không cần thiết, hạn chế người lạ ra vào khu nuôi, chính tất cả đó cũng tránh các kích thích
miễn dịch vì nó có cấu trúc đơn giản, trong khi đó một hapten tuy có trọng lượng phân tử nhỏ
nhưng một khi gắn với một protein thì lại trở thành chất sinh miễn dịch cao.
Kháng thể- antibody
Kháng thể là các globulin có trong huyết thanh của động vật có khả năng liên kết với kháng
nguyên đã kích thích sinh ra nó. Kháng thể theo định nghĩa trên đây được gọi là kháng thể
miễn dịch- immunoglubin, Ig, hay kháng thể đặc hiệu.Kháng thể có thể tìm thấy trong các
thể dịch khác của cơ thể như sữa, nước tiểu. Những kháng thể có sẳn trong từ trước khi có sự
tiếp xúc với kháng nguyên được gọi là kháng thể không đặc hiệu
Trong chăn nuôi sữa đầu của con mẹ có chứa một hàm lượng cao kháng thể không đặc hiệu,
mà trong 24 giờ đầu gâmm globulin hấp thụ trực tiếp vào thành ruột của con con đi thẳng vào
máu tham trở thành chất kháng thể đầu đời chóng lại các tác nhân gây bệnh. Vì vậy trong
chăn nuôi việc cho con con sau khi sinh đặc biệt là 24 giờ đầu cho bú sữa non của con mẹ là
việc làm hết sức cần thiết để cung cấp cho con con kháng thể chống lại các yếu tố gây bệnh
vsv tấn công vào cơ thể con con.
Bản chất của khấng thể:
-Trong huyết thanh của người và động vật có vú chứa albumin, α,β,γ globulin thì γ
globulin là kháng thể. Do vậy bản chất của kháng thể là protein.
Hoạt tính của kháng thể phụ thuộc vào môi trường pH, các muối sulphat, Na, cồn có thể làm
kết tủa kháng thể nhưng không làm mất tính chất của kháng thể.
Hai đặc tính sinh học của kháng thể là khả năng phản ứng đặc hiệu với kháng nguyên và biểu
hiện như một kháng nguyên nên người ta gọi là kháng kháng thể. Có thể tạo kháng thể chống
lại từng loại Ig, hoặc chống lại từng phần của cấu trúc phân tử Ig.
Miễn dịch, tùy theo tính chất và sản sinh ra miễn dịch mà người ta chia ra làm hai loại:
-Miễn dịch đặc hiệu chủ động.
Việc cơ thể sản sinh ra khấng thể đặc hiệu hoặc tế bào T, sau khi bị cảm nhiễm hoặc tiếp
nhận một cách nhân tạo mầm bệnh được gọi là miễn dịch chủ động
-Miễn dịch thụ động
Miễn dịch thụ động hay còn gọi là miễn dịch vay mượn, là trạng thái cơ thể đề kháng nhất
thời với mầm bệnh sau khi được đưa vào cơ thể huyết thanh hoặc máu, chứa kháng thể miễn
dịch, hoặc nhờ tiếp kháng thể bằng con đường khác, như con bú tiếp nhận qua sữa mẹ.
Khi cho kháng thể đặc hiệu phản ứng với kháng nguyên hòa tan ở liều lượng chuẩn thì xuất
hiện kết tủa có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Phản ứng này được dùng để phát hiện kháng
nguyên, khi đã có sẳn kháng thể
6.3.Phản ứng ngưng kết
Ở phản ứng kết tủa đòi hỏi kháng nguyên hòa tan, còn phản ứng ngưng kết gọi là phản ứng
cần các kháng nguyên hửu hình. Phản ứng này ứng dụng để định lượng hàm lượng kháng thể
có trong huyết thanh, để xác định khả năng miễn dịch của từng cá thể.
6.4. Phản ứng kết hợp bổ thể
Bao gồm các thành phần kháng nguyên + kháng thể + bổ thể , phản ứng này được ứng dụng
để chẩn đoán một số bệnh truyền nhiễm.
6.5.Kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang
Kỹ thuật này dựa trên tính chất của thuốc nhuôm khi được kích thích bở bức xạ có bước sóng
đặc biệt sẻ phát sáng. Kháng thể được gắn với chất thuốc nhuộn phát huỳnh quang màu vàng
lục, hay đỏ da cam. Kỷ thuật này được ứng dụng để chẩn đoán bệnh truyền lây.
6.6. Kỹ thuật chất hấp thụ miễn dịch enzym (Elisa- Enzyme -linked
Immunosorbent Asay).
6.7.Vacxin
Vacxin là chế phẩm kháng nguyên gây trạng thái miễn dịch mà không gây bệnh. Vacxin
dùng để kích thích đáp ứng miễn dịch nguyên phát làm tăng số lượng tế bào ghi nhớ tăng đáp
ứng miễn dịch nhớ khi chúng tiếp xúc với kháng nguyên gây bệnh.
Hiện nay, trong y học chương trình tiêm chủng mỡ rộng đã làm giảm đáng kể bệnh truyền
nhiễm và làm tăng sức khỏe cộng đồng. Việc tiêm phòng vacxin trong thú y tiến tới như là
một luật định nhằm ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm cho gia súc, gia cầm mà còn ngăn chặn
được sự lây lan bệnh từ động vật sang người. Ví dụ: hiện nay dịch LMLM và cúm gia cầm
không những mối đe dọa về sức khỏe con vật thiệt hại kinh tế mà là mối đe dọa cho sức khỏe
cộng đồng.
Vacxin có thể chứa kháng nguyên sản xuất từ tế bào vô hoạt, đồng thời có thể sử dụng các
chủng đã được giảm hoạt lực, không còn có khả năng gây bệnh nữa. Sau đây là một số loại
vacxin.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
1
Chỉ dùng trong thú y
Đa số các vãcxin trên được dùng trong y học, chủ yếu là các loại được dùng cho trẻ em trong
chương trình thanh toán 6 bệnh, Một số dùng cho người lớn sử dụng với mục đích đặc biệt.
Người đi du lịch người đi công tác được tiêm vacxin để được đảm bảo an toàn cho bản thân
và nhân dân nơi họ đến.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
20
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
7. Qui trình tiêm phòng vacxin cho lợn
Nhằm mục đích nâng cao hiệu quả chăn nuôi, góp phần an toàn dịch bệnh trong địa phương,
tạo ra nguồn thực phẩm thịt lợn sạch, thì công tác tiêm phòng vacxin cho đàn lợn nái và lợn
con là một việc làm không thể thiếu được trong chăn nuôi lợn.
Tiêm phòng muốn đạt hiệu quả cao, cần phải tiêm đúng theo qui trình, đúng loại vacxin, tiêm
đạt tỷ lệ bảo hộ.
-Qui trình tiêm phòngcho lợn nái:
Trước phối giống 15 ngày:
+Tiêm vacxin dịch tả lần 1
+Tiêm vacxin phó thương hàn lần 1
Trước 10 ngày:
+Tiêm vacxin THT lần 1
21
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Bốn loại quá mẫn theo Gell và Combs
Loại phản ứng Thời gian xuất hiện lâm sàng Ví dụ
Tip I -quá phản vệ dưới 30 phút Sốc phản vệ do tiêm
thuốc, do nộc côn trùng
cắn
Tip II (quá mẫn gây độc tế
tế bào, phụ thuộc chất
kháng thể)
5-12 giờ Truyền nhóm máu và Rh
không phùhợp
TipIII ( phức hợp miễn
dịch)
3-8 giờ Bệnh về huyết thanh phản
ứng Arthus
TipIV(quá mẫn trung gian
tế bào hay quá mẫn muộn)
Loại bỏ mô ghép. Tiếp xúc
với da
Bản chất của hiện tượng quá mẫn tip I thường gặp như các dị nguyên vào cơ thể qua con
đường tiêu hóa, gây các triệu chứng như nôn mửa, ỉa chảy, nổi mề đay Trong các trường
hợp này có thể dùng chất chôngdị ứng antihistamin cho kết quả.
Nếu dị ứng tác động đến đường hô hấp gây ho, hen thở dốc và khò khè, thì chất trung gian
này gây co thắt đường hô hấp dưới không phải là Histamin mà là SRS-A. Do vậy trong thực
tế antihistamin không dùng để chữa hen, mà dùng ephiephrin, aminophylin hay Teophylin.
Các chất hóa học trung gian được giải phóng khi hoạt hóa tế bào Mast
Chất trung gian Cấu trúc Chức năng
dụng phản ứng này trong y học và thú y dùng để chẩn đoán bệnh Sẩy thai truyền
nhiễmBrucelulosis và bệnh lao ( Tuberculosis). Phả\n ứng này được thực hiện trên da, được
gọi là phản ứng Tuberculin.
8.Bệnh tự miễn
Khái niệm bệnh tự miễn được dùng khi hệ thống miễn dịch hoạt động đáp ứng với kháng
nguyên của bản thân và gây tổn thương cho chính cơ quan của bản thân. Đây là bệnh do sự
lắng động phức hợp miễn dịch, thường xẩy ra ở đáy cầu thận. Những bệnh tự miễn sinh ra sẻ
làm rối loạn hàng loạt cơ quan bộ phận mà điều trị bệnh khó có kết quả.
Ví dụ: Bệnh nhược cơ năng làm cho cơ bị yếu; Bệnh viêm khớp dạng thấp bệnh này khá phổ
biến ở người, nó làm sưng phồng khớp xương cũng như làm tổn thương về xương sụn, gây
khó khăn cho cử động hàng ngày. Viêm mãn tính tích tụ lâu ngày sẻ hủy hoại xương khớp. Tài liệu tham khảo:
1. Thomas Carlyle Jones, (1983), Veterinary pathology
2.Daniel. K. Kusewitt, (2001) Veterinary pathology, volume 38, p.20-23
3.Vũ Công Hòe, (2002), Giải phẩu bệnh học, NXB yhọc, Hà Nội
4.Sử An Ninh, (2004) Tồn dư kháng sinh và sức khỏe cộng đồng. Khoa học kỷ thuật
thú y, 2. 74-82
D.Herenda, (1994) Cẩm nang kiểm tra thịt tại lò mổ.
BộNN& PTNT, (2003), Công tác vệ sinh thú y, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
5.Phạm Văn Tý, 2001), Miễn dịch học, NXB Hà nội
6.Nguyễn Chính, (1993), Kỷ thuật sản xuất tôm giống và cá nước lợ.
7.Cao Xuân Ngọc, (1997), Giải phẩu bệnh đại cương. NXB, nông nghiệp.
8.Lê Thanh Hòa (2004), nguyên lý ứng dụng RT-PCR; PCR, và dồng hóa sản
phẩmNguyễn Vỉnh Phước (chủ biên), Nguyễn Văn Hanh, Đặng Thế Huynh, !1978),
Giáo trình bẹnh truyền nhiễm gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
9.Phạm Hồng Sơn (chủ biên), Phan Văn Chinh, Nguyễn Thị Thanh, Phạm Quang
Trung, (2002), Giáo trình vi sinh vật, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
24