Quản lý chất thải rắn: Hiện trạng, thách thức và định hướng - Pdf 13

Quản lý chất thải rắn: Hiện trạng, thách thức và định hướng
Hoàng Dương Tùng
Nguyễn Văn Thùy
Tổng cục Môi trường
Trong thời gian qua, cùng với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, việc phát
triển các ngành kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp và du lịch, dịch vụ là nguyên nhân phát sinh
ngày càng lớn lượng chất thải. Cùng với quá trình phát sinh về khối lượng là tính phức tạp, sự
nguy hại về tính chất của các loại chất thải. Nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế đặt ra, công tác quản lý
chất thải rắn (CTR) đã từng bước được thay đổi, từ thể chế, chính sách, hệ thống tổ chức quản lý
cho đến các vấn đề về quy hoạch, xã hội hóa công tác quản lý, thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm
cũng như các vấn đề về đầu tư tài chính... nhằm tăng cường, phát huy hơn nữa vai trò và hiệu quả
thục hiện.
1.Thể chế, chính sách về CTR đã được xây dựng cơ bản và đi vào cuộc sống, tuy nhiên, vãn
chưa hoàn thiện cũng như chưa được thực thi triệt để
Trong nhiều năm qua, công tác quản lý CTR đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của Đảng
và Nhà nước, thể hiện bằng các chính sách, pháp luật quản lý CTR đã được quy định trong Luật
BVMT 1994, Luật BVMT 2005, Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2020 và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Gần đây nhất là Chiến lược
quốc gia về quản lý tổng hợp CTR tới năm 2025 và tầm nhìn tới năm 2050. Theo đó, các chính
sách áp dụng cơ chế quản lý 3T (tiết giảm, tái sử dụng, tái chế), chính sách xã hội hóa công tác
quản lý CTR sinh hoạt, phát triển công nghiệp, công nghệ xử lý CTR, chính sách về túi ni lông
thân thiện môi trường... đã được khuyến khích phát triển. Các chiến lược, chính sách này đã đặt ra
các mục tiêu cụ thể có ý nghĩa định hướng cho công tác quản lý CTR hiện nay.
Tuy nhiên, kết quả đạt được trên thực tế vẫn còn hạn chế so với yêu cầu của Chiến lược đề
ra, các mục tiêu quản lý CTR đặt ra còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc triển khai thực hiện
cũng như hoàn thành mục tiêu. Nguyên nhân là do một số chính sách được ban hành nhưng thiếu
cơ chế triển khai cũng như văn bản hướng dẫn cụ thể dẫn đến việc triển khai không hiệu quả hoặc
không thể phù hợp với thực tế. Thêm vào đó, hiện nay các văn bản quy phạm pháp luật quy định
về một số vấn đề then chốt đối với quản lý CTR như nhân lực, bộ máy tổ chức, trình độ, các
hướng dẫn kỹ thuật... vẫn còn thiếu, dẫn đến các hoạt động khó triển khai, đặc biệt đối với công
tác quản lý chất thải nguy hại.

Một vấn đề khác cần quan tâm, đó là các quy hoạch quản lý CTR hiện nay chưa đề cập tới
các bãi chôn lấp CTR đã đóng cửa, trong khi phần lớn các bãi rác này vẫn đang tiếp tục gây ô
nhiễm môi trường. Nguyên nhân là do trước đây, các bãi rác này đều không được chôn lấp hợp vệ
sinh, sau khi đóng cửa lại được giao cho cơ quan hành chính quản lý. Đơn vị này không đủ chức
năng cũng như năng lực để giám sát, kiểm soát và xử lý ô nhiễm. Chính vì vậy, đây vẫn là những
điểm nóng về môi trường.
4. Sự tham gia của cộng đồng đã có những bước tiến đáng kể, tuy nhiên, công tác xã hội hóa
quản lý CTR còn yếu
Ở hầu hết các địa phương, Công ty Môi trường đô thị (doanh nghiệp nhà nước) là đơn vị
chịu trách nhiệm chính trong công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTR đô thị của địa phương,
bên cạnh đó là sự tham gia tích cực của hệ thống các công ty dịch vụ công ích quận, huyện, hợp
tác xã và khối doanh nghiệp tư nhân. Có thể kể đến một số doanh nghiệp tư nhân đã thực hiện
thành công và đem lại nhiều hiệu quả và lợi ích cho cộng đồng trong vận chuyển và xử lý CTR
sinh hoạt đô thị như: Công ty TNHH Huy Hoàng (Lạng Sơn), Công ty TNHH Môi trường Đông
Phương (Đắk Lắk), Công ty CP công nghiệp cẩm Phả (Quảng Ninh)... Ở khu vục nông thôn cũng
đã hình thành các tổ đội, hợp tác xã thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt nông thôn.
Bên cạnh sự tham gia của khối các doanh nghiệp, trong những năm gần đây phương thức
quản lý CTR với cách tiếp cận dựa vào cộng đồng cũng đã được nhiều dự án quan tâm thực hiện
và thu được kết quả tốt. Điển hình như mô hình thí điểm thu gom, xử lý rác thải chế biến phân bón
hữu cơ của thôn Tảo Phú (Tam Hồng, Vĩnh Phúc), dự án cải thiện môi trường kênh Chín Tế, chợ
Bà Rén (Bến Tre)...
Tuy nhiên, một thách thức không thể phủ nhận còn tồn tại đối với việc huy động sự tham gia
của cộng đồng đó là, công tác xã hội hóa còn yếu. Vấn đề nảy sinh cả từ phía cộng đồng và chính
quyền. Nhận thức và năng lực của cộng đồng chưa đảm bảo để thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ
của mình trong công tác quản lý CTR, đặc biệt là ở khu vực tập trung đông dân nghèo. Ý thức của
người dân đối với việc giữ gìn vệ sinh công cộng còn rất thấp, họ thường xả rác ra đường, cống
rãnh hoặc đổ trộm CTR xây dựng ra bờ sông, các khu vực công cộng... gây tác động tiêu cực đến
vệ sinh môi trường và cảnh quan đô thị. Ngược lại, về phía các nhà quản lý, vẫn còn thiếu các văn
bản quy định phù hợp nhằm thu hút sự tham gia của các đoàn thể, quần chúng và toàn xã hội, còn
thiếu nhiều chương trình huy động cộng đồng trong quản lý CTR.

gom và vận chuyển chất thải. Do vậy, chi phí dành cho xử lý, tiêu hủy chất thải hiện nay là rất
thấp.
7. Hợp tác quốc tế đã đa dạng hóa nguồn đầu tư nhưng chưa thực sự phát huy vai trò và hiệu
quả
ODA là một trong những nguồn vốn lớn đối với các dự án môi trường tại Việt Nam nói
chung và các dự án quản lý CTR nói riêng. Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Ngân hàng
Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) là những nhà tài trợ lớn, đóng vai trò quan
trọng đối với các dự án quản lý CTR tại Việt Nam. Song song với đó, các dự án/chương trình về
quản lý CTR của Việt Nam cũng tiếp nhận các nguồn tài trợ song phương của các quốc gia như:
Thụy Điển, Thụy Sỹ, Canada, Hàn Quốc... Có thể thấy rằng, các dự án được tài trợ đã và đang
được triển khai khá đa dạng, bao gồm các dự án quy hoạch và cải thiện môi trường đô thị; xây
dựng các chiến lược, kế hoạch về CTR; kiểm soát ô nhiễm và quản lý CTR tại các đô thị; cung cấp
thiết bị xử lý CTR.
Mặc dù nguồn vốn từ các dự án chương trình hợp tác quốc tế khá lớn và đa dạng, tuy nhiên
không phải lúc nào cũng thực sự phát huy hiệu quả. Một số dự án đầu tư về thiết bị và công nghệ
xử lý CTR chưa hiện đại hoặc chưa phù hợp với điều kiện Việt Nam. Một vấn đề còn bỏ ngỏ hiện
nay đó là các chương trình hợp tác quốc tế chưa quan tâm đầu tư đối với lĩnh vực quản lý và xử lý
chất thải nguy hại, mặc dù đây là hướng đầu tư công nghệ cao, rất cần nguồn vốn quốc tế.
Một điều không thể không nhắc tới đó là tính bền vững và hiệu quả của các dự án chương
trình hợp tác quốc tế. Rất nhiều dự án, chương trình khi hết nguồn kinh phí tài trợ cũng đồng nghĩa
với việc kết thúc các hoạt động duy trì kết quả, chỉ dừng lại ở mức độ thử nghiệm, phạm vi ứng
dụng nhỏ, chưa trở thành động lực để có thể tiếp tục duy trì, phát triển và nhân rộng.
8. Những định hướng cho giai đoạn tiếp theo
Có thể thấy rằng, những cố gắng trong công tác quản lý CTR đã mang lại nhiều kết quả tích
cực. Tuy nhiên, để công tác quản lý CTR đạt được hiệu quả như mong đợi thì phải tiến hành đồng
bộ nhiều giải pháp. Trách nhiệm nhiệm này thuộc về các cơ quan lập pháp, ban hành các chính
sách là Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan chịu trách nhiệm thực thi là các Bộ/ngành và địa
phương.
Đối với vấn đề chính sách, thể chế và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến CTR:
cần rà soát, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế từng giai đoạn các mục tiêu liên quan đến

TCMT 08/2012


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status