Nhân vật hoàng đế như là một nhân vật văn
hóa (Khảo sát trường hợp Lê Thánh Tông qua
lịch sử và văn học) Phạm Võ Thanh Hà Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển
Luận văn ThS. ngành: Việt Nam hoc; Mã số: 60 31 60
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Nho Thìn
Năm bảo vệ: 2011 Abstract. Nghiên cứu những con đường hình thành chế độ Đế quyền. Nghiên cứu
nhân vật Hoàng đế và những quyền lực, phẩm chất cần có của Hoàng đế thông qua
việc nghiên cứu nhân vật Hoàng đế Lê Thánh Tông. Trình bày các hình thức bảo vệ
Đế quyền như: Quân sự, Chính trị, Văn hóa tâm linh, Văn hóa, Văn học nghệ thuật.
Keywords. Lịch sử Việt Nam; Việt Nam học; Hoàng đế; Nhân vật lịch sử
Content
1. Lý do, mục đích chọn đề tài
Trong cả nghìn năm tồn tại của thể chế quân chủ truyền thống Việt Nam, Hoàng đế là
một “nhân vật” đặc biệt. Đặc biệt, bởi Hoàng đế là trung tâm của toàn xã hội, đứng đầu một
thời đại kéo dài nhiều thế kỷ (thời đại quân chủ). Hơn nữa, bản thân “ông ta” là một nhân vật
văn hóa và có chi phối đáng kể đến văn hóa của một thời kỳ lịch sử nhất định. Do những biến
động lịch sử (trực tiếp hoặc gián tiếp, ngấm ngầm hoặc công khai), các vương triều có thể thay
thế lẫn nhau (dưới hình thức chuyển giao quyền lực êm đẹp hay bạo loạn lật đổ) ở những thời
điểm nhất định, nhưng nhân vật Hoàng đế thì vẫn còn đó - như biểu tượng của một hình thái
kinh tế - xã hội,. Nhân vật Hoàng đế chỉ mất đi khi xã hội đã chuyển sang một thời đại khác -
diện văn hóa - văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa tâm linh, văn hóa nghệ thuật …
Không thể không nhắc tới ở đây công trình của tác giả Lê Kim Ngân, tìm hiểu Chế độ
chính trị Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII - được Phân khoa Khoa học Xã hội - Viện Đại học
Vạn Hạnh xuất bản năm 1974.
Với Chế độ chính trị Việt Nam thế kỷ XVIII và XVIII, trước thực tế đáng buồn là
“Không một nhà Pháp chế sử Tây phương nào biết đến và nhắc tới thể chế vua chúa lưỡng đầu
tại Việt Nam, một thể chế tồn tại suốt hai thế kỷ XVII - XVIII trên đất Đại Việt, song hành với
chế độ Mạc phủ tại Nhật và trước cả chế độ Đại nghị tại Anh, và chế độ lưỡng đầu này của Việt
Nam cũng có rất nhiều nét tiêu biểu chung của bất cứ loại lưỡng đầu chế nào đã từng được áp
dụng trên thế giới”, Lê Kim Ngân “thấy cần phải bổ khuyết sự thiếu sót của các nhà Pháp chế
sử Tây phương bằng cách trình bày rõ lưỡng đầu chế tại Việt Nam dưới thời Lê Trung hưng
ngõ hầu góp phần vào việc nghiên cứu, tìm hiểu nguồn gốc và các định chế lưỡng đầu trên thế
giới” [22, 8].
“Trình bày rõ lưỡng đầu chế tại Việt Nam”, đương nhiên, công trình của Lê Kim
Ngân đã dành một dung lượng đáng kể để tìm hiểu “Nguồn gốc danh xưng Thiên tử và Bá
chủ” cũng như “Danh hiệu Thiên tử và Bá chủ tại Việt Nam”. Hai phần trình bày này giúp
chúng tôi những hiểu biết cơ bản, góp phần làm sáng tỏ nội dung các chương chính của luận
văn.
Tiếp nối Lê Kim Ngân, tại hội thảo quốc tế lần thứ nhất về Việt Nam học được tổ
chức tại Hà Nội (tháng7/1998), Vladimir Antoshchenko, một học giả người Nga có tham luận
về “Dòng họ các chúa Trịnh ở Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII”, nghiên cứu thể
chế cai quản và chính trị của phủ chúa… song, đã đề cập tới quá trình tập trung quan liêu của
nhà nước Lê Sơ trước đó. Theo V. Antoshchenko, “sau các nỗ lực của vua Lê Thánh Tông
(trị vì từ 1460 đến 1497) nhằm biến Việt Nam (đúng ra là Đại Việt?) thành một đế chế quan
liêu kiểu Trung Quốc, đã diễn ra một quá trình tập quyền hóa. Tiếp theo giai đoạn giảm bớt
các tước vị và quyền hành của quan lại là giai đoạn cô đúc các nguyên tắc tổ chức cũ (ví dụ
tạo ra tính đồng nhất hay chuyên nhất trong việc cai quản) và tạo ra các thuộc tính mang tính
hình thức của quyền lực với các điều kiện cai trị mới trong bộ máy hành chính của các quan
lại (như cai trị theo vùng lãnh thổ)”…
Sau Vladimir Antochenko là nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương với bài viết Mẫu hình
tiếng Việt thế kỷ XV (Bùi Duy Tân)… song nhìn chung, thơ ca không phải là thành tố “đầu
tiên”, càng không phải thành tố “quan trọng nhất” để dựng nên chân dung một “nhân vật văn
hóa” như Hoàng đế Lê Thánh Tông (nhiều vị hoàng đế khác trong lịch sử dân tộc không làm
thơ thì đã sao?; họ vẫn là một “nhân vật văn hóa” đấy thôi). 25/65 bài còn lại tìm hiểu cụ thể
về muôn mặt đời sống trong thời đại Lê Thánh Tông (quân sự, pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã
hội)… Đặc biệt, bài khái luận của Bùi Duy Tân: Lê Thánh Tông - Vị hoàng đế anh minh, nhà
văn hóa lỗi lạc, một văn hào dân tộc đem lại một cái nhìn khá toàn diện về ông vua thứ tư
nhà Hậu Lê.
Định danh Lê Thánh Tông là “vị hoàng đế anh minh”, vì ông lên ngôi giữa lúc chính
sự nước nhà “nghiêng ngả”, vậy mà Thiên Nam động chủ đã nhanh chóng củng cố chính
quyền - tổ chức còn hoàn bị hơn cả những thời đại trước với một phủ Phụng Thiên (tức kinh
đô Thăng Long) và 13 thừa tuyên. Đất nước Đại Việt thời này vững mạnh về quốc phòng,
không ngừng mở rộng lãnh thổ về phương Nam, nhiều lần đánh lui các đạo quân xâm lược
Chiêm Thành cũng như kẻ thù quấy rối miền biên viễn.
Định danh Lê Thánh Tông là “nhà văn hóa lỗi lạc”, vì ông đã xây dựng một nền văn
hóa mới nhiều tiến bộ, dựa trên nền tảng ý thức hệ Nho giáo, coi trọng pháp luật - lễ nghĩa.
Thậm chí, thời vị vua thứ tư nhà Lê Sơ trị vì có thể xem là giai đoạn cực thịnh nhất của Nho
giáo trong cả nghìn năm quân chủ Việt Nam khi giáo dục - khoa cử đạt nhiều thành tựu rực rỡ,
nhà vua biết phát hiện và trọng dụng - tôn vinh nhân tài, các công trình có giá trị về văn học -
lịch sử được triều đình tổ chức biên soạn, đồng thời đón nhận lại “di sản bị mất giá” của Ức
Trai… Yếu tố Nho giáo được cái tác giả nhấn mạnh trong thời đại Lê Thánh Tông là điểm nổi
bật, gợi ý cho chúng tôi cách triển khai đề tài.
Định danh Lê Thánh Tông là “một văn hào dân tộc”, vì sự nghiệp văn học của ông
khá bề thế - đa dạng (dù đây đó còn những tồn nghi không tránh khỏi về câu thơ, bài thơ cụ
thể), có nhiều đóng góp ở cả 2 mảng sáng tác: chữ Hán và chữ Nôm với hàng trăm bài thơ,
áng văn chính luận… còn lại đến ngày hôm nay. Chưa nói đến, lần đầu tiên trong lịch sử
nước nhà có chuyện vua tôi cùng xướng họa làm thơ nhân đất nước được mùa mấy năm liên
tục (1493 - 1494). Một sinh hoạt văn hóa thật độc đáo bởi hàng trăm năm sau Lê Thánh
Tông, rất nhiều đời chúa Trịnh và không ít vua nhà Nguyễn đều là những người hay chữ (như
Tự Đức có đến cả nghìn bài thơ), nhưng sinh họat văn học mang ý nghĩa “sân chơi” tao nhã
ngữ văn tự dân tộc; sáng tạo thể tài thơ Nôm vịnh sử dân tộc; thơ Nôm đề vịnh phong cảnh Đại
Việt; thơ Nôm khẩu khí; mở đường truyện thơ Nôm Đường luật; Thập giới cô hồn quốc ngữ
văn; Thánh Tông di thảo; mở mang giáo hóa; thiết định pháp độ; thiết định phong tục…
Nhìn chung, hai bài viết của giáo sư Nguyễn Đình Chú và tác giả Trần Trọng Dương
đều có những điểm gặp gỡ với đề tài chúng tôi đang triển khai. Tuy nhiên, cùng một vấn đề
có thể tồn tại nhiều hướng tiếp cận và một hướng tiếp cận vẫn có thể xuất hiện các ngả rẽ
khác nhau - như văn hiến tuy có nhiều điểm “đồng quy” với văn hóa nhưng là hai khái niệm
riêng biệt; rồi cùng là văn hóa, song văn hóa như nhận thức phổ quát sẽ khác với điểm nhìn
từ “nhân vật văn hóa” vốn khá mới mẻ, chưa có nhiều nhà nghiên cứu “để tâm” hoặc “đi
theo”…
3. Phương pháp nghiên cứu:
Trong luận văn này, người viết chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu xã hội học
và văn hóa học để làm sáng tỏ vấn đề được đặt ra. Đương nhiên, một số phương pháp khác
như thống kê, so sánh cũng được vận dụng những lúc cần thiết. Bởi xét cho cùng, không thể
coi một phương pháp duy nhất nào là chiếc chìa khóa vạn năng để giải mã các vấn đề khoa
học. Có sự kết hợp giữa nhiều phương pháp nghiên cứu, khả năng tiếp cận chân lý khoa học
sẽ được “đảm bảo” hơn.
4. Bố cục đề tài:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn Nhân vật hoàng đế như là một nhân vật văn
hóa (khảo sát trường hợp Lê Thánh Tông qua lịch sử và văn học) của chúng tôi được chia
thành ba chương với các nội dung:
Chương 1: Các con đường hình thành Đế quyền.
Chương 2: Hoàng đế và những quyền lực, phẩm chất cần có của Hoàng đế.
Chương 3: Các hình thức bảo vệ Đế quyền. References
1. Đào Duy Anh, Lê Thánh Tông, nxb Hàn Thuyên, Hà Nội, 1943.
2. Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển (tái bản), nxb KHXH, H, 2001.
3. Nguyễn Huệ Chi, Những vấn đề đặt ra trong Hội thảo khoa học về Lê Thánh Tông,
(tập 2), nxb Thế giới, H, 1999, tr. 618 - 629.
19. Phan Huy Lê, Lê Thánh Tông và sự nghiệp của ông trong bối cảnh lịch sử đất
nước thế kỷ XV, in trong Lê Thánh Tông - Về tác gia, tác phẩm, nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007,
tr. 159 - 166.
20. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư (tái bản, trọn bộ), nxb
VHTT, Hà Nội, 2009.
21. Hồ Chí Minh, Toàn tập (tập 3), nxb CTQG, Hà Nội, 2000.
22. Lê Kim Ngân, Chế độ chính trị Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII, Phân khoa Khoa
học Xã hội - Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1974.
23. Lý Lạc Nghị, Tìm về cội nguồn chữ Hán, nxb Thế giới, H, 1997.
24. Nguyễn Tôn Nhan, Bách khoa thư Văn hóa cổ điển Trung Quốc, nxb VHTT, Hà
Nội, 2002.
25. Nhiều tác giả, Việt Nam học - Kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ nhất (tập 3), nxb
Thế giới, Hà Nội, 2001.
26. Nhiều tác giả, Lê Thánh Tông - Về tác gia, tác phẩm, nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007.
27. Nhiều tác giả, Lịch sử Việt Nam (tập 1), nxb KHXH, H, 1971.
28. Đỗ Văn Ninh, Văn bia Quốc Tử Giám Hà Nội, nxb VHTT, Hà Nội, 2000.
29. Đỗ Văn Ninh, Từ điển chức quan Việt Nam, nxb Thanh niên, Hà Nội, 2002.
30. Nguyễn Danh Phiệt, Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, nxb KHXH, Hà Nội, 1990.
31. Bùi Duy Tân (Chủ biên), Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam thế kỷ X - XIX
(tập 1), nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004.
32. Bùi Duy Tân, Lê Thánh Tông - Vị hoàng đế anh minh, nhà văn hóa lỗi lạc, một
văn hào dân tộc, in trong Lê Thánh Tông - Về tác gia, tác phẩm, nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007,
tr. 17 - 72.
33. Bùi Duy Tân, Hồng Đức quốc âm thi tập - Một tác phẩm lớn của văn học tiếng
Việt thế kỷ XV, in trong Lê Thánh Tông - Về tác gia, tác phẩm, nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007,
tr. 582 - 591.
34. Tư Mã Thiên, Sử ký (bản dịch của Phan Ngọc), tập 1, nxb Văn học, Hà Nội, 1988.
35. Trần Nho Thìn, Văn học Trung đại Việt Nam - Dưới góc nhìn Văn hóa, nxb Giáo
dục, Hà Nội, 2008.