i
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Mục tiêu nghiên cứu
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
4. Đóng góp mới của luận văn
4
5. Bố cục của luận văn
4
Chƣơng 1: Cơ sở khoa học và phƣơng pháp nghiên cứu
5
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
5
1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
5
1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
10
1.2. Phương pháp nghiên cứu
36
1.2.1. Câu hỏi nghiên cứu
36
1.2.2. Các phương pháp nghiên cứu
38
1.2.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
92
Chƣơng 3: Một số giải pháp xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân
huyện Võ Nhai
95
3.1. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội huyện Võ Nhai
95
3.1.1. Định hướng phát triển chung của huyện
95
3.1.2. Những chỉ tiêu phấn đấu cụ thể
95
3.2. Một số giải pháp xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân
96
3.2.1. Những giải pháp về kinh tế
97
3.2.2. Những giải pháp về tổ chức thực hiện
101
Kết luận
104
Tài liệu tham khảo
106
Phu lục
iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
TT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng biểu
Trang
Bảng 1.1: Chuẩn mực đánh giá nghèo đói qua các giai đoạn
10
Bảng 1.2: Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo của Chính phủ giai đoạn
2006-2010
20
Bảng 1.3: Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo của Ngân hàng thế gới
và Tổng cục thống kê
21
Bảng 1.4: Lựa chọn địa điểm điều tra
40
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng quỹ đất của huyện Võ Nhai năm 2010
48
Bảng 2.2: Nhân khẩu và lao động của huyện Võ Nhai năm 2010
52
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất lương thực của huyện Võ Nhai năm
2009 -2010
58
Bảng 2.4: Cơ cấu kinh tế huyện Võ Nhai năm 2006-2010
60
Bảng 2.5: Thực trạng nghèo đói của huyện Võ Nhai 2006-2011
61
Bảng 2.6: Thông tin chung về chủ hộ điều tra năm 2011
63
Bảng 2.7: Tình hình dân tộc của nhóm hộ điều tra năm 2011
64
Bảng 2.8: Tình hình nhân khẩu và lao động của nhóm hộ điều tra
năm 2011
Bảng 2.20: Lao động của nhóm hộ điều tra
87
Bảng 2.21: Thu nhập từ làm thuê của hộ điều tra
87
Bảng 2.22: Kết quả hàm sản xuất Cobb-Douglas
89
vi
DANH MỤC CÁC ẢNH CHỤP VÀ ĐỒ THỊ
Danh mục
Trang
Bản đồ 01: Bản đồ địa giới hành chính huyện Võ Nhai
46
Đồ thị 2.1: Đường cong Lorenz
72 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Từ năm 1986, Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, vấn đề xoá đói giảm nghèo là vấn đề kinh tế nổi cộm được
đặt ra trong các diễn đàn, các nghiên cứu, và triển khai thành phong trào xoá
đói giảm nghèo. Hiện nay, theo chuẩn nghèo quốc gia thì tỷ lệ số hộ nghèo
toàn quốc đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 14,8% năm 2007; theo chuẩn
quốc tế thì từ 58% năm 1993 xuống còn 24% vào năm 2004.[15] Tính đến
năm 2008 tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam là 13,4% và còn 12,3% vào năm
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đề xuất
một số giải pháp xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân huyện Võ Nhai, tỉnh
Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Đề tài nghiên cứu nhằm chỉ ra được những nguyên nhân chính ảnh
hưởng đến đói nghèo của các hộ và đề xuất một số giải pháp thích hợp nhằm
xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân huyện Võ Nhai.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về xoá đói giảm nghèo.
- Đánh giá được thực trạng nghèo đói của huyện Võ Nhai. Chỉ ra được
những nguyên nhân đích thực dẫn đến nghèo đói của hộ nông dân huyện Võ Nhai.
- Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu, điều kiện thực hiện những giải
pháp đó nhằm xoá đói giảm nghèo cho hộ nông dân huyện Võ Nhai. 3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình nghèo đói của các hộ nông
dân huyện Võ Nhai.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.2.1. Không gian nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
3.2.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những số liệu thời kỳ 2006-2010, một số số
liệu năm 2011.
3.2.3. Nội dung nghiên cứu
Đề tài được giới hạn trong phân tích nguyên nhân và các nhân tố ảnh
hưởng đến thu nhập và nghèo đói của hộ nông dân, qua đó đề xuất một số giải
5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1.1. Khái niệm về nghèo đói
Trong cuộc sống hàng ngày của con người, để tồn tại được thì cần phải
giải quyết được những nhu cầu thiết yếu nhất. Những nhu cầu này được chia
thành hai dạng, đó là nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần.
- Nhu cầu về vật chất thiết yếu: ăn, ở, mặc, đi lại.
- Nhu cầu về tinh thần thiết yếu: Giáo dục, y tế, văn hoá và giao tiếp xã hội.
Những nhu cầu này phải được đáp ứng ở một mức độ nhất định nào đó,
mà người ta gọi là mức sống tối thiểu của cộng đồng. Nghĩa là nếu không đạt
được đến mức này, con người không thể đảm bảo cuộc sống để phát triển một
cách bình thường được.
Do vậy, khi nghiên cứu đói nghèo, chúng ta phải nghiên cứu đến nhu
cầu, hay còn gọi là mức sống tối thiểu của người dân.
Mặt khác, nghèo đói là một khái niệm mang tính chất động, nó biến đổi
tuỳ thuộc vào không gian, thời gian và xuất phát điểm của mỗi địa phương
hay mỗi quốc gia. Tuỳ thuộc vào từng quốc gia, từng thời điểm khác nhau,
cũng như quan điểm nghiên cứu khác nhau mà nghèo đói được quan niệm
khác nhau. Từ trước đến nay có nhiều quốc gia, nhiều tổ chức trên thế giới đã
đưa ra những quan điểm của mình về nghèo đói, các quan điểm này phản ánh
mục tiêu nghiên cứu, cũng như phản ánh tình trạng nghèo của các nước trên
thế giới. Tiêu chí chung nhất đề xác định đói nghèo vẫn là mức thu nhập hay
chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người. Sự khác nhau
chung nhất là thoả mãn ở mức độ cao hay mức độ thấp mà thôi, điều này phụ
7
cũng như ngoài trời”. Một số người ở tỉnh Hà Tĩnh thì trả lời: “Nghèo đói
đồng nghĩa với nhà ở bằng tranh tre, nứa lá tạm bợ, xiêu vẹo, dột nát; không
đủ đất đai sản xuất, không có trâu bò, không có tivi, con cái thất học, ốm đau
không có tiền đi khám bệnh ” [24].
Quan điểm nghèo đói của Việt Nam: Qua nhiều cuộc điều tra, khảo sát,
nghiên cứu, các nhà nghiên cứu và quản lý của các Bộ đã đi đến thống nhất
cần có một khái niệm riêng, chuẩn mực riêng cho nghèo đói ở Việt Nam:
Nghèo, là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thoả mãn một
phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng mức
sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện
Đói, là tình trạng một bộ phận dận cư nghèo, có mức sống dưới mức tối
thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. [11]
Các quan niệm trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo:
- Không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho
con người.
- Có mức sống thấp hơn mức sông trung bình của cộng đồng dân cư.
- Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Tuy nhiên, bên cạnh những quan niệm về nghèo đói đã trình bày ở trên,
tuỳ thuộc vào những giai đoạn, những hoàn cảnh khác nhau cũng như những
mục tiêu nghiên cứu khác nhau mà người ta có những cách tiếp cận khác nhau
về nghèo đói. Hiện nay, có thể tiếp cận nghèo đói theo các hướng sau:
- Tiếp cận về dinh dưỡng: người nghèo là những người có mức tiêu thụ
Calo đạt dưới 2.100 kcalo/người/ngày. Chỉ tiêu này do Tổ chức Y tế thế giới
xây dựng cho mỗi thể trạng trung bình của con người. Chỉ tiêu này áp dụng
cho những nước phát triển cũng như các nước đang phát triển.
- Tiếp cận về thu nhập: người nghèo là những người có mức thu nhập
không đảm bảo cuộc sống và chi tiêu. Trong cuộc sống hàng ngày, ngoài
9
lịch sử, vì kinh tế xã hội phát triển thì đời sống của con người cũng được cải thiện
tốt hơn, tất nhiên không phải là tất cả các nhóm dân cư đều có tốc độ cải thiện
giống nhau, thông thường thì nhóm không nghèo có tốc độ mức tăng thu nhập,
mức sống cao hơn nhóm nghèo
Có rất nhiều tiêu chí để đánh giá hộ nghèo, ở Việt Nam phổ biến nhất
hiện nay thường dùng phương pháp dựa trên thu nhập của hộ. Theo tiêu chí
này Bộ Lao động - thương binh và xã hội đã đưa ra chuẩn nghèo theo từng
giai đoạn kinh tế xã hội khác nhau, mức chuẩn nghèo này được xây dựng
khác nhau cho thành thị và nông thôn sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể
của từng vùng, từng thời kỳ.
Cụ thể, chuẩn nghèo của Bộ Lao động - thương binh và xã hội qua các
thời kỳ được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.1: Chuẩn mực đánh giá nghèo đói qua các giai đoạn
Loại
hộ
Địa bàn
Thu nhập bình quân/ ngƣời/ tháng qua các giai đoạn
1993-1995
1995-1997
1997-2000
2001-2005
2006-2010
Đói
Mọi vùng
<13 kg gạo
<13 kg gạo
< 15 kg gạo
< 15 kg gạo
<80.000 đồng
- Đồng bằng
trung du
< 20 kg gạo
< 20 kg gạo
<100.000 đồng
Nguồn: Tổng cục thống kê
Hiện nay, chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015 được áp dụng theo Quyết
định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 1 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ
về ban hành chuẩn nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015. 10
Tuy nhiên, với tình hình lạm phát như hiện nay chuẩn nghèo trên chưa đánh
giá được đúng như thực tế. Chuẩn mực nghèo đói của Việt Nam vẫn còn cách
quá xa so với chuẩn mực do Ngân hàng Thế giới đưa ra với ngưỡng 1
USD/người/ngày. Do đó Việt Nam cần phải nỗ lực hơn nữa trong công cuộc xoá
đói giảm nghèo để xây dựng chuẩn nghèo tiến tới ngưỡng chung của Thế giới.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.1.2.1. Tình hình nghèo đói trên thế giới
Thực trạng nghèo đói đang diễn ra rất phổ biến và gay gắt ở tất cả mọi
nơi trên thế giới. Từ những nước có nền kinh tế chậm phát triển, đang phát
triển và phát triển. Nhưng nghèo đói tập trung nhiều nhất ở các nước có nền
kinh tế chậm phát triển và đang phát triển. Trong những năm qua tình trạng
nghèo đói trên toàn thế giới đã được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, hiện nay
đó năm 2007 khoảng cách này là 11,2 lần.
Như vậy, thế giới mặc dù đã thu được nhiều thành công trong phát triển
kinh tế, ổn định chính trị, giảm xung đột sắc tộc đời sống của người dân một
số khu vực đã được nâng lên đáng kể. Tuy nhiên, vấn đề nghèo đói vẫn luôn
hiện hữu trên các quốc gia. Nghèo đói không chỉ là vấn đề của các quốc gia
chậm phát triển và đang phát triển mà cũng là vấn đề của các quốc gia có nền
kinh tế phát triển hàng đầu trên thế giới. Điều đó cho thấy, để xoá đói giảm
nghèo được thành công , không chỉ có sự nỗ lực của riêng từng quốc gia mà
đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các quốc gia trên thế giới.
1.1.2.2. Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Ấn Độ
Từ năm 1991, Ấn Độ đã mở cửa thị trường, cải cách kinh tế và đạt nhiều
thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, hiện nay, nghèo đói vẫn là một vấn đề nghiêm
trọng, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, làm chậm bước tiến của Ấn Độ
trong nhiều lĩnh vực. Biểu hiện dễ thấy nhất của nghèo đói tại Ấn Độ là thu
nhập quốc dân chỉ mới đạt 820 USD/người trong năm 2006 và tính theo sức 12
mua tương đương (PPP) mới đạt 3.800 USD/người. 70% dân số sống ở nông
thôn, trong đó chỉ có 56% hộ được sử dụng điện, 52% số hộ không có nhà vệ
sinh, 85% số hộ được dùng nước sạch, 61% dân số biết chữ. Chỉ số về giáo
dục của Ấn Độ là 0,61, trong khi đó, chỉ số này ở Dim-ba-bu-ê là 0,77, Trung
Quốc là 0,84. Về chỉ số phát triển con người (HDI), Ấn Độ đứng thứ 126/177
nước. 47% trẻ em dưới 5 tuổi ở đây bị thiếu cân (Trung Quốc chỉ có 8%,
Dim-ba-bu-ê là 13%). Chênh lệch thu nhập cũng là vấn đề lớn: 39% dân số
nông thôn chỉ sở hữu 5% số tài sản, trong khi đó, 8% những người giàu có
chiếm tới 46% số tài sản cả nước. Những người nghèo nhất ở nông thôn Ấn
Độ chỉ chi tiêu 0,2 USD/ngày. Chỉ số đói toàn cầu (GHI) của Ấn Độ đứng thứ
96/119 nước, trong khi đó, Nê-pan đứng thứ 92, Pa-ki-xtan ở vị trí thứ 88.
80% dân số sống dưới 2 USD/người/ngày. Nghèo đói dẫn tới 15 triệu trẻ em
nước/năm, từ đó, đưa sản lượng lương thực của Ấn Độ từ hơn 200 triệu tấn
hiện nay lên 450 triệu tấn vào năm 2050. Kết quả này sẽ góp phần quan trọng
vào công cuộc xoá đói giảm nghèo. Đồng thời, Chính phủ đã chi 3,3 tỉ USD
cho 300 dự án, chương trình chống lũ lụt ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Về năng lượng, Ấn Độ thực hiện ưu tiên điện khí hoá nông thôn và đang
xây dựng hệ thống năng lượng cho khu vực này. Trọng tâm là khai thác năng
lượng tái sinh như khí sinh học, năng lượng mặt trời, gió, thuỷ điện nhỏ, để
trong 5 năm tới sẽ cung cấp điện cho 75 triệu nông hộ.
Ấn Độ cũng đã tăng chi cho xóa đói giảm nghèo và coi đây là mục tiêu
quan trọng, là chương trình lớn trong các kế hoạch dài hạn. Ngày 15-8-1995,
Ấn Độ đã đưa ra Kế hoạch quốc gia về hỗ trợ xã hội cho những người sống
dưới mức nghèo khổ: những người nghèo trên 65 tuổi sẽ được trợ cấp 2
USD/tháng; hỗ trợ từ 130 đến 250 USD cho những gia đình nghèo có người
chết; hỗ trợ 10 USD cho những phụ nữ trên 19 tuổi trong 2 lần sinh đầu. Từ
năm 1999, Ấn Độ đã thực hiện hỗ trợ 10 kg lương thực cho những người già 14
không có lương hưu. Gần đây, chương trình này đã mở rộng cho cả những
người có lương hưu. Ngày 25-9-2001, Ấn Độ đưa ra chương trình bảo đảm
lương thực và việc làm cho nông thôn, chương trình nhà ở, chương trình bảo
đảm lợi ích người lao động trong khu vực nông nghiệp… Năm 2006, Chính
phủ đã đầu tư 800 triệu USD vào những vùng lạc hậu; năm 2007, lập quỹ 700
triệu USD giúp những vùng nông thôn lạc hậu.
Trong kế hoạch lần thứ XI, Ấn Độ sẽ đưa ra chương trình đặc biệt để
phát triển kinh tế cho 75 nhóm lạc hậu đang sống trong những điều kiện hết
sức nghèo nàn. Cũng trong kế hoạch lần này, Ấn Độ sẽ chi 1 tỉ USD để xóa
bỏ tình trạng lao động trẻ em.
Tăng trợ cấp sản xuất nông nghiệp cũng là một biện pháp quan trọng để
xóa đói giảm nghèo. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ X, Ấn Độ đã hỗ trợ sản
2007. Trong lượng vốn trên, một phần quan trọng đã được đưa vào nông
nghiệp, nông thôn, vừa giúp Ấn Độ phát triển các lĩnh vực nói chung, vừa
tăng cường công cuộc xóa đói giảm nghèo tại nông thôn. WB đã cấp 225 triệu
USD để xóa đói giảm nghèo tại bang Mát-hi-a (Madhya). WB cũng giúp 463
triệu USD cho bang Bi-ha - bang nghèo nhất Ấn Độ, với 44% dân số nghèo
khổ. Năm 2007, WB đã cho Ấn Độ vay thêm 600 triệu USD để trợ giúp các
trang trại, 944 triệu USD để tăng cường hệ thống tài chính nông thôn, thực
hiện bảo hiểm nông nghiệp và các dự án quản lý nguồn nước. Cùng với WB,
không kể các khoản vốn đã cấp, từ 2007-2010 Ngân hàng Phát triển châu Á
(ADB) sẽ cho các bang nghèo nhất của Ấn Độ vay 2,1 tỉ và sẽ đầu tư thêm 9,2
tỉ USD vào cơ sở hạ tầng, nhất là cho những bang nghèo như Bi-ha (Bihar),
Giắc-hen (Jharkhand). Thủ tướng Anh, trong chuyến thăm Ấn Độ tháng 1-
2008 đã tuyên bố viện trợ phát triển 1,6 tỉ USD cho những bang nghèo nhất
của Ấn Độ. 16
Nhờ những cố gắng trên, nghèo đói ở Ấn Độ đã giảm nhiều. Các chỉ số
xã hội như thu nhập, giáo dục, y tế, giao thông, điện, nước uống… ở hầu hết
những vùng nông thôn nghèo đã được cải thiện đáng kể từ năm 1991. Tỷ lệ
nghèo ở nông thôn đã giảm từ 45,76% trong năm 1983 xuống 37,26% trong
năm 1994 và 29,18% trong năm 2005. Số lượng người nghèo tương ứng với
các thời điểm trên là 252,05 triệu; 247,8 triệu và 232,16 triệu. Đa số nông dân
đã có đủ lương thực, với tỷ lệ đủ ăn tăng từ 94,5% (năm 1994-1995) lên
97,1% (năm 2004-2005).
Những thành tựu nông nghiệp đã giúp Chính phủ cung cấp lương thực cho
những người nghèo nhất. Phân phối lương thực đã tăng từ 10 kg, lên 20 kg và
đến tháng 7-2001 là 25 kg/gia đình/tháng. Chính phủ cũng đã bỏ ra hàng triệu
tấn lương thực để cứu trợ những vùng bị thiên tai. Việc phát triển kết cấu hạ
tầng nông thôn đã giải quyết nhiều việc làm cho nông dân, qua đó, giúp họ cải
tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô, hướng nông dân đi vào sản xuất hàng hoá.
Thái Lan đã thực hiện tốt mô hình đổi mới Hợp tác xã nông nghiệp theo hình
thức tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi, hoạt động của Hợp tác xã chủ yếu mang
tính chất dịch vụ. Kết quả là người nghèo ở Thái Lan từ 30% dân số trong
thập niên 80 đã giảm xuống 23% vào năm 1990 (3 triệu người). [20]
* Các kinh nghiệm của Thái Lan có thể vận dụng cho Việt Nam là:
- Phát triển các xí nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ, mở rộng các trung
tâm dạy nghề ở nông thôn. Về vấn đề này ở Việt Nam trong những năm qua
đã có rất nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh trong lĩnh vực nông
nghiệp được thành lập nhưng qua một số năm hoạt động thì đã không đem lại
hiệu quả như mong đợi nên nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã đã giải thể phá
sản. Việc dạy nghề ở nông thôn đã được chú trọng nhưng mới chỉ là bước
đầu thực hiện nên kết quả còn chưa cao. 18
- Chính sách cải cách ruộng đất, đưa ruộng đất về tay người nông dân.
Việt Nam đã có nhiều chính sách nhằm thực hiện cải cách ruộng đất để đưa
ruộng đất vào tay người nông dân. Qua nhiều mô hình phát triển nông nghiệp
đến nay việc ruộng đất được phân chia đã gây ra tình trạng manh mún. Việc
tập trung ruộng đất để thực hiện sản xuất hàng hoá nông nghiệp với trình độ
chuyên môn hoá cao còn gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó ở nhiều nơi việc
bỏ hoang đất nông nghiệp còn xảy ra rất nhiều gây lãng phí nguồn lực đất đai.
Vì vậy cần phải có chính sách sử dụng đất hợp lý để đem lại hiệu quả cao
nhất đưa sản suất nông nghiệp thành sản xuất hàng hoá.
1.1.2.4. Tình hình nghèo đói của Việt Nam- Kinh nghiệm và giải pháp
a. Tình hình nghèo đói của Việt Nam
Đói nghèo là một vấn đề mang tính chất toàn cầu. Nó không chỉ là một
thực tế đang diễn ra ở nước ta mà còn là một tồn tại phổ biến trên toàn thế
giới và trong khu vực. Ngay cả những nước phát triển cao, vẫn còn một bộ
Trong gần 20 năm đổi mới, nhờ thực hiện cơ chế, chính sách phù hợp
với thực tiễn nước ta, công cuộc xóa đói, giảm nghèo đã đạt được thành tựu
đáng kể, có ý nghĩa to lớn cả về kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh - quốc
phòng, phát huy được bản chất tốt đẹp của dân tộc ta và góp phần quan trọng
trong sự nghiệp phát triển đất nước bền vững. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh
trong khoảng thời gian 5 năm từ 17,2% năm 2001 với 2,8 triệu hộ, xuống còn
8,3% năm 2004 với 1,44 triệu hộ, bình quân mỗi năm giảm 34 vạn hộ, đến
cuối năm 2005 còn khoảng dưới 7% với 1,1 triệu hộ. "Những thành tựu giảm
nghèo của Việt Nam là một trong những câu chuyện thành công nhất trong
phát triển kinh tế". Đó là đánh giá trong "Báo cáo phát triển Việt Nam năm
2004" của Ngân hàng thế giới.
Do đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, cùng với định
hướng chung là từng bước tiếp cận với trình độ của các nước đang phát triển