TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
___________
____________
BÀI TẬP NHÓM
MÔN TRIẾT HỌC
Kế thừa và phát triển tư tưởng Phật giáo
trong quá trình đổi mới ở Việt Nam Giáo viên hư
ớ
ng d
ẫ
n:
TS
. Lê Th
ị
trong phép biện chứng… mà là sự phủ định coi như là vòng khâu của liên hệ, vòng
khâu của sự phát triển, với sự duy trì cái khẳng định”.
2. Các đặc trưng của phủ định biện chứng
2.1. Tính kế thừa của phủ định biện chứng
Phủ định biện chứng là kết quả của sự phát triển tự thân của sự vật, nên nó
không thể là sự thủ tiêu, sự phá huỷ hoàn toàn cái cũ. Cái mới chỉ có thể ra đời trên
nền tảng cái cũ, chúng là sự phát triển tiếp tục của cái cũ trên cơ sở gạt bỏ những
mặt tiêu cực, lạc hậu của cái cũ và chọn lọc, giữ lại, cải tạo những mặt tích cực, bổ
sung những mặt mới phù hợp với hiện thực. Vậy phủ định đồng thời cũng là khẳng
định. Chẳng hạn trong lịch sử triết học, sự phát triển của phép biện chứng là quá
trình phủ định biện chứng liên tục từ phép biện chứng tự phát thời cổ đại qua phép
biện chứng duy tâm của triết học cổ điển Đức đến phép biện chứng duy vật. Sự
phát triển của các học thuyết khoa học là kết quả của những sự phủ định liên tục
những tri thức về sự vật, hiện tượng hay quá trình của thế giới. Nhờ đó ta thấy phủ
định biện chứng không chỉ là sự khắc phục cái cũ, sự vật cũ, mà còn là sự liên kết
giữa cái cũ với cái mới, sự vật cũ với sự vật mới, giữa sự khẳng định và sự phủ
định, quá khứ với hiện thực. Phủ định biện chứng là mắt khâu tất yếu của kế thừa
và phát triển.
2.2. Tính khách quan của phủ định biện chứng
Phủ định biện chứng mang tính khách quan do nguyên nhân của sự phủ định
nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó chính là giải quyết những mâu thuẫn bên trong
sự vật. Nhờ thế sự vật luôn luôn phát triển. Đương nhiên mỗi sự vật có phương
thức phủ định riêng tuỳ thuộc vào sự giải quyết mâu thuẫn của bản thân chúng. Do
đó phủ định biện chứng không phụ thuộc vào ý muốn của con người, mà con
người chỉ có thể tác động làm cho quá trình phủ định ấy diễn ra nhanh hay chậm
trên cơ sở nắm vững quy luật phát triển của sự vật.
3. Nội dung của quy luật phủ định của phủ định
Một chu kỳ, một vòng khâu của sự vận động phát triển của sự vật bao gồm
hai lần phủ định và ba giai đoạn: giai đoạn khẳng định, giai đoạn phủ định, giai
đoạn phủ định của phủ định. Qua hai lần phủ định sự vật hoàn thành được một chu
giữa Ấn Độ và Nêpan bây giờ. Phật giáo được ra đời trong làn sóng phản đối sự
ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt, có thể
nói rằng, ngay từ lúc mới ra đời, đạo Phật với triết lý đạo đức nhân sinh sâu sắc đã
trở thành một trong những ngọn cờ trong phong trào đòi tự do tư tưởng và bình
đẳng xã hội Ấn Độ đương thời.
Quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam được chia làm 3 thời kỳ chính:
- Thời kỳ từ đầu công nguyên
- Thời kỳ độc lập tự chủ qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến triều
Nguyễn
- Thời kỳ Pháp thuộc và sau 1954
Ở thời kỳ đầu công nguyên: Phật giáo được xác định là du nhập vào nước ta
thế kỷ II-SCN bằng đường biển và đường bộ từ Ấn Độ và Trung Quốc tại Giao Chỉ
và Chăm Pa; Trước nhà Đường xuất hiện dòng thiền đầu tiên là Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi
(do ngài Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi người Ấn Độ sáng lập) ở nhà nước Vạn Xuân của Lý
Nam Đế, với tư tưởng thiền là “Tức tâm tức phật”. Thời nhà Đường xuất hiện dòng
thiền thứ hai là Vô Ngôn Thông (do ngài Vô Ngôn Thông người Trung Quốc sáng
lập), với tư tưởng “Tức tâm tức phật” và có bổ sung phần y báo đức Phật trong tâm.
Điểm nổi bật của dòng thiền này là sự xuất hiện hình thức Cư sĩ - Thiền sư.
Ở thời kỳ độc lập tự chủ, nhà Đinh và Tiền Lê đã đưa Phật giáo lên thành
quốc giáo với chức tăng thống và thiền sư có vai trò cố vấn cho các nhà vua. Thời
nhà Lý, Phật giáo phát triển cực thịnh, là quốc đạo và xuất hiện dòng thiền thứ ba là
Thảo Đường (do ngài Thảo Đường người Trung Quốc sáng lập). Điểm nổi bật của
dòng thiền này là vai trò của giới cư sĩ được khẳng định một cách chính thức. Giai
đoạn này có sự hiện diện của cả 3 dòng thiền và Phật giáo có xu hướng nhập thế
mạnh mẽ. Nhà Trần là triều đại của Phật giáo với vai trò nổi bật của Trần Nhân
Tông - Người sáng lập ra dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Thời Hậu Lê Phật giáo
chính thức bước vào thời kỳ suy thoái với nhiều nguyên nhân, trong đó nổi bật là
do Hồ Quý Ly ra sức phát triển Nho giáo vào cuối thế kỷ XIV. Sau khi Mạc Đăng
Dung cướp ngôi nhà Lê thì nước ta chia cắt thành xứ đàng trong (vua Lê-chúa
Trịnh) và đàng ngoài (chúa Nguyễn). Xứ đàng trong Phật giáo phát triển mạnh trên
những hiện tượng về thế giới tự nhiên như cỏ, cây, hoa, lá cũng điều vâng theo luật
duyên khởi mà sinh thành, tồn tại và tiêu hoại.
Có 4 loại duyên cần được phân biệt:
Thứ nhất là Nhân Duyên. Nhân tức là hạt giống từ đó sinh ra quả. Duyên là
một điều kiện.
Nói về thứ nhân duyên trong kinh Phật có câu:
“Cái này có thì cái kia có
Cái này sinh thì cái kia sinh
Cái này không thì cái kia không
Cái này diệt thì cái kia diệt”.
Tất cả các pháp đều sinh, diệt và tồn tại trong sự liên hệ mật thiết với nhau, không
một pháp nào có thể tồn tại độc lập tuyệt đối.
Thứ hai là Tăng Thượng Duyên tức là những điều kiện có tư liệu cho nhân
duyên vì Tăng tức là thêm, Thượng tức là trồi lên.
Thứ ba là Sở Duyên Duyên. Sở duyên là đối tượng. Nếu không có đối tượng
thì không có chủ thể; như niềm tin thì có đối tượng của niềm tin, niềm tuyệt vọng
cũng có đối tượng của niềm tuyệt vọng. Đối tượng đó gọi là Sở Duyên
Thứ tư là Đẳng Vô Gián Duyên. Đẳng tức là bằng nhau, bình thường, đều
đều, Vô gián nghĩa là không gián đoạn. Sự hình thành nào cũng cần được liên tục,
không gián đoạn.
Phật chủ trương không bao giờ tự nhiên mà có, mà sinh ra và cũng cho rằng
không một thần quyền nào hay một đấng thiêng liêng nào tạo ra sự vật. Sự vật sinh
ra là có nhân nguyên nhân. Cái nguyên nhân một mình cũng không tạo ra được sự
vật mà phải có đủ duyên thì mới tạo ra quả được. Nhưng Phật nhấn mạnh: Quả có
thể khác nhân sinh ra nó. Quả có thể hơn nhân nếu gặp đủ duyên tốt, trái lại có thể
kém nhân nếu gặp duyên xấu. Nhân gặp đủ duyên thì sẽ biến thành quả, quả sinh ra
nếu hội đủ duyên lại có thể biến thành nhân rồi để sinh ra quả khác. Sự vật là một
chuỗi nhân quả, là một tràng nhân quả nối tiếp nhau, ảnh hưởng lẫn nhau không
bao giờ đứt quãng, không bao giờ ngừng. Khi đã mắc vào sự chi phối của Luật
nhân quả thì phải chịu nghiệp báo và kiếp luân hồi, luân chuyển tuần hoàn không
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”
Nếu ta nắm vững nguyên tắc nhân quả nghiệp báo như trên, thì chúng ta có
thể chuyển nghiệp ngay trong hiện kiếp. Từ những hành nghiệp thiện, giảm bớt
điều ác, dần dần ta sẽ chuyển hóa và tạo cho ta có một cuộc sống yên vui cho hiện
tại và mai sau.
2.1.2. Tứ diệu đế
Tứ diệu đế là là bốn chân lí cao cả được Đức Phật khám phá để giải thoát
con người khỏi khổ đau. Gồm:
- Khổ Đế: Chân lý về đau khổ
- Tập Đế: Chân lý về sự phát sinh ra đau khổ
- Diệt Đế: Chân lý về cách diệt đau khổ
- Đạo Đế: Chân lý về con đường dẫn đến diệt đau khổ (Bát Chánh Đạo)
Đạo Phật quan niệm về con người một cách thực tế. Đời là khổ, sinh là khổ,
già là khổ, chết là khổ, ưu phiền, ta thán, đau đớn, âu sầu và thất vọng là khổ, gặp
gỡ người ưa thích, xa lìa người thân, cũng đều là khổ, không đạt được điều mong
muốn cũng là khổ… Đó không phải là thái độ bi quan của nhà Phật, mà đó là triết
lý về đời sống nhân sinh. Đó là thái độ dũng cảm, nhìn thẳng vào thực tế cuộc sống
của Phật giáo. Không tô hồng, không bi phẫn. Và Phật không dạy trốn tránh đau
khổ, mà dạy ta cam đảm, đối diện với đau khổ để sống vui vẻ. Đau khổ không chỉ
bao gồm bệnh hoạn, chết chóc mà còn bao gồm những gì khó chịu xảy ra trong tâm
thức. Bệnh tật và cõi chết là những thực tế không tránh khỏi. Có sinh thì có tử, có
sức khỏe thì có bệnh tật, có tuổi trẻ sẽ có tuổi già, có thành công sẽ có thất bại, có
vui thú sẽ có buồn đau, có hội tụ sẽ có chia ly. Như vậy mọi người đều không tránh
khỏi đau khổ, và đau khổ sẽ đeo đuổi ta suốt cuộc đời. Đứng trước đau khổ, ta
không thể chối bỏ mà phải chấp nhận để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh của nó. Phải
duy trì đức tính tự trọng và lòng can đảm bởi vì sự giác ngộ được tìm thấy trong
niềm đau khổ. Nếu mục đích của con người là sống để hưởng thụ các lạc thú và
tiện nghi vật chất thì những thứ này là «không giới hạn». Nhiều người thường
tích lũy tài sản vì cho rằng tài sản khiến họ được kính trọng. Nhưng nhiều khi cách
- Chính mệnh (sống đúng): tránh làm những nghề giết hại như đồ tể, thợ săn,
buôn ma túy.
- Chính tinh tấn (cố gắng đúng cách): ngăn chặn không cho khởi sinh các bất
thiện chưa có, diệt trừ các bất thiện đã có, phát triển tâm thiện đã có và chưa có,
duy trì nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu.
- Chính niệm (nhớ đúng): tỉnh giác về ba mặt thân - miệng - ý.
- Chính định (tâm đúng đắn): tập trung tâm ý, đạt bốn định xuất thế gian
(bốn xứ)
Trên con đường dằng dặc đến Niết Bàn, Phật giáo khuyên ta đi con đường
Giới, Định, Tuệ. Giới là bước đầu trên con đường tu học, là nền tảng vững chắc của
mọi tiến bộ. Mục tiêu của Giới là giúp phát triển tâm Định và thành đạt Trí Tuệ tối
thượng. Giới hạnh càng trong sạch, tâm càng sáng suốt nhờ đó mà thành đạt Trí
Tuệ, tìm ra chân lý cao thượng của đời sống. Tuệ là diệt trừ tham, sân, si. Tuệ
giống như ngọn đèn chiếu đến đâu, xua tan bóng tối đến đó. Đó là cách đối phó với
thực tại của đau khổ, dẫn tới đời sống an lành.
2.2. Kế thừa tư tưởng Phật giáo trong các phong tục, tập quán của Việt Nam
Theo đúng truyền thống tập tục cúng rằm tức là ngày mặt trời và mặt
trăng thông suốt nhau nên thần thánh, tổ tiên có thể liên lạc, thông thương với
con người, sự cầu nguyện sẽ đạt tới sự cảm ứng với các cõi giới khác và sự cảm
thông sẽ được thiết lập. Đó là ngày trong sạch để các vị tăng kiểm điểm hành vi
của mình, gọi là ngày sám hối, các tín đồ về chùa để tham dự lễ sám hối, cầu
nguyện bỏ ác làm lành và sửa đổi thân tâm. Ngoài việc đi chùa sám hối, ở nhà
vào ngày rằm và mùng một, họ sắm đèn, nhang, hương hoa để dâng cúng Tam
Bảo và tổ tiên Ông Bà, thể hiện lòng tôn kính, thương nhớ những người quá cố
và cụ thể hóa hành vi tu tâm dưỡng tánh của họ.
Bên cạnh việc đi chùa sám hối vào ngày rằm, mùng một, người Việt Nam
còn có tập tục khác là đi viếng chùa, lễ Phật vào những ngày hội lớn như ngày
rằm tháng giêng, rằm tháng tư (Phật Đản) và rằm tháng bảy (lễ vu lan). Đây là
một tập tục, một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống người Việt. Tuy
nhiên, đi viếng chùa cũng tùy thuộc vào mục đích và quan niệm của mỗi người.
giàu lên về vật chất nhưng lại nghèo đi về tinh thần và tình cảm. Phật giáo và tinh
thần giải thoát bằng trung đạo ít nhiều có thể giúo con người tham khảo để lập lại
trạng thái quân bình trong đời sống, tránh lối sống khổ hạnh của thời bao cấp đồng
thời cũng tránh lối sống đam mê dục lạc, cơ hội thực dụng trong cơ chế thị trường.
Hơn tất cả các học thuyết khác của Phương Đông, Phật giáo chú ý đến mặt
phát triển tự nhiên của con người, đó là s inh, lão, bệnh, tử. Bốn chặng đó của cuộc
đời phản ánh sự phát triển tất yếu của cơ thể con người, mà nếu ai đó nhận thức
được thì sẽ không sợ hãi trước sự thay đổi của cuộc đời, thậm chí còn bình thản, lạc
quan trước cái chết. Nhiều nhà sư trong thời Lý - Trần đã có một quan niệm như
thế. Vốn có đầu óc thiết thực, người Việt Nam coi trọng việc sống phúc đức, trung
thực hơn là đi chùa: “Thứ nhất là tu tại gia, Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”; “Dù
xây chín bậc phù đồ, Không bằng làm phúc cứu cho một người”; coi trọng truyền
thống thờ cha mẹ, ông bà hơn là thờ Phật: “Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính
mẹ mới là chân tu”.
Phật giáo đưa vào hệ tư tưởng Việt Nam những quan niệm biện chứng với
các khái niệm “vô thường”, “vô ngã”. Ở đó cho thấy Phật giáo nhìn sự vật trong sự
vận động và biến đổi liên tục, không có gì là trụ lại mãi mãi, không có ai là tồn tại
mãi mãi. Tuy nhận thức đó chỉ thấy được cái biến đổi mà không thấy được cái ổn
định tương đối, chỉ thấy được cái vận động mà không thấy được cái hình thức của
vận động, tuy dễ đi tới chiều hướng bi quan và thái độ buông xuôi, nhưng mặt khác
phải thấy nhận thức như vậy là có chiều sâu, là thấy được một phương diện cơ bản
của phát triển sự vật.
Tập tục đốt vàng mã là tập tục rất phổ biến ở Việt Nam mà người Việt đã
tiếp nhận từ Phật giáo Trung Quốc. Nhiều người ngộ nhận rằng tập tục này xuất
gia từ quan điểm nhân quả luân hồi của Phật giáo, do đó nó đã tồn tại trong Phật
giáo từ xưa cho tới ngày nay. Nếu đời này ai ăn ở hiền lành, tu tâm dưỡng tánh
thì đời sau sẽ tái sinh trở lại làm người hạnh phúc, sung sướng giàu sang hoặc
vãng sanh về thế giới cực lạc. Còn nếu kiếp này ăn ở tệ bạc, làm nhiều điều ác,
sau khi chết sẽ bị đọa xuống địa ngục cõi âm ti chịu nhiều đau khổ. Người nhiều
tội lỗi hay không có ai thờ cúng, cầu siêu thì ở nơi địa ngục bị oan ức, đói lạnh,
không thấy được sự cần thiết phải đấu tranh chống áp bức, bóc lột vì thế quan niện
từ bi, bác ái trong một số trường hợp bất lợi cho sự đấu tranh giải phóng giai cấp,
chống áp bức.
Mặc dù Phật giáo lên án rất gay gắt chế độ người bóc lột người, chống lại
chủ nghĩa duy tâm cua Bàlamôn giáo. Đó là một trong những nhược điểm đồng
thời cũng là ưu điểm nửa vời của Đạo phật. Đứng trước bể khổ của chúng sinh Phật
giáo chủ trương cải tạo tâm linh chứ không phải cải tạo thế giới hiện thực.
Nhiều người quá lạm dụng yếu tố mê tín gây tốn tiền của cúng bái, lễ lạt. Thậm chí
nhiều người còn quá cả tin dẫn đến bị lợi dụng mât tiền mất của. Nhiều người thì
thụ động cho rằng con người đã có số mạng định trước thì còn phấn đấu làm gì cho
mệt. Như thế thì chẳng khác nào Phật giáo đã làm con người ta mất đi động lực
sinh tồn, xã hội không thể tiến lên được với những người như thế.
Tập tục đốt vàng mã là một "hủ tục" mang tính mê tín dị đoan và vô lý.
Chính trên thế gian này, đồng tiền của nước này mang sang nước khác còn khó
được chấp nhận, huống hố từ nhân gian, đốt gởi xuống âm phủ xài, là chuyện
không có cơ sở để tin cậy được. Theo Phật dạy chúng sanh tùy nghiệp thiện ác
theo đó mà thác sanh nơi cõi lành, cõi dữ. Thân nhân chúng ta chết cũng theo
nghiệp thiện ác mà thọ sanh vào sáu cõi chứ không ngồi chờ việc đốt vàng mã
của người thân, vừa trái với đạo lý, vừa phí tổn tiền bạc vô ích. Theo Phật giáo
thì có rất nhiều cách để thể hiện lòng thương và lòng chung thủy của người sống
đối với người chết bằng cách khi có người sắp chết, thân quyến phải phát tâm bố
thí, cúng dường, phóng sanh và điều quan trọng là phải thông tin cho người đó
biết việc làm của gia đình mà hướng tâm đến con người thiện, nhờ đó mà họ sẽ
thọ sanh vào cảnh giới an lành.
Theo cái nhìn của Phật giáo thì tập tục coi ngày giờ là một loại hình mê tín
mà người Phật tử không nên chạy theo. Đức Phật dạy rằng với người làm điều
lành, ngày nào cũng là ngày tốt với người làm việc tốt, ngày nào cũng là ngày
lành. Năm tháng đối với người làm thiện đều là ngày tốt cả, gieo nhân thiện thì sẽ
gặt quả lành. Giáo lý nhân quả của Đạo Phật là cán cân công bằng với khổ đau và
hạnh phúc của con người chứ không phải là sự phân định của hên xuôi.