ĐỀ CƯƠNG SƠ BỘ: LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1. Điều kiện ra đời nhà nước Văn Lang – Âu Lạc.
2. Những điểm đặc thù trong quá trình ra đời nhà nước Văn Lang – Âu Lạc.
3. Những di tồn của thời kì dựng nước đối với quá trình xây dựng và phát triển của nhà nước
và pháp luật Việt Nam trong tiến trình lịch sử.
4. Các giai đoạn phát triển của chính quyền đô hộ phong kiến Trung Hoa ở Âu Lạc.
5. Nguồn và nội dung của pháp luật thời Bắc thuộc.
6. Đặc điểm của nhà nước và pháp luật Việt Nam thời Bắc thuộc.
7. Hệ quả của thời Bắc thuộc đối với quá trình xây dựng và phát triển của nhà nước và pháp
luật phong kiến Việt Nam giai đoạn độc lập tự chủ.
8. Những tư tưởng truyền thống và tư tưởng chính trị - pháp lí cơ bản của nhà nước và pháp
luật phong kiến Việt Nam.
9. Địa vị, quyền lực của vua trong nhà nước phong kiến Việt Nam.
10. Bộ máy Nhà nước quân chủ quý tộc thời Lí – Trần.
11. Bộ máy Nhà nước quân chủ quan liêu chuyên chế thời Lê Thánh Tông và Minh Mệnh.
12. Bộ máy Nhà nước lưỡng đầu thời Lê – Trịnh.
13. Bản chất của nhà nước phong kiến Việt Nam.
14. Yếu tố Trung Hoa và yếu tố Đại Việt trong nhà nước phong kiến Việt Nam.
15. Thành tựu lập pháp của trong nhà nước phong kiến Việt Nam.
16. Hệ thống hình phạt trong pháp luật phong kiến Việt Nam.
17. Chế độ hôn nhân trong pháp luật phong kiến Việt Nam.
18. Chế độ gia đình trong pháp luật phong kiến Việt Nam.
19. Chế độ thừa kế trong pháp luật phong kiến Việt Nam.
20. Chế định hợp đồng trong pháp luật phong kiến Việt Nam.
21. Đặc điểm pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam.
22. Đặc điểm pháp luật phong kiến Việt Nam.
23. Yếu tố Trung Hoa và yếu tố Đại Việt trong pháp luật phong kiến Việt Nam.
24. Đặc điểm của chính quyền và pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc.
Câu 1. Điều kiện ra đời nhà nước của người Việt cổ.
1.Quá trình phát triển kinh tế
Vào đầu thời kì Hùng Vương tương ứng với giai đoạn Phùng Nguyên, công cụ bằng đá vẫn hoàn
của công xã nhưng dược phân chia cho các thành viên công xã cày cấy và các thành viên công
xã dược quyền sở hữu sản phẩm lao động của mình. Đặc thù này đưa đến 2 hệ quả lớn:
+Ruộng đất trong công xã nông thôn tuy vẫn thuộc sở hữu chung nhưng được phân phối
cho các thành viên sử dụng nên đã thúc đẩy năng suất lao động, dẫn đến sự hình thành tư hữu
và tích tụ tài sản.
+ Ruộng đất là tư liệu sản xuất cơ bản nhưng không được tư hữu hóa nên đã kìm hãm
sự phát triển của chế độ tư hữu, làm cho quá trình phân hóa xã hội diễn ra chậm chạp và
không sâu sắc.
- Về sản phẩm thặng dư trong xã hội: trong điều kiện tài nguyên phong phú, đất đai phì nhiêu
của vùng châu thổ, nhất là với công cụ bằng kim loại vào cuối thời Hùng vương, con người có
thể đạt năng suất lao động cao hơn nhiều so với trước, không chỉ làm ra được sản phẩm đủ
nuôi sống họ hàng ngày mà có cả sản phẩm để dành. Cuối thời Hùng Vương là giai đoạn sơ kì
của sự phân hóa giai cấp, trong xã hội đã hình thành các giai tầng:
+ Thứ nhất là quý tộc: họ vốn là con cháu của các thủ lĩnh liên minh bộ lạc, tộc trưởng
thị tộc cùng gia đình họ. Họ có quyền thế tập địa vị và quyền lợi của cha ông. Lợi dụng địa vị,
chức năng mà cộng đồng trao cho mình, họ chiếm 1 phần sản phẩm thặng dư trong xã hội,
biến sự đóng góp vì lợi ích chung của cộng đồng thành hình thức bóc lột người sản xuất…dần
dần nắm trong tay nhiều của cải và quyền lực.
+ Thứ 2 là nông dân công xã nông thôn chiếm đa số trong xã hội, giữ vai trò lực lượng
sản xuất chủ yếu.
Như vậy cuối thời đại Hùng Vương sự phân hóa xã hội tuy chưa cao nhưng cùng với sự phát
triển kinh tế đã tạo nên tiền đề vật chất cần thiết cho khả năng ra đời của nhà nước.
Câu 2: Đặc thù trong quá trình ra đời nhà nước của người Việt cổ.
Có 3 điểm đặc thù:
1.Nhà nước ra đời trong trạng thái phân hóa xã hội chưa tới mức độ sâu sắc như những nước
khác. Nói cách khác, nhà nước ra đời sớm, sớm cả về mặt thời gian và không gian là do 2 yếu
tố tự vệ và trị thủy-thủy lợi thúc đẩy .
-Cuối thời đại Hùng Vương, dân cư tràn xuống chinh phục các vùng đồng bằng châu thổ của
các con sông lớn và phát triển nông nghiệp trồng lúa nước nên công cuộc trị thủy-thủy lợi giữ
phương. Bồ chính là người đứng đầu công xã nông thôn.
Pháp luật ra đời từ khi nhà nước xuất hiện. Qua sự phản ánh gián tiếp của truyền thuyết dân
gian và sử sách cổ có thể đưa ra giả thuyết nhà nước Văn Lang Âu Lạc có những nguồn gốc và
hình thức pháp luật sau:
+tập quán pháp:giữ vai trò chủ đạo và phổ biến nhất. Đó là 1 số tập quán vốn có từ thời
nguyên thủy điều chỉnh nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội: quan hệ sở hữu, chiếm hữu, sử dụng
ruộng đất, quan hệ về trật tự an toàn xã hội…
+ pháp luật khẩu truyền: đó là ý chí của người thống trị đối với xã hội. Hình thức pháp luật
khẩu truyền thường được dùng để giải quyết những vụ việc cụ thể hoặc đột xuất như thăng
quan bãi chức, xử tội…
Câu 3: Những di tồn của thời kỳ dựng nước đến quá trình phát triển của nhà nước và
pháp luật phong kiến Việt Nam
Chính những điều kiện về kinh tế, dân cư, thể chế nhà nước đã dẫn đến sự di tồn
1. Nhà nước:
- Tính giai cấp chưa rõ => tính dân tộc – xã hội chưa cao
- Chức năng: Trị thủy, chống giặc ngoại xâm
- Tự quản: công xã nông thôn
- Cấu trúc nhà nước tập quyền
- Tâm lý pháp luật, tâm lý quyền lực nhà nước: luôn hướng tới cải thiện tư cách của
người cầm quyền
2. Pháp luật:
- Nguồn: tập quán, pháp lệnh, khẩu lệnh
- Tôn trọng tập quán
- Chưa có pháp luật thành văn
Câu 4: Những hệ quả của thời kỳ Bắc thuộc đến quá trình phát triển của nhà nước và
pháp luật phong kiến Việt Nam.
Sau khi Triệu Đà đánh bại của An Dương Vương năm 179 trc.CN, nước ta rơi vào thời kỳ đen
tối nhất trong lịch sử-thời kỳ Bắc thuộc. Đến tận năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán
trên sông Bạch Đằng, xác lập nền độc lập dân tộc, chấm dứt hơn 10 thế kỷ đô hộ của các triều
buộc NNPKVN thời kỳ độc lập phải trao “yếu tố tự trị” cho các làng xã nên việc áp đặt ý chí của
nhà nước đối với làng xã rất hạn chế - c/s dung hòa nhà nước với làng xã.
d. Chế độ quan lại
Chính quyền có thể thay đổi tên gọi nhưng đều xây dựng trên nguyên tắc “Tôn quân quyền” và
nguyên tắc “chính danh” → đó là lý do giải thích tại sao mà bộ máy NNPK VN thời kỳ độc lập lại
sớm hoàn thiện (TK XI – nhà Lê) hơn so với việc hoàn thiện bộ máy NNPK Trung Hoa (đến tận
thời nhà Đường).
2. Hệ quả đối với pháp luật
Duy trì 2 nguồn luật
- Luật Việt : giai đoạn đầu nhà Triệu là nhà nước cát cứ của Tần, Hạ cho đến Triệu Đà đã dùng
phương thức “ Dùng người Việt để trị người Việt” → các nhà nước PKPB đã sử dụng luật Việt để
cai trị
- Luật Hán : nhà Hán đã thực hiện chính sách đồng hóa, thực hiện việc dùng luật Hán với người
dân Âu Lạc đã khiến nhân dân ta oán giận, chống đối lại, nảy sinh tâm lý pháp luật “trọng lệ
hơn trọng luật”, bàng quang với luật Hán, nhưng cũng nhờ đó đã xuất hiện 1 hình thức pháp
luật trước đây chưa từng có là VBQP PL
→ Các nhà nước PKVN thời kỳ độc lập sau này đã có sự tiếp thu, chon lọc những ưu điểm của
các nhà nước PKPB.
* Ưu điểm :
4
- Luật Hán là luật thành văn nên nó đã đưa vào nước ta kỹ thuật xây dựng pháp luật thành văn
(VBQP PL). Đây là sự tiếp thu có hcọn lọc và sáng tạo được sử dụng ở các nhà nước PKVN sau
này. Đó là hình thức các văn bản luật như : Bộ luật, lệnh, chiếu, chỉ.
- Thừa nhận luật Việt là các tập quán điều chỉnh những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội
vì nó gần gũi với đời sống người dân, lại có từ lâu đời nên đã chống lại được sự áp đặt của
PLPK Trung Hoa. → Trên cơ sở đó, các nhà nước độc lập sau này đã ban hành pháp luật thực
định và thừa nhận các tập quán pháp → có sự kết hợ luật và lệ.
(lệ : có phạm vi hẹp, phù hợp với đời sống xã hội, gần gũi với người dân nhưng hiệu lực pháp
lý kém, bị hạn chế)
NGUYÊN NHÂN :
Trong lĩnh vực lập pháp, là người duy nhất có thẩm quyền ban hành luật. Nhà vua là nguồn gốc
của pháp luật , ý chí của nhà vua dù thể hiện qua văn bản hay khẩu truyền đều trở thành pháp
luật.
Trong lĩnh vực hành pháp, đóng vai trò là người đứng đầu nền hành chính quốc gia. Vua là
người quy định chức năng, nhiệm vụ, bổ nhiệm, bãi miễn, điều động tất cả các chức quan từ
trung ương đến địa phương; là người đưa quyết định cao nhất và cuối cùng về quản lý hành
chính nhà nước. Thông qua toàn bộ hệ thống quan lại do mình trực tiếp bổ nhiệm và điều
động, nhà vua quản lý và điều hành được nhà nước một cách toàn diện nhất, chặt chẽ nhất.
Trong lĩnh vực tư pháp, đóng vai trò là 1 vị thẩm phán giữ quyền tài phán cao nhất. Mọi quyết
định của Hoàng đế đều có hiệu lực bắt buộc phải thi hành. Đồng thời chỉ có vua mới có quyền
5
đại xá, đặc xá cho tội nhân.
Về mặt quân sự, nhà vua có vai trò là tổng tư lệnh trong quân đội. Nếu như trước đây, dưới
thời Lý - Trần, quyền điều động quân đội thuộc về quan Thái uý, thì dưới triều Lê Thánh Tông,
quyền đó do nhà vua trực tiếp thâu tóm
Về mặt ngoại giao, Hoàng đế là người đại diện hợp pháp duy nhất cho quốc gia xã tắc trong
qua trình bang giao với các nước. Vua là người cử sứ thần đi nước ngoài, tiếp sứ thần các nước
và quyết định chính sách ngoại giao.
Không chỉ dừng lại ở đó, nhà vua còn nắm giữ cả thần quyền. Nhà vua nắm quyền sửa đổi
phong tục tập quán, giáo hoá dân chúng. vua nắm quyền chủ trì các lễ nghi tôn giáo, tiến hành
các lễ tế trời đất. Vua là người đứng đầu bách thần trong cả nước, có quyền phong chức tước
cho thần thánh bằng các sắc phong thần), điều động thần thánh (quy định nơi thờ cúng thần
thánh).
Ngoài thế quyền và thần quyến, nhà vua còn nắm một số các ưu quyền tuyệt đối : tên huý của
vua và một số người thân thích của vua mọi người không được nhắc tới hoặc viết tới; Những gì
thuộc về vua khi được nhắc tới phải dùng các phụ từ đặc biệt như : long, thánh, ngọc,..; Chỉ
riêng vua mới được mặc y phục màu vàng; Vua được thần thánh hoá. Những ưu quyền này của
nhà vua được nhà nước và pháp luật bảo vệ, ai vi phạm sẽ bị trừng trị.
Câu 8: Nội dung cơ bản và quan điểm chính trị pháp lý cơ bản của Nho giáo.
Câu 14: Sự kết hợp yếu tố Trung Quốc và Đại Việt trong bộ máy nhà nước phong kiến.
(đề cương 2 trang 27)
6
Câu 15: Hệ thống hình phạt và đặc điểm của hình phạt trong pháp luật phong kiến Việt
Nam.
A. Hệ thống hình phạt:
B. Đặc điểm hình phạt:
1. Tính dã man, tàn bạo.
Trong Đại Việt sử kí toàn thư có một số ghi chép ít ỏi về PL thời Ngô Đinh tiền Lê theo đó
năm 968, Đinh Tiên Hoàng “muốn sử dụng uy chề ngự thiên hạ, bèn đặt vạc dầu lớn ở sân
triều, nuôi hổ dữ trong cũi, hạ lệnh rằng: kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn,
mọi người đều sợ phục, không ai dám phạm”. Ngoài ra theo Tống sử thời tiền Lê, quan lại “ tả
hữu có lỗi nhỏ cũng giết đi hoặc đánh từ 100 roi đến 200 roi. Bọn quan giúp việc gì làm phật ý
cũng đánh từ 30 roi đến 50 roi…”
Đến thời Lý-Trần-Hồ hệ thống hình phạt bao gồm Ngũ hình và các hình phạt bổ sung. Hệ
thồng hình phạt trong PL Lý-Trần-Hồ được kế thừa hầu như nguyên vẹn dưới thời nhà Lê với sự
ra đời của QTHL và sang đến thời Nguyễn thì hệ thống hình phạt cũng có cơ cấu hầu như
không thay đổi được quy định trong HVLL.
Hình phạt Ngũ hình được các triều đại PKVN áp dụng gồm:
+ Xuy
Dưới triều đại nhà Lý- Trần- Hồ thì hình phạt này chưa thấy có trường hợp nào được nói tới
nhưng nó vẫn nằm trong hệ thống hình phạt ngũ hình.
Hình phạt này được nêu rất rõ trong QTHL là có 5 bậc từ 10 đến 50 roi. Phạm nhân sẽ bị
đánh bằng roi mây nhỏ vào mông.
Trong HVLL hình phạt này không hề có sự thay đổi so với QTHL và được coi là một hình
phạt nhẹ với các cấp độ cũng là 5 bậc từ 10 roi đến 50 roi.
Với hình phạt này nhằm mục đích làm cho người phạm tội cảm thấy đau đớn, xấu hổ và
không có ý định phạm tội lần nữa, hình phạt này vừa có thể áp dụng độc lập(điều 570, 572…
QTHL) vừa có thể là hình phạt áp dụng bổ sung cùng với hình phạt tiền và biếm (điều
295,374…QTHL).
+ Lưu
Hình phạt này chỉ được thấy trong đạo chiếu 1044 quy định các quan bỏ trốn thì bị xử tội
theo ba bậc lưu, hay một đạo chiếu khác cùng năm là phạt người nào coi lụa mà tham nhũng
thì bị xử lưu 10 năm. Còn ngoài ra không có đạo chiếu nào ghi cụ thể bậc trong hình phạt này
dưới các triều Lý-Trần-Hồ.
Dưới triều đại nhà Lê thì lưư gồm có 3 bậc được áp dụng cùng với suy, trượng, thích chữ
hoặc đeo xiềng tuỳ vào từng bậc cụ thể: Châu gần, châu ngoài và châu xa.
HVLL cũng chia thành 3 bậc tuy nhiên chia theo số lý tức là có 2000 lý, 2500 lý và 3000 lý
tuỳ vào từng tội.
+ Tử
Đây là mức hình phạt cao nhất trong Ngũ hình và ở các triều đại PKVN từ Lý-Trần-Hồ đến
Lê sơ rồi Triều Nguyễn đều có các hình thức tử hình là giảo và trảm, chém bêu đầu và lăng trì.
Các hình thức này đều khiến cho mọi người phạm tội đau đớn về thể xác.
Ngoài các hình phạt này thì còn có các hình phạt bổ sung như biếm tước. phạt tiền, thích
chữ, đeo xiềng, tịch thu tài sản và xung vợ con làm nô tỳ…Các hình thức này thường đi kèm
với các hình phạt trong Ngũ hình tuy nhiên cũng có trường hợp là hình phạt độc lập. Có thể
thấy rằng các hình phạt này cũng gây đau đớn về mặt thể xác cho con người như đeo xiềng
hay thích chữ đồng thời cũng làm cho họ thấy nhục nhã về mặt tinh thần.
2. Hình phạt của PLPK là chế tài chung cho mọi vi phạm thể hiện tính phổ biến của hình
phạt.
Đa số các vi phạm đều sử dụng các chế tài hình sự để áp dụng( khoảng 80% các điều luật
đều có sử dụng các chế tài hình sự để xử phạt). Chủ yếu là Ngũ hình ngoài ra còn có phạt tiền,
biếm, thích chữ…Điều đó được thể hiện rõ trong hầu hết các vi phạm PL như sau:
Quan niệm của các nhà làm luật PKVN về hình phạt có phạm vi điều chỉnh khá rộng. Các bộ
luật thường có hiệu lực áp dụng trong khoảng thời gian khá dài. Vì vậy, hầu hết các vi phạm
trong mọi lĩnh vực qhxh đều phải chịu chế tài hình sự: hình sự, dân sự, hành chính, hôn nhân
gia đình, quan chế, tố tụng, thuế, thi cử….
+Thời Ngô-Đinh-tiền Lê, như Đinh Tiên Hoàng tuyên bố “ kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc
dầu, cho hổ ăn” thì cứ bất kỳ hành vi trái phép nào sẽ đều có một kết cục xử phạt chung, dù
hành vi đó thuộc lĩnh vực dân sự, hành chính hay gia đình.
hành vi phạm tội trong từng điều khoản. Các nhà làm luật miêu tả từng trường hợp phạm tội
cùng với tất cả các tình tiết ảnh hưởng đến mức độ hình phạt và mức phạt cho trường hợp
phạm tội đó.Mặc dù cứng nhắc. lắm điều luật rườm rà và thể hiện tính khái quát chưa cao
trong kỹ thuật lập pháp, song nó có ưu điểm lớn đặc biệt vào thời điểm đó: tính cụ thể và phân
hoá cao trong luật.
Câu 16: Nhóm tội thập ác trong pháp luật phong kiến Việt Nam.
-Tội thập ác là những tội xâm hại đến vương quyền của nhà vua, đến trật tự xã hội của Nho
giáo. Bởi vậy, dưới cái nhìn của nhà làm luật phong kiến, thập ác là những trọng tội nguy hiểm
nhất, và luôn đi kèm với đó là những hình phạt nghiêm khắc và tàn bạo nhất: " Những kẻ mưu
làm phản, mưu làm việc đại nghịch thì xử tội chém bêu đầu, kẻ tòng phạm và thân đảng biết
việc ấy đều phải tội chém, vợ con điền sản đều bị tịch thu làm của công... " [ Điều 411 Quốc
triều hình luật ]. Do đặc điểm này mà pháp luật phong kiến quy định các tội thập ác không
được hưởng nghị giảm theo chế độ bát nghị, không được chuộc tội bằng tiền, không được
hưởng chế độ đặc xá, đại xá...
Thập ác bao gồm:
1. Mưu phản: lật đổ nền cai trị của nhà vua, làm xụp đổ xã tắc.
2. Mưu đại nghịch: phá đền đài, lăng tẩm, cung điện của nhà vua.
3. Mưu bạn: phản bội Tổ quốc theo giặc.
4. Ác nghịch: mưu giết hay đánh ông bà, cha mẹ, tôn thuộc.
5. Bất đạo: vô cớ giết nhiều người, cắt tay chân người sống, chế thuốc độc bùa mê, tàn ác,
hung bạo...
6. Đại bất kính: lấy trộm các đồ tế trong lăng tẩm, các vật dụng của vua, làm giả ấn vua...
7. Bất hiếu: cáo giác hay chửi rủa ông bà, bố mẹ hay ông bà, bố mẹ chồng. Không phụng
dưỡng bố mẹ, tự ý bỏ nhà, tự ý phân chia tài sản, cưới xin khi có tang cha mẹ, vui chơi trong
khi tang chế, được tin bố mẹ, ông bà chết không chịu tang hoặc phát tang giả dối.
8. Bất mục: mưu giết hay bán các thân thuộc (cho đến ngũ đại), đánh hoặc cáo giác chồng hay
các tôn thuộc (cho đến tam đại).
9. Bất nghĩa:dân giết quan lại sở tại, lính tốt giết quan chỉ huy, học trò giết thầy dạy, vợ không
để tang chồng, ăn chơi và tái giá.