Mục lục
MỤC LỤC 1
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
II.THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT RỦI RO TRONG CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 9
3. Phân tích sai phạm 11
4. Đề xuất phương hướng giải quyết và hạn chế rủi ro tín dụng đối với ngân hàng
GPBank 12
IV. PHƯƠNG HƯỚNG KHẮC PHỤC VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 13
KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
1
MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển của một đất nước, các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các
ngân hàng, đóng một vai trò rất quan trọng. Nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhanh và bền
vững nếu có một hệ thống Ngân hàng hoạt động ổn định và có hiệu quả, không thể có
tăng trưởng trong khi hệ thống tổ chức và hoạt động của Ngân hàng yếu kém và lạc hậu.
Như vậy đòi hỏi Ngân hàng phải phát triển tương xứng và hoạt động có hiệu quả trong
hoạt động lưu thông tiền tệ.
Điều hoà lưu thông tiền tệ chủ yếu thông qua hoạt động tín dụng, hoạt động tín
dụng là xương sống của hệ thống Ngân hàng thương mại, cụ thể là quá trình huy động
vốn và sử dụng vốn có hiệu quả của Ngân hàng sẽ giúp cho các thành phần kinh tế phát
triển ổn định và ngược lại.
Hoạt động của Ngân hàng có nhiều bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trong
nền kinh tế đầy biến động rủi ro là điều không thể tránh khỏi đối với tất cả các thành phần
kinh tế. Những nguy cơ tiềm ẩn như sự không trung thực của khách hàng, vốn vay bị sử
dụng sai mục đích, khách hàng phá sản hay do suy thoái kinh tế đều có thể biến một
khoản vay chất lượng cao thành một khoản nợ khó đòi. Đó là chưa kể đến những kẽ hở do
hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh gây nên những phiền toái cho khách hàng và Ngân
- Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu.
- Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất.
- Nợ đáng nghi ngờ (nợ có vấn đề) - có khả năng chuyển thành nợ xấu cao.
- Nợ không có tài sản đảm bảo.
Nhiều ngân hàng phân loại nợ theo khách hàng để phân tích và đánh giá rủi ro tín
dụng. Nợ của khách hàng nhóm A (loại 1) được coi có rủi ro thấp nhất còn nợ khách hàng
nhóm D, E (loại 4-5) được coi là có khả năng mất vốn cao nhất. Để cách phân loại này
phản ảnh chính xác rủi ro tín dụng phải có tiêu chuẩn để xếp hạng tín nhiệm đúng.
2. Phân loại rủi ro tín dụng
Theo đối tượng sử dụng
3
• Rủi ro khách hàng cá thể
• Rủi ro công ty/ tổ chức kinh tế
• Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý
Theo phạm vi
• Rủi ro đơn lẻ/giao dịch (được hiểu là rủi ro gắn với một giao dịch cụ thể nào
đó, như đối với một khoản vay của khách hàng. Loại rủi ro này gắn liền và
xuất phát chủ yếu do đặc điểm cá biệt của một khoản vay/khách hàng).
• Rủi ro hệ thống (rủi ro gắn liền với một nhóm khách hàng, chẳng hạn đối
với một ngành, thậm chí cả một nền kinh tế. Loại rủi ro này mang tính chất
vĩ mô và liên quan đến việc quản lý danh mục tín dụng).
Theo giai đoạn phát sinh rủi ro
• Rủi ro trong thẩm định, tức là đánh giá sai khách hàng.
• Rủi ro khi cho vay, chẳng hạn như giải ngân sai mục đích làm cho khoản
vay không phát huy hiệu quả.
• Rủi ro trong khi quản lý, xử lý thu nợ.
Theo sản phẩm
• Rủi ro các sản phẩm nội bảng (cho vay, thấu chi)
• Rủi ro các sản phẩm ngoại bảng (chiết khấu, thư tín dụng, bảo lãnh).
Theo tính chất của rủi ro
chính dẫn đến không có khả năng trả nợ.
3.2. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan từ người vay.
• Sử dụng vốn sai mục đích so với phương án kinh doanh khi giải ngân.
• Năng lực quản lý kinh doanh kém, đầu tư nhiều lĩnh vực vượt quá khả năng quản
lý.
5
• Khách hàng vay vốn tại nhiều tổ chức tín dụng dưới một danh nghĩa hay nhiều
thực thể khác nhau nên thiếu sự phân tích trên tổng thể, khó theo dõi được dòng
tiền dẫn đến việc sử dụng vốn vay chồng chéo và mất khả năng thanh toán dây
chuyền.
• Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch, che dấu các khoản lỗ.
• Chưa thực sự thay đổi quan điểm, còn xem vốn ngân hàng là vốn nhà nước, nếu
doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả thì ngân hàng chịu, ngân hàng thua lỗ thì nhà
nước chịu.
• Khách hàng kinh doanh thua lỗ, hàng hóa sản xuất ra không bán được, không trả
được nợ vay ngân hàng.
• Rủi ro tín dụng do khách hàng cố ý lừa đảo.
3.3. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan từ ngân hàng cho vay.
• Rủi ro do thiếu thông tin khi thẩm định và khi ra quyết định cho vay nên dẫn đến
những quyết định cho vay sai lầm.
• Rủi ro do thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay, hệ thống cảnh báo sớm về các
khoản vay có vấn đề không hiệu quả nên không thể can thiệp kịp thời.
• Rủi ro do áp lực phải hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch hàng năm được giao, chưa thật
sự quan tâm đến chất lượng tín dụng.
• Rủi ro do hệ thống kiểm soát trong khi cho vay không chặt chẽ và kém hiệu quả.
• Rủi ro do lỏng lẻo trong công tác kiểm soát nội bộ của ngân hàng.
• Rủi ro do ý muốn chủ quan của người xét duyệt hoặc cấp có thẩm quyền.
• Rủi ro do bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
• Rủi ro do việc chuyển dịch cơ cấu khách hàng theo ngành nghề, lĩnh vực còn
chậm.
đã có quan hệ tín dụng sẽ ít hơn so với khách hàng lần đầu đến quan hệ. Ngoài ra mối
quan hệ lâu dài cho phép ngân hàng hạn chế được ngay cả những rủi ro đạo đức có thể bất
ngờ xảy ra ngoài dự tính.
7
4.3 Hạn mức tín dụng
Là cam kết của ngân hàng: Trong một khoảng thời gian nhất định sẽ cấp tín dụng
cho doanh nghiệp tối đa bằng hạn mức đã duyệt theo mức lãi suất gắn với mức lãi suất thị
trường tại thời điểm cho vay. Hạn mức tín dụng là một phương pháp hữu hiệu nhằm giảm
chi phí ngân hàng trong việc sàng lọc va thu thập thông tin.
4.4. Thế chấp tài sản và tài khoản thanh khoản
Thế chấp tài sản là đem tài sản gán cho người cho vay để thu nợ trong trường hợp
khoản vay không được hoàn trả; do đó, nó làm giảm hậu quả việc lựa chọn đối nghịch bởi
vì tổn thất của người cho vay được giảm thiểu cho dù người vay không trả nợ.
Một hình thức thường gặp của yêu cầu thế chấp đó là, khi cho vay thương mại,
ngân hàng yêu cầu khách hàng phải mở tài khoản thanh toán tại mình; thông qua tài
khoản thanh toán, ngân hàng có thể giám sát được hoạt động thu chi của khách hàng, thu
thập những thông tin cần thiết về tình hình tài chính của người vay. Hoạt động tài khoản
thanh toán giúp cho ngân hàng dễ dàng hơn trong việc giám sát người vay và là công cụ
quan trọng tiếp theo trong quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng.
4.5 Hạn chế tín dụng
Là việc từ chối cấp tín dụng ngay cả khi người vay sẵn sàng trả mức lãi suất theo
yêu cầu hoặc thậm chí cao hơn. Hạn chế tín dụng gồm 2 hình thức:
Thứ nhất, ngân hàng từ chối cấp bất kỳ một khoản tín dụng nào, cho dù khách
hàng sẵn sàng chấp nhận mức lãi suất cao hơn.
Thứ hai, ngân hàng chấp nhận cho vay nhưng hạn chế số lượng được vay so với
yêu cầu của khách hàng.
Với hình thức hạn chế thứ nhất, thu mức lãi suất cao, nghĩa là ngân hàng đã chấp
nhận sự lựa chọn đối nghịch lớn, làm tăng khả năng ngân hàng cấp tín dụng cho những dự
án mạo hiểm rủi ro cao. Do đó, ngân hàng sẽ không cấp bất kỳ một khoản tín dụng nào
với mức lãi suất cao hơn bình thường; thay vào đó, ngân hàng sẽ từ chối cấp tín dụng.
các loại rủi ro này và việc phản ứng chậm trước một rủi ro về tin đồn như vừa qua là có
thể hiểu được.
Một vấn đề khác đang được các chuyên gia bàn đến đó là lòng tin của người dân
về hệ thống ngân hàng chưa đủ nhiều và do đó dễ hoang mang khi có những tình huống
9
xấu. Một vị tổng giám đốc một ngân hàng phân tích, điều này có phần do các đơn vị vẫn
chưa biết cách làm cho hoạt động của mình bớt xa lạ hơn với người dân. Chính vì vậy,
theo ông, đa số người dân vẫn còn hiểu biết ít về các hoạt động của ngân hàng. "Và, khi
đã không hiểu nhau thì làm sao có lòng tin đối với nhau", ông nói.
Ông Vũ Quốc Đại, giám đốc bộ phận quan hệ khách hàng ngân hàng Đông Á,
cũng nhìn lại rằng vấn đề thông tin của ngân hàng đối với khách hàng chưa đủ mạnh. Để
rút ngắn khoảng cách, ông Đại dự định chú trọng công tác dịch vụ khách hàng. Ông Đinh
Văn Khải ở Eximbank có sáng kiến, ngoài cách thông tin như trước đây thì ngân hàng còn
nên thường xuyên gửi thư ngỏ đến khách hàng, báo cáo về tình hình kinh doanh của mình
có kiểm toán, tận dụng nhiều kênh truyền thông để đưa thông tin về sản phẩm, dịch vụ
của mình đến với khách hàng.
III. VÍ DỤ ĐIỂN HÌNH VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN
HÀNG VÀ CÁCH XỬ LÝ.
1. Nội dung vụ việc.
Ngày 5/12/2007, Tập đoàn Bảo Sơn ký hợp đồng hợp tác đầu tư với Cty CP TM
Tổng hợp quốc tế D&T (Hà Nội) Theo đó, Tập đoàn Bảo Sơn được thụ hưởng lợi thế đất,
quyền sử dụng đất, san lấp mặt bằng và giá trị đầu tư hạ tầng kỹ thuật tại dự án “Khu du
lịch sinh thái An Khánh”, phía D&T bỏ vốn xây dựng 47 biệt thự trên tổng số 357 căn
biệt thự
Bằng hợp đồng hợp tác nói trên, Cty D&T đã ký hợp đồng tín dụng với NH TMCP
Dầu khí toàn cầu (GP Bank) để vay vốn thực hiện dự án. Tài sản đảm bảo cho hợp đồng
vay vốn nói trên được chốt lại là 47 lô đất với tổng diện tích 6.142 m2 đất và được định
giá hơn 97 tỷ đồng. Sau khi ký hợp đồng vay vốn với GP Bank, ba bên bao gồm Tập đoàn
Bảo Sơn, Cty D&T và GP Bank cũng đã ký cam kết ba bên nhất trí về việc thế chấp tài
sản, vay vốn và quy định trách nhiệm của từng bên.
- Luật gia Nguyễn Chấn cho rằng: "Giám đốc Cty D&T tự ý bán các căn biệt thự
khi chúng đã là tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng là việc làm vi phạm nghĩa vụ của
bên thế chấp quy định tại khoản 4 Điều 348 Bộ Luật Dân sự". Như vậy trách nhiệm thuộc
về bà Hạnh - Giám đốc Công ty D&T và Cty D&T. Cũng theo ông Chấn, những người
mua biệt thự trên giấy, mặc dù là người bị hại song có thể phải gánh chịu ít nhiều thiệt
hại do đã không tìm hiểu cụ thể và thiếu cân nhắc trước khi quyết định một vấn đề hệ
trọng.
11
- Theo các tài liệu có được và căn cứ vào Hợp đồng hợp tác đầu tư ký giữa Tập
đoàn Bảo Sơn và Cty D&T thì số tiền 66 tỷ mà Cty D&T chuyển cho Tập đoàn Bảo Sơn
là giá trị vốn góp bao gồm xây dựng hạ tầng, GPMB, quyền sử dụng đất Hợp đồng cũng
quy định, Cty D&T chịu trách nhiệm đầu tư xây dựng, hoàn tất các căn hộ và được phép
chuyển nhượng công trình. Tuy nhiên ngay khi bút chưa ráo mực, nhà chưa xây thì Cty
D&T đã bán phăng 47 biệt thự, vi phạm ngay chính hợp đồng vừa ký với Tập đoàn Bảo
Sơn.
- Đối với cam kết ba bên giữa GP Bank, Tập đoàn Bảo Sơn và Cty D&T cũng có
nội dung ghi rõ: "Trong thời gian Cty D&T còn nợ vay tại ngân hàng, Tập đoàn Bảo Sơn
không giải quyết bất cứ yêu cầu nào liên quan tới thế chấp, cầm cố, chuyển quyền sử
dụng đối với 47 căn hộ nêu trên ". Tuy vậy, có một câu hỏi đặt ra, bản cam kết cũng có
điều khoản “Trong thời gian cam kết có hiệu lực, các bên không được phép tiết lộ thông
tin liên quan đến cam kết ba bên này”. Vậy người mua nhà không biết thông tin những
căn hộ này bị thế chấp cũng là việc đương nhiên. Tập đoàn Bảo Sơn vẫn đang tiếp tục
quản lý 47 lô đất nói trên. Cty D&T chỉ là đối tác kinh doanh của Tập đoàn Bảo Sơn chứ
không phải Cty con, không phải nhà đầu tư thứ cấp, hoặc Cty thứ cấp của Tập đoàn Bảo
Sơn.
4. Đề xuất phương hướng giải quyết và hạn chế rủi ro tín dụng đối với ngân hàng
GPBank.
- Công bố sự việc một cách rõ ràng và công khai. Các tình tiết của vụ việc đưa lên
các phương tiện truyền thông sẽ giúp cho dư luận, người bị hại nắm rõ thông tin. Từ đó
tránh được những tình huống kiện tụng gây ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.
cấp (Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Hội đồng tín dụng, Giám đốc Chi nhánh)…
Đa dạng hoá để phân tán rủi ro tín dụng: Muốn vậy, các ngân hàng cần đẩy mạnh
thực hiện các hình thức tài trợ hiện tại và thực hiện thêm các hình thức tài trợ, đầu tư theo
hướng thị trường.
Mở rộng cho vay có đảm bảo: Để đảm bảo hạn chế rủi ro, nhất là rủi ro đạo đức và
hạn chế tổn thất khi rủi ro xảy ra thì các ngân hàng cần phải tăng cường mở rộng việc cho
vay có tài sản bảo đảm theo hướng: không đồng nhất tất cả các dự án vay vốn cùng chung
một điều kiện bảo đảm tiền vay; yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản bảo đảm tiền vay nếu
thấy cần thiết…
Hai là, hoàn thiện bộ máy quản lý rủi ro.
13
Để hạn chế rủi ro tín dụng, các ngân hàng phải xây dựng và hoàn thiện bộ máy
quản lý rủi ro phù hợp với thông lệ quốc tế, trong đó quan trọng nhất là hình thành bộ
phận quản lý rủi ro ở hội sở chính và ở các Chi nhánh. Mô hình quản lý rủi ro có thể bao
gồm: Uỷ ban quản lý rủi ro trực thuộc Hội đồng quản lý; Ban quản lý rủi ro thuộc cơ quan
điều hành ở Trung ương và Phòng quản lý rủi ro tại các Chi nhánh. Trong đó, bộ phận
quản lý rủi ro phải hoạt động theo nguyên tắc không tham gia vào quá trình tạo ra rủi ro.
Ba là, nâng cao chất lượng công tác thẩm định năng lực chủ đầu tư, thẩm định dự
án vay vốn.
Công tác thẩm định cần được thay đổi căn bản trên cơ sở việc quản lý tín dụng
theo khách hàng chứ không phải chỉ quản lý theo dự án. Để nâng cao chất lượng thẩm
định, cần bố trí cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm trong công tác thẩm định,
thường xuyên tổ chức các buổi thảo luận và khoá học về thẩm định dự án để cập nhật
thông tin, cách thức thẩm định. Đồng thời khi thẩm định cần chú trọng công tác thu thập,
xử lý thông tin về dự án, khoản vay; áp dụng các chỉ tiêu thẩm định như NPV, IRR, phân
tích độ nhạy… và cần đặc biệt lưu ý việc thẩm định năng lực, uy tín, khả năng tài chính
của khách hàng/chủ đầu tư…
Bốn là, xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ.
Hệ thống này là một phương pháp chấm điểm nhất quán dựa trên các chỉ số tài
chính và các nhân tố phi tài chính trong hoàn cảnh thực tế hiện tại của ngân hàng theo các
các thanh toán cho khách hàng.
Tám là, thực hiện việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro
Chín là, nâng cao trình độ cán bộ tín dụng về năng lực chuyên và đạo đức nghề
nghiệp.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố đảm bảo cho sự thành công của việc thực
hiện các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng. Để có thể tạo dựng nguồn nhân lực đủ mạnh,
đáp ứng được yếu cầu nhất là trong công tác quản lý rủi ro tín dụng, ngân hàng phải tập
trung giải quyết một số nhiệm vụ trọng tâm: chuẩn hoá đội ngũ cán bộ tín dụng; có chính
sách đào tạo và đãi ngộ hợp lý thông qua chế độ tiền lương, tiền thưởng, chế độ đào tạo,
cơ hội thăng tiến… đối với những cán bộ làm công tác tín dụng, thẩm định, rủi ro tín
dụng. Đồng thời, các ngân hàng cũng cần phải ban hành qui định liên quan đến vấn đề
trách nhiệm cá nhân (nhất là trách nhiệm vật chất) trong việc để xảy ra rủi ro gây tổn thất
về tài sản cho ngân hàng).
15
KẾT LUẬN
Hoạt động kinh doanh ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế tuy
nhiên cũng đồng thời tiềm ẩn nhìều rủi ro. Những rủi ro nếu xảy ra sẽ để lại những hậu
quả nghiêm trọng, không chỉ cho một ngân hàng, mà là toàn bộ hệ thống ngân hàng, và
tác động tiêu cực đến cả nền kinh tế. Nền kinh tế muốn phát triển đòi hỏi phải có một hệ
thống ngân hàng hoạt động hiệu quả, lành mạnh và giàu tiềm lực, đủ sức điều hòa, cung
cấp vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của cả nền kinh tế. Để hiện thực hóa điều đó,
công tác quản trị rủi ro phải đặc biệt được chú trọng, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế
vẫn còn khó khăn và biến động phức tạp như hiện nay.
Thực hiện cam kết quốc tế về lĩnh vực ngân hàng trong Hiệp định thương mại Việt
– Mỹ và gia nhập Tổ chức thương mại thế giới đã và đang đặt ra cho cho hệ thống ngân
hàng Việt Nam những thách thức vô cùng to lớn. Để hội nhập thành công và không bị lép
vế trên "sân nhà" các ngân hàng ở Việt Nam, phải lành mạnh hoá tình hình tài chính theo
chuẩn mực quốc tế; nâng cao năng lực cạnh tranh. Đối với các NHTM, nhằm thực hiện
mục tiêu trở thành ngân hàng chuyên nghiệp, hiện đại, một công cụ quan trọng của chính
phủ với phương châm "an toàn hiệu quả – Hội nhập quốc tế – Phát triển “ nhiệm vụ quan