32 Tiep can dich vu he sinh thai va danh doi giua cac dich vu - Pdf 13

Tiếp cận dịch vụ hệ sinh thái và đánh đổi giữa các dịch vụ hệ sinh thái hướng tới phát triển
bền vững
Hoàng Văn Thắng – Trần Chí Trung
Trung tâm Nghiên cứu Tài Nguyên và Môi trường
Đại học Quốc gia Hà Nội
1. Giới thiệu
Dịch vụ hệ sinh thái (HST) là các lợi ích mà HST mang lại cho con người. Các lợi ích đó
chia làm các nhóm: Dịch vụ cung cấp như thực phẩm và nước; Dịch vụ hỗ trợ như hình thành đất
và chu trình dinh dưỡng; Dịch vụ điều tiết như: điều tiết lũ lụt, hạn hán, chống xói mòn đất và dịch
bệnh; Dịch vụ du lịch và văn hóa như: giá trị du lịch, giải trí, nghiên cứu, tôn giáo và các lợi ích
phi vật chất khác. Để khai thác các lợi ích đó, con người đã đưa ra các sự lựa chọn hay quyết định
về quản lý liên quan đến các HST. Do đó, các quyết định hay sự lựa chọn về quản lý thường làm
thay đổi chức năng và dịch vụ mà HST cung cấp.
Thuật ngữ đánh đổi dịch vụ HST cũng đang trở nên phổ biến trên thế giới và Việt Nam.
Chẳng hạn, việc chuyển đổi lớn các diện tích đất rừng tự nhiên ở khu vục Đông Nam Á, trong đó
có Việt Nam để trồng cao su, hay việc chuyển đổi các loại hình như khu rừng đặc dụng sang rừng
sản xuất để trồng rừng, để làm đường giao thông, khai thác khoáng sản, xây dựng nhà máy thủy
điện là các ví dụ điển hình về các quyết định đánh đổi giữa các dịch vụ HST.
Trong thập kỷ qua, Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển đang phải đối mặt với các
thách thức trong việc ra quyết định khó khăn liên quan đến các HST. Nhiều tranh luận ở các cấp
quốc tế, quốc gia và địa phương trong việc ra quyết định đánh đổi giữa bảo tồn đa dạng sinh học
và phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, các xung đột về lợi ích ở các cấp hay lợi ích của các nhóm
khác nhau, hay sự phân bổ giữa được và mất giữa các nhóm ngày càng rõ rệt và thách thức các nhà
quản lý trong việc ra quyết định. Trong bối cảnh đó, các quyết định mang tính đôi bên cùng có lợi
(win-win) được dùng phổ biến như một thuật ngữ mang tính thỏa hiệp và lý tưởng hóa các quyết
định khó khăn. Tuy nhiên, cách tiếp cận thỏa hiệp này đã và đang dẫn đến nhiều hệ lụy và thách
thức cho nhà quản lý và đòi hỏi một sự nhìn nhận thâu đáo từ nhiều góc độ trong quá trình ra
quyết định.
Bài viết này muốn nhấn mạnh ý nghĩa của tiếp cận dịch vụ HST và tiếp cận đánh đổi trên cơ
sở tổng hợp các bài học liên quan trong nước và quốc tế nhằm hướng tới nền Kinh tế xanh và bền
vững.

đồng bằng châu thổ sông Trường Giang. Việc xây dựng thủy điện này sẽ kiểm soát các con lũ lớn
ở sông Trường Giang. Tuy nhiên, nó lại gây ra các tác động như làm gia tăng mạnh bệnh sán máng
ở khu vực gần Chongqing do làm giảm tốc độ dòng chảy. Bên cạnh đó, khả năng tự làm sạch của
sông Trường Giang đối với nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt cũng suy giảm nghiêm
trọng, đặc biệt chất lượng nước ở các khu vực có lòng sông dài và hẹp cũng sẽ giảm mạnh. Hơn
thế nữa, việc hình thành đập Tam Hiệp sẽ gây ngập, buộc phải di dời khoảng 2 triệu người dân,
điều này đồng nghĩa với việc làm mất đi các di tích lịch sử, văn hóa. Ngoài ra, các cộng đồng ở
thượng nguồn chịu tác động tiêu cực của bệnh sán máng trong khi các cộng đồng ở hạ du được
hưởng lợi từ việc kiểm soát lũ.
Nhìn chung, bài học này cho thấy, quyết định đánh đổi dịch vụ bằng. Bên cạnh đó, khi các
quyết định đánh đổi tập trung tới các phân nhóm dịch vụ nhỏ (trong trường hợp này là kiểm soát lũ
và cung cấp năng lượng điện) lại gây hậu quả lớn tới các dịch vụ thứ cấp khác thường bị bỏ qua
trong quá trình ra quyết định.
Ngư nghiệp và phát triển du lịch ở Caribe (Jamaica và Bonaire): Vùng biển Caribe là nơi
cung cấp nhiều dịch vụ HST trên thế giới, đặc biệt là nghề cá và giải trí. Từ năm 1950 - 1970,
Jamaica là địa điểm lặn hàng đầu trên thế giới với các rạn san hô che phủ khoảng 90% diện tích
các vùng biển nông. Vào những năm cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX, khai thác cá quá mức dẫn tới
suy giảm 80% lượng cá ở khu vực này. Đầu những năm 1980, cơn bão Alen đã phá hủy diện tích
lớn san hô ở Elkhorn và Staghorn. Tiếp đến, năm 1983, một căn bệnh không xác định ở toàn bộ
vùng Caribe đã giết chết 99% loài nhím biển - đây là loài tiêu thụ tảo biển cấp một ở các rạn san
hô. Do đó rong biển trở nên phát triển mạnh và trở thành loài chiếm ưu thế ở HST rạn san hô chỉ
trong vòng 2 năm. Hậu quả là ngành công nghiệp sinh lợi của Jamaca đã bị suy tàn.
Sự biến mất hàng loạt của nhím biển ở khu vực dẫn tới sự phát triển mạnh các loài tảo biển
ở hầu hết các điểm du lịch, tuy vậy một số ít điểm không gặp phải vấn đề này. Chẳng hạn khu vục
ở Bonaire, nơi có sự đa dạng về cá, không gặp phải vấn đề tăng trưởng mạnh của tảo. Quỹ Bảo tồn
san hô đưa ra một con số thông kê từ 60.000 đợt khảo sát cá ở rạn san hô cho thấy, khu vực
Bonaire được đánh giá xếp thứ 7 trong số 10 khu vực trên thế giới có sự đa dạng về các loài cá,
với khoảng hơn 300 loài. Được biết, Bonaire đã ra lệnh cấm đánh bắt cá ở rạn san hô vào năm
1971. Năm 1979, Khu bảo tồn (KBT) biển Bonaire được thành lập để bảo vệ khu vực lặn biển
xung quanh các đảo từ ven bờ cho tới độ sâu 60 m. Năm 1992, KBT biển đã bắt đầu cấp phép cho

Thể thao Du lịch, tổng khách du lịch đến Quảng Ninh trong năm 2011 đạt 6.200.000 lượt, trong đó
khách quốc tế đạt 2.300.000 lượt, doanh thu du lịch ước đạt 3.400 tỷ đồng. Bên cạnh đó, HST này
cũng tạo ra dịch vụ cung cấp (hải sản, nước...) có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho Quảng Ninh nói
riêng và Việt Nam nói chung. Vịnh Hạ Long cũng là nơi sống của các rạn san hô, cỏ biển, rừng
ngập mặn (dịch vụ hỗ trợ). Tuy nhiên, việc khai thác các dịch vụ cung cấp như khai thác than ở
khu vục xung quanh Hạ Long có những tác động không nhỏ đến HST ở đây, như làm ô nhiễm
nước, hủy diệt các rạn san hô và rong biển, tác động tiêu cực tới rừng ngập mặn và ảnh hưởng gián
tiếp và trực tiếp tới hoạt động phát triển du lịch.
Trên thực tế, các giá trị lâu dài và bền vững mà du lịch mang lại thường bị xem nhẹ. Trong
khi đó các giá trị tích cực trước mắt từ khai thác than (tài nguyên hữu hạn) thường dễ đo đếm và
nhìn nhận. Đồng thời, ít có các nghiên cứu định lượng một cách rõ ràng về tác động của khai thác
than tới nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và du lịch. Hay những hậu quả và thiệt hại lâu dài để
phục hồi môi trường cũng chưa được xem xét nghiêm túc. Nói chung, một quyết định đưa ra như
tăng sản lượng khai thác than ở cấp quốc gia với những mục tiêu lớn như an ninh năng lượng, phát
triển ngành sẽ có những tác động tiêu cực ở cấp địa phương như ảnh hưởng tới môi trường và phát
triển du lịch.
3. Kết luận
Các bài học trên cho thấy, nhiều dịch vụ mà HST cung cấp cũng như sự phức tạp trong mối
tương tác giữa các dịch vụ HST. Các quyết định chưa phù hợp sẽ dẫn tới những hậu quả môi
trường khó lường trước. Thực tế cho thấy, các vấn đề môi trường thường được quan tâm và giải
quyết chỉ khi con người đã phải hứng chịu hậu quả thay vì có tầm nhìn chiến lược. Do đó, việc
tăng cường năng lực cho các nhà quản lý về lồng ghép dịch vụ HST cũng như tăng cường năng lực
xác định các hệ lụy đánh đổi trong quá trình ra quyết định là hết sức cấp thiết. Đồng thời, cân nhắc
việc đánh đổi giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu dài hạn cũng như lợi ích và thiệt hại của các
nhóm cần được thảo luận cỏi mở với sự tham gia của các bên
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
John R.B. Agard et.al, 2005. Chapter 12: Interactions among Ecosystem Services in
Millenium Assessment. Pp 431 - 448. SPDA, 2009. Bio/uels in Peru: Issu.es át stake. The
illustrative case/or trade-offs presented át CRES andACSC workshop in Ha Long. UBND tỉnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status