Báo cáo tổng thuật tài liệu, nghiên cứu về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em - Pdf 13


Bộ văn hóa-thể thao và du lịch
Vụ gia đình
báo cáo tổng kết chuyên đề nghiên cứu:
báo cáo tổng thuật tài liệu nghiên cứu
về năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em

Thực hiện chuyên đề: TS. Nguyễn Đức Mạnh

Thuộc đề tài KH&CN cấp bộ:
đánh giá thực trạng năng lực chăm sóc, giáo dục
trẻ em của các gia đình khu vực nông thôn phía bắc

Chủ nhiệm đề tài: ngô thị ngọc anh Hà nội, tháng 12 năm 2007 1

I. Đặt vấn đề:

Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao trách nhiệm chăm sóc và
bảo vệ thiếu niên, nhi đồng thế hệ tơng lai của đất nớc. Ngời từng nói: "Vì
lợi ích mời năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng ngời "
1
;
"Thiếu niên, nhi đồng là ngời chủ tơng lai của nớc nhà. Vì vậy, chăm sóc
và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó
phải kiên trì, bền bỉ Vì tơng lai các con em ta, dân tộc ta, mọi ngời, mọi
nhà phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt"
2
.
Thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ tịch, Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta


1
Hồ Chí Minh. Toàn tập (1996), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập 9, tr222.
2
Hồ Chí Minh. Toàn tập (1996), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập 9, tr467-468.

2
về trách nhiệm của mình trong việc quan tâm, chăm sóc trẻ em. Nhiều bậc cha
mẹ còn thiếu kiến thức và kỹ năng về các phơng pháp chăm sóc, giáo dục phù
hợp với trẻ. Sự thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng của các bậc cha mẹ nh vậy là
một cản trở lớn cho sự phát triển của trẻ. Điều này đặc biệt đáng quan tâm đối
với các gia đình ở khu vực nông thôn. Do trình độ học vấn của cha mẹ cũng
nh điều kiện vật chất của các hộ gia đình nông thôn còn hạn chế nên ít nhiều
cũng ảnh hởng đến sự đầu t, chăm lo đầy đủ và đúng mực cho con cái.
Vì lẽ đó, việc tìm hiểu và phân tích thực trạng năng lực chăm sóc, giáo
dục trẻ em của các gia đình, đặc biệt là các gia đình nông thôn là cần thiết và
có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoạch định chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ
em một cách hiệu quả, nhằm đảm bảo cho trẻ em- với t cách là nguồn lực
tơng lai cho công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nớc, có đợc điều
kiện và môi trờng phát triển tốt nhất.

II. Tổng quan tình hình nghiên cứu về gia đình với việc
chăm sóc, giáo dục trẻ em:
Vấn đề chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ, đào tạo và xây dựng những con
ngời phát triển toàn diện và có ích cho xã hội là nhiệm vụ quan trọng của toàn
xã hội, của các tổ chức chính trị- xã hội, các đoàn thể và đặc biệt là của mỗi gia
đình. Tuy không phải là thiết chế chăm sóc, giáo dục duy nhất, nhng gia đình
là môi trờng quan trọng đầu tiên nuôi dỡng, hình thành và giáo dục nhân
cách con ngời thông qua việc giáo dục, truyền thụ những giá trị văn hoá
truyền thống và hiện đại của thế hệ đi trớc cho thế hệ sau, qua việc dạy bảo

liền với đặc điểm của gia đình và đặc điểm của xã hội trong từng giai đoạn lịch
sử, đồng thời bớc đầu nhận dạng gia đình Việt Nam trong giai đoạn đổi mới
toàn diện về kinh tế, xã hội hiện nay: điều kiện sinh sống vật chất và tinh thần,
việc thực hiện các chức năng của gia đình, đặc biệt là chức năng đào tạo, bồi
dỡng thế hệ trẻ; những cố gắng, những nhận thức đúng đắn của gia đình trong
việc nuôi dạy con cái; những khó khăn của họ khi phải đơng đầu với cuộc
sống trong môi trờng mới của cơ chế thị trờng; sự biến đổi các quan hệ giữa
các thành viên; những lúng túng, phân vân trong việc khẳng định một thang giá
trị mới của văn hoá gia đình.
Những phát hiện của công trình nghiên cứu cho thấy: ngày nay nhiều
bậc cha mẹ đã nhận thức đợc vị trí, vai trò và trách nhiệm của gia đình đối với
việc học tập của con cái, rèn luyện chúng về đạo đức, t cách, tạo điều kiện cho
chúng học hành, vui chơi, Nhiều gia đình đã đặt nhiệm vụ giáo dục lên vị trí
hàng đầu trong các chức năng cơ bản của gia đình. Tuy nhiên, trong công việc
này họ còn gặp nhiều khó khăn về tri thức và phơng pháp giáo dục.
Mục tiêu của giáo dục gia đình là hớng tới con ngời có đạo đức và con
ngời biết làm kinh tế, dựa trên một trình độ học vấn nhất định. Những sai lệch
chuẩn mực, những hành vi vô đạo đức xảy ra trong xã hội đã giúp các gia đình
nhận thức rõ hơn việc giáo dục con ngời có tài phải đi đôi với có đức. Đó là sự
tiếp nối đạo lý truyền thống của dân tộc trong giáo dục gia đình. Chính vì thế,
trong các nội dung định hớng giáo dục con cái thì giá trị đạo đức đợc đánh
giá cao nhất, tiếp theo là tiêu chí có văn hoá cao và có nghề nghiệp chuyên
môn.
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố ảnh hởng tiêu cực đến vấn
đề giáo dục gia đình nh: sự bất hoà giữa cha mẹ; sự không thống nhất trong
biện pháp giáo dục giữa các thành viên gia đình; ảnh hởng xấu của môi trờng
giáo dục xung quanh. Ngoài ra những yếu tố khác nh đời sống kinh tế gia
đình, trình độ học vấn, kiến thức của cha mẹ và các thành viên khác trong gia
đình, quỹ thời gian, cũng ảnh hởng nhiều đến việc giáo dục con cái của các
gia đình.

Theo tác giả, chức năng xã hội hoá của gia đình Việt Nam truyền thống
thể hiện qua: nội dung giáo dục bao gồm giáo dục đạo đức dựa trên quan niệm
của Khổng giáo và Nho giáo, giáo dục lao động- nghề nghiệp, giáo dục giới
tính; phơng pháp giáo dục gia đình truyền thống chủ yếu thông qua quyền uy
của chủ thể giáo dục, tức là ngời đứng đầu gia đình, ngời gia trởng trong
đơn vị gia đình, qua cách nêu gơng ngời xa, qua lao động và bằng lao động
hàng ngày.
Tuy nhiên, chức năng xã hội hoá của gia đình cũng có nhiều biến động
do sự thay đổi của nền kinh tế và hệ văn hoá- t tởng. Sự biến đổi đó là hết
sức phức tạp và mang đầy những nghịch lý. Nó không hoàn toàn đi theo hớng
xã hội mong muốn mà nhiều khi nó đi chệch hoặc rơi vào tình trạng khủng
hoảng, mất phơng hớng khiến cho tính liên tục của văn hoá gia đình đôi khi
có những khoảng trống, những sự đứt đoạn. Những biểu hiện và tác nhân làm
biến đổi chức năng xã hội hoá của gia đình bao gồm: sự phủ nhận giản đơn
thiếu chọn lọc những hạt nhân hợp lý trong nội dung và phơng pháp xã hội
hoá của gia đình Việt Nam truyền thống; xu hớng quá đề cao vai trò của giáo
dục xã hội thay vì giáo dục gia đình; sự không ổn định và sự dao động của các
chuẩn mực trong chức năng xã hội hoá của gia đình, cụ thể là không ít gia đình
có xu hớng quay lng lại với giáo dục gia đình truyền thống trong khi cha
xác định đợc nội dung và phơng pháp giáo dục gia đình mới, từ đó dẫn tới sự
khủng hoảng trong giáo dục gia đình. Bên cạnh đó sự không ổn định về chuẩn
mực của chức năng xã hội hoá gia đình còn thể hiện ở sự không thống nhất
giữa các thành viên trong nội bộ gia đình về nội dung và phơng pháp giáo dục
con cái.
Những tác động trên đây đã làm giảm sút vai trò của gia đình trong việc
thực hiện chức năng xã hội hoá thời gian qua. Nó tạo ra một khoảng trống, một
sự đứt đoạn trong quá trình chuyển tiếp chức năng xã hội hoá của gia đình
Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, ảnh hởng tiêu cực đến quá trình hình
thành nhân cách của con ngời Việt Nam hiện đại.


tồn tại cơ bản, phân tích một số nguyên nhân chính tạo nên những thành tích và
tồn tại đó. Trên cơ sở này, đề tài đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất
lợng và hiệu quả công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em tại gia đình và
cộng đồng.
Bên cạnh đó, báo cáo đề tài nhánh 3 Thực trạng sức khỏe, học tập, vui
chơi, giải trí của trẻ em và việc bảo vệ các quyền lợi đó của gia đình cũng nh
cộng đồng do TS. Vũ Hào Quang làm chủ nhiệm đề tài. Đề tài đợc thực hiện
tại các tỉnh Nam Định, Bến Tre, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh với cỡ mẫu là
707 phiếu hỏi tại khu vực phía Bắc và 854 phiếu hỏi tại khu vực phía Nam. Nội
dung nghiên cứu chính của đề tài là: (1) Thực trạng học tập, vui chơi, giải trí
của trẻ em trong con mắt trẻ em, thông qua việc xem xét: trẻ em đánh giá về
thực trạng sức khỏe của mình; ảnh hởng của gia đình đến lối sống của trẻ em
lang thang ở Việt Nam hiện nay; trẻ em đánh giá về các hoạt động học tập, vui
chơi, giải trí của mình. (2) Gia đình và cộng đồng trong việc bảo vệ sức khỏe,
học tập, vui chơi, giải trí của trẻ em.
Đề tài Xây dựng nội dung cần bồi dỡng cho cha mẹ học sinh để giải
quyết một số vấn đề cấp bách trong giáo dục hiện nay (2000), mã số B 98-49-

6
69 do TS. Nguyễn Thanh Bình làm chủ nhiệm có một số bài viết về giáo dục trẻ
em trong gia đình nh: Gia đình với việc phát huy những truyền thống tốt đẹp
của dân tộc để giáo dục đạo đức cho học sinh, Những vấn đề cấp bách
trong giáo dục con ở lứa tuổi THCS trong gia đình đô thị hiện nay; Giáo dục
giới tính cho con lứa tuổi THCS của Nguyễn Thanh Bình; Gia đình giáo dục
phòng chống tệ nạn nghiện hút cho con ở lứa tuổi học sinh THPT của Đào
Thị Oanh; Gia đình với việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ THCS ở thành
phố của Nguyễn Tấn Quang và Nguyễn Thanh Bình, v.v Đây là những bài
viết đánh giá cao tầm quan trọng của việc giáo dục cho con cái trong độ tuổi đi
học, cũng nh nêu đợc những nội dung cần thiết trong việc giáo dục cho con
cái của gia đình.

quan đến mảng đề tài về gia đình với việc hình thành nhân cách thế hệ trẻ cũng
đợc thực hiện. Trong các công trình ấy, phải kể đến luận án tiến sỹ Vai trò
của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nớc ta hiện nay của tác giả
Nghiêm Sĩ Liêm, đợc thực hiện vào năm 2001. Mục đích của nghiên cứu
nhằm làm rõ vai trò giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ, tìm hiểu những

7
yếu tố ảnh hởng đến giáo dục gia đình và thực trạng giáo dục gia đình đối với
thế hệ trẻ ở nớc ta hiện nay. Dới góc độ nghiên cứu triết học, luận án tập
trung nghiên cứu vai trò của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ chủ yếu ở lứa
tuổi vị thành niên chịu sự nuôi dỡng, chăm sóc và giáo dục của gia đình (giới
hạn dới 18 tuổi).
Kết quả nghiên cứu cho thấy: những nội dung chủ yếu của giáo dục gia
đình hiện nay bao gồm giáo dục đạo đức, giáo dục học tập và văn hoá, giáo dục
lao động và rèn luyện tính tự lập, giáo dục giới tính. Để chức năng giáo dục thế
hệ trẻ đạt đợc kết quả tốt thì vai trò của cha mẹ và các thành viên trong gia
đình nh ông bà, anh chị và cả dòng họ là rất to lớn. Theo tác giả, những yếu tố
ảnh hởng đến giáo dục gia đình đợc chia thành hai nhóm là nhóm yếu tố lịch
sử: bao gồm sự tác động, ảnh hởng của tâm lý, tập quán gắn liền với nền sản
xuất nhỏ; ảnh hởng của t tởng Nho giáo; ảnh hởng của hậu quả chiến
tranh đến giáo dục gia đình và nhóm yếu tố thời đại: nh cuộc cách mạng khoa
học công nghệ, sự nghiệp đổi mới kinh tế- xã hội, nhất là sự nghiệp đổi mới
giáo dục- đào tạo ở nớc ta ảnh hởng mạnh mẽ đến giáo dục gia đình với cả
hai chiều: tích cực và tiêu cực, nhng ảnh hởng tích cực là chủ yếu.
Khi xem xét thực trạng của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ ở nớc ta,
tác giả đa ra nhận định: Việc giáo dục đạo đức trong gia đình đối với thế hệ
trẻ đã đợc các bậc cha mẹ đặc biệt quan tâm, song vẫn còn nhiều khó khăn trở
ngại do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có những nguyên
nhân từ phía gia đình, từ phía các bậc làm cha mẹ. Việc giáo dục học tập văn
hoá cho trẻ em đã đợc chú ý hơn trong các gia đình, nhng vẫn còn bất cập

tợng khảo sát là gia đình có trẻ em h, cá biệt đó. Đối tợng trẻ em trong mẫu
khảo sát đợc giới hạn trong độ tuổi 11- 15, học tại các trờng THCS trong
thành phố. Đây là những em thờng xuyên biểu hiện các hành vi không theo
chuẩn mực xã hội thông thờng. ở nhà trờng, các em đợc nhận xét là học
sinh chậm tiến, có hạnh kiểm yếu, cần đợc giáo dục, rèn luyện nhiều về nhận
thức và các hành vi xã hội để phát triển nhân cách tốt. Tại gia đình và cộng
đồng, các em có biểu hiện h về lối sống, kém rèn luyện phẩm chất, đạo đức,
có các hành vi vi phạm pháp luật nhng cha đến mức bị khởi tố hình sự.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc tìm hiểu, phân tích
thực trạng hoàn cảnh đời sống sinh hoạt, lao động, học tập, của một nhóm
gia đình ở thành phố và của một bộ phận trẻ em h trong các gia đình này
nhằm làm sáng tỏ các nguyên nhân dẫn đến thói h, tật xấu ở các em; làm rõ
các giá trị văn hoá truyền thống gia đình và những giá trị văn hoá xã hội mới
cần đợc tiếp biến trong việc giáo dục trẻ em h, trên cơ sở đó góp phần cung
cấp những cơ sở khoa học cho việc đề xuất các chính sách kinh tế- xã hội, văn
hoá, giáo dục có liên quan đến gia đình, tạo điều kiện cho gia đình phát huy
đợc vai trò của mình đối với việc giáo dục trẻ em, đặc biệt là để ngăn ngừa trẻ
em h.
Một số các công trình nghiên cứu, các luận án tiến sỹ khác có liên quan
nh luận án tiến sỹ triết học Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con ngời
và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục con ngời ở Việt Nam trong thời kỳ
công nghiệp hoá- hiện đại hoá (1999) của Nguyễn Thị Nga, luận án tiến sỹ
Một số nội dung và biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ em trong gia
đình (2000) của Võ Nguyên Du.
Năm 2003- 2004, đề tài cấp Đại học quốc gia Chăm sóc sức khỏe tâm
thần cho trẻ em trong các gia đình Hà Nội hiện nay do TS Mai Thị Kim
Thanh và các cộng sự thực hiện. Kết quả nghiên cứu của đề tài chỉ ra rằng: trẻ
em là những ngời còn non nớt về thể chất và trí tuệ, một nhóm nhân khẩu đặc
biệt đang trong quá trình xã hội hóa, đang hình thành nhân cách, đang học
đóng vai trò cũng nh tiếp thu kiến thức, kỹ năng để tham gia hành động xã hội

viết nêu trên đã phản ánh khá cơ bản và toàn diện về gia đình Việt Nam và vai
trò chăm sóc, giáo dục, xã hội hoá của gia đình từ truyền thống tới hiện đại.
Nhiều công trình nghiên cứu giàu hàm lợng tri thức, đợc phản ánh một cách
khá công phu, đã cung cấp cho ngời đọc, ngời nghiên cứu những cái nhìn
tổng thể về vấn đề gia đình và giáo dục gia đình xa và nay. Tuy nhiên, bên
cạnh những kết quả đã đạt đợc về lý luận cũng nh thực tiễn, hầu hết các tác
giả đều thừa nhận kết quả đó mới chỉ là bớc đầu, mới chỉ là phát hiện những
vấn đề, còn trong những khía cạnh cụ thể cũng cần có sự đầu t hơn nữa để
nghiên cứu một cách tổng thể, khoa học.

III. Sự biến đổi chức năng của gia đình và vấn đề chăm sóc,
giáo dục trẻ em:
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc. Xã hội Việt Nam đang chuyển mạnh từ xã hội nông
nghiệp sang xã hội công nghiệp hiện đại cùng với sự giao lu hội nhập kinh tế
quốc tế của thế kỷ 21. Gia đình với t cách là tế bào của xã hội cũng đang có
những thay đổi lớn lao do sự tác động của những biến đổi về kinh tế, văn hoá,
xã hội. Nhìn một cách tổng quát, gia đình Việt Nam đang trong quá trình biến
đổi và chuyển hóa về mọi phơng diện, trong đó có sự biến đổi một số chức
năng quan trọng của nó. Điều này dẫn đến một số vấn đề phải quan tâm, trong
đó có vấn đề chăm sóc, giáo dục trẻ em trong gia đình hiện nay. 1. Biến đổi chức năng sinh đẻ:
Chức năng sinh đẻ và tái sản xuất xã hội của gia đình là chức năng đặc
biệt để phân biệt gia đình với các thiết chế xã hội khác. Gia đình với chức năng
sinh đẻ đã tạo nên tính liên tục của xã hội (duy trì và phát triển dân số), điều
mà không ai có thể thay thế đợc.
Trớc đây, khi nền kinh tế- xã hội của đất nớc còn kém phát triển, nhận
thức xã hội còn hạn chế, kế hoạch hóa gia đình cha đợc tuyên truyền vận

đình có quá đông trẻ em, tất nhiên bố mẹ phải san sẻ mọi nỗ lực của mình để
nuôi dạy chúng. Trong điều kiện kinh tế còn kém phát triển nh Việt Nam, sự
san sẻ công bằng đến mấy của bố mẹ cũng chỉ là sự san sẻ những cái thiếu thốn
và hẫng hụt. Biện pháp không ngoan để phát triển gia đình, tạo dựng gia đình
hạnh phúc với những đứa con khỏe mạnh, thông minh, lanh lợi là chú trọng
chất lợng hơn là số lợng. Dành thời gian chăm sóc, giáo dục và các nguồn
đầu t khác của gia đình cho một đến hai con là con đờng tốt nhất để nâng
cao chất lợng cuộc sống gia đình
4
.

2. Biến đổi chức năng kinh tế:
Trong những năm qua, mức sống của ngời dân Việt Nam từng bớc
đợc nâng cao. Đây là kết quả của chính sách đổi mới của Đảng cùng với sự nỗ
lực của mọi thành viên trong xã hội. Nền kinh tế thị trờng phát triển mạnh với
tiêu chí biết làm giàu là giá trị đợc xã hội chấp nhận và đánh giá cao. Sự
lên ngôi của kinh tế trong thang giá trị xã hội đã tác động mạnh đến chức
năng kinh tế của gia đình, từ đó tác động đến chất lợng chăm sóc, giáo dục
con cái. Nhìn trong phạm vi gia đình dễ dàng nhận thấy, mức sống cải thiện

3
Trần Văn Chiến, Chức năng sinh đẻ của gia đình, trích trong cuốn Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối
với gia đình Việt Nam hiện nay- UBDSGĐTE, 2004, tr. 129.
4
Nguyễn Đức Mạnh, Một số vấn đề biến đổi chức năng của gia đình và chăm sóc giáo dục trẻ em tuổi mầm
non trong gia đình hiện nay, trích trong cuốn Gia đình Việt Nam Quan hệ, quyền lực và xu hớng biến đổi,
Vũ Hào Quang chủ biên, Nxb ĐH Quốc gia , Hà Nội, 2006, tr. 307

11
giúp cha mẹ có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của con cái trong học tập, ăn

trị, chuẩn mực văn hóa, kiến thức và kinh nghiệm trong cuộc sống. Chức năng
giáo dục của gia đình rất quá trọng đối với trẻ em trong quá trình hình thành và
phát triển nhân cách, giúp trẻ em lớn lên sống hòa nhập và tuân thủ theo các
quy chuẩn xã hội của gia đình và của cộng đồng, xã hội. Nói cách khác, sự
phát triển nhân cách và sự hòa nhập vào cuộc sống xã hội của trẻ em phần
nhiều phụ thuộc vào văn hóa gia đình, sự can thiệp của các tác nhân bên ngoài
dẫu có nhng không phải là yếu tố quyết định. Thực tiễn thời gian qua cho
thấy, chức năng giáo dục trẻ em của gia đình đang đứng trớc những thách thức
mới và theo xu hớng dần bị suy giảm. Nguyên nhân của sự suy giảm này
trớc hết xuất phát từ sự biến đổi cấu trúc gia đình.
Trớc đây, mô hình gia đình nhiều thế hệ rất phổ biến và đợc coi là đặc
thù riêng của các nớc á Đông, nhng hiện nay loại gia đình nhiều thế hệ có
xu hớng chuyển dần sang gia đình hạt nhân. Số liệu điều tra cơ bản về gia
đình Việt Nam cho thấy: ở khu vực miền Bắc, gia đình hạt nhân (hai thế hệ)
chiếm tỷ lệ 78%; gia đình ba thế hệ chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ là 18,2%; gia đình

5
Hoàng Bá Thịnh, Biến đổi chức năng gia đình và giáo dục trẻ em hiện nay - Kỷ yếu hội thảo Gia đình với
việc chăm sóc- giáo dục trẻ mầm non thời kỳ CNH- HĐH đất nớc -12/2003, tr. 29.
6
Trần Thị Hồng, Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý tình cảm, trích trong cuốn Thực trạng và những vấn
đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam hiện nay- UBDSGĐTE, 2004, tr. 208.

12
bốn thế hệ chiếm tỷ lệ không đáng kể (0,5%), còn lại 3,3% là số hộ gia đình 1
thế hệ. Xu thế gia đình hạt nhân chiếm u thế không chỉ xảy ra ở thành thị và
đồng bằng mà còn ở các vùng miền khác, cụ thể: gia đình hạt nhân ở khu vực
thành phố chiếm 65%; khu vực đồng bằng: 81,7% và trung du - miền núi:
80,6%
7


Xét ở khía cạnh khác, xu hớng xã hội hoá công tác bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em diễn ra ngày càng mạnh mẽ cũng tác động đến chức năng chăm
sóc, giáo dục trẻ em của gia đình. Nếu nh trớc đây, việc chăm sóc, giáo dục
trẻ em là chức năng của gia đình và chỉ duy nhất có gia đình phải thực hiện
chức năng này thì ngày nay, trớc sự tác động của quá trình toàn cầu hoá, vấn
đề trẻ em đã trở thành vấn đề chung của xã hội. Chính điều này đã khiến cho
nhận thức của các bậc cha mẹ có sự thay đổi. Họ coi việc chăm sóc, giáo dục
trẻ em không còn là vấn đề riêng của gia đình mà nó phải đợc cộng đồng xã
hội quan tâm. Vì thế, họ đã chuyển một phần trách nhiệm chăm sóc, giáo dục

7
Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ , Số liệu điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai
trò của ngời phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc (khu vực miền Bắc). Nxb
KHXH, 2002, tr. 28.

13
con cái sang cho nhà trờng, cho xã hội, thậm chí có những gia đình còn phó
mặc hoàn toàn cho nhà trờng, cho ngời giúp việc. Lẽ ra, trẻ em phải đợc
chính ông bà, bố mẹ và những thành viên lớn tuổi khác trong gia đình hớng
dẫn về ý thức giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe cá nhân, nhận thức về thẩm mỹ,
đợc hớng dẫn về cách thức thể hiện hành vi chuẩn mực xã hội, đợc rèn
luyện về tính kỷ luật, về tác phong, nhận thức về vị trí, quyền lợi và bổn phận,
trách nhiệm của mình đối với gia đình và xã hội. Tuy nhiên, thực tế trong nhiều
gia đình, trẻ em lại thiếu sự chỉ bảo, hớng dẫn, tập tành, rèn luyện từng hành
vi ứng xử dù rất đơn giản của ông bà, bố mẹ và những ngời lớn tuổi.
Từ đó có thể thấy, sự biến đổi cấu trúc gia đình cũng nh xu hớng xã
hội hóa công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em đã tác động mạnh đến chức năng
chăm sóc, giáo dục trẻ em của gia đình.


lại có nguy cơ phải đối đầu với những thách thức mới. Những thách thức đó có
thể là sự thiếu hụt về thời gian quan tâm dành tình cảm cho con cái của cha mẹ,
sự hạn chế về điều kiện vật chất để chăm lo tốt hơn cho đời sống tinh thần của

14
trẻ, hoặc thậm chí là sự bất hòa, mâu thuẫn trong quan hệ giữa các thành viên
trong gia đình, tình trạng bạo lực gia đình, cũng ảnh hởng lớn đến đời sống
tinh thần của trẻ em.
Thực tế có rất nhiều trẻ em trở thành nạn nhân của các cuộc cãi vã, đánh
lộn, nhiếc móc của ngời lớn, đặc biệt là của cha mẹ khi họ có những bất hoà.
Một cuộc điều tra về sức khoẻ trẻ em đã đa ra con số thống kê nh sau: có tới
78,23% trẻ từ 6-15 tuổi bị cha mẹ hành hạ về thể xác, 33,9% trong số này đã
phải hứng chịu những tổn thơng nhất định, có 27,89% các em bị chửi mắng,
6,8% các em bị sỉ nhục
8
.
Kết quả cuộc nghiên cứu thăm dò d luận trẻ em, do Viện Nghiên cứu
Thanh niên tiến hành cuối năm 1998 về các hình thức xử phạt của cha mẹ đối
với con cái cũng cho thấy một con số đáng ngại về tình hình bạo lực đối với trẻ
em. Trong số 1240 em nhỏ đợc hỏi có tới 90,52% nói rằng chúng thờng bị
cha mẹ đánh khi có lỗi, trong đó vừa đánh vừa mắng 25,6%, đánh đau là
64,92%. Cũng theo báo cáo này thì có 45% các em nói rằng mình bị phạt oan
ức, 72,08% cho rằng đã rất đau buồn khi bị xử phạt và 27,92% nói rằng các em
rất tức giận bố mẹ. Tỷ lệ các em tức giận bố mẹ cao nhất là ở nhóm những em
bớc vào tuổi vị thành niên, tức là từ 14-16 tuổi, chiếm 45,95%.
9
Những tổn
thơng mà cha mẹ và ngời thân gây ra cho trẻ không chỉ tác động đến sức
khỏe thể chất mà còn ảnh hởng nghiêm trọng đến sự phát triển tâm lý, tinh
thần của trẻ. Nếu trẻ em đợc sống trong gia đình êm ấm, cha mẹ luôn có biện

này thuộc đề tài Vị trí, vai trò của gia đình và cộng đồng trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em do UB DSGĐTE thực hiện năm 2001, GS. TS Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm đề tài.

15

Nghiên cứu nhận thức của gia đình về trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc,
giáo dục trẻ em trớc hết cần quan tâm đến nhận thức của các bậc cha mẹ về
vấn đề này. Thực trạng nhận thức của cha mẹ khu vực nông thôn về trách
nhiệm chăm sóc, giáo dục trẻ em đợc xem xét theo các khía cạnh dới đây.
1.1. Nhận thức của cha mẹ về trách nhiệm pháp lý trong việc
BVCSGDTE:
Đảng và Nhà nớc ta luôn quan tâm đến sự phát triển toàn diện của trẻ
em, bởi vậy nhiều bộ luật của Nhà nớc đã đợc ban hành nhằm bảo vệ các
quyền lợi của trẻ em, trong đó có Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
(Luật BV, CS &GD TE) ban hành ngày 12/8/1991 và đợc Quốc hội sửa đổi
thông qua ngày 15/6/2004. Có thể nói, đây là một trong những văn bản pháp
luật quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo quyền lợi của trẻ em cũng
nh quy định rõ vai trò và trách nhiệm của gia đình, cộng đồng và xã hội trong
việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Chính vì thế, việc cha mẹ tiếp cận và
nắm bắt những thông tin trong Luật BV, CS &GD TE là rất quan trọng.
Kết quả điều tra 579 hộ gia đình nông thôn các khu vực đồng bằng (Thái
Bình), miền núi (Bắc Cạn), trung du (Phú Thọ) và ngoại thành Hà Nội cho
thấy: có 80,6% những ngời đợc hỏi biết Luật BVCSGDTE Việt Nam. Chỉ có
19,4% cha từng biết về luật này. Và nguồn thông tin chủ yếu mà các bậc cha
mẹ tiếp cận đợc Luật này là qua tivi, đài (88,7%), báo chí (63,1%), cán bộ xã
(39,4%) và qua bạn bè, ngời thân (26,8%).
Bảng 1. Hiểu biết của cha mẹ về Luật BVCSGDTE
11
Phơng án Ngoại thành HN Đồng bằng Miền núi Trung du Chung
Có biết 77,9 63,0 93,4 86,5 80,6

Cha mẹ là ngời trớc tiên chịu trách nhiệm về việc chăm
sóc, nuôi dỡng trẻ em
90,1 9,9
Cha mẹ dành điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ 93,4 6,6
Cha mẹ có trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân
phẩm, danh dự của trẻ em
77,7 22,3
Cha mẹ phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn cho
trẻ em, tạo môi trờng lành mạnh cho sự phát triển toàn diện
của trẻ
78,5 21,5
Cha mẹ có trách nhiệm tạo điều kiện, giúp đỡ trẻ em đợc
tiếp cận thông tin phù hợp, đợc phát triển sáng tạo và bày tỏ
nguyện vọng của mình
71,1 28,9
Cha mẹ phải gơng mẫu về mọi mặt để trẻ em noi theo 89,3 10,7

Trong số 121 cha mẹ đã biết đến Luật BV, CS & GD TE thì có tới 90,1%
cha mẹ hiểu rằng mình là đối tợng trớc tiên chịu trách nhiệm về mặt pháp lý
trớc Nhà nớc trong việc chăm sóc, nuôi dỡng trẻ em. Những nội dung cơ
bản khác trong Luật BV, CS & GD TE cũng đợc cha mẹ nắm bắt rõ nh: Cha
mẹ cần phải dành điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ (93,4%); Cha mẹ
có trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em
(77,7%); Cha mẹ phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn cho trẻ em,
tạo môi trờng lành mạnh cho sự phát triển toàn diện của trẻ (78,5%); Cha mẹ
có trách nhiệm tạo điều kiện, giúp đỡ trẻ em đợc tiếp cận thông tin phù hợp,
đợc phát triển sáng tạo và bày tỏ nguyện vọng của mình (71,1%); Cha mẹ
phải gơng mẫu về mọi mặt để trẻ em noi theo (89,3%).
Từ đó có thể thấy, phần lớn các bậc cha mẹ ở khu vực nông thôn đã nhận
thức đợc trách nhiệm về mặt pháp lý của mình trong việc chăm sóc, giáo dục

Cha mẹ có phơng pháp giáo dục con tốt 43,2
Môi trờng xã hội tốt 38,3
Hỗ trợ của nhà nớc và các đoàn thể 30,1
Truyền thống gia đình và địa phơng 28,8
Hệ thống truyền thông đại chúng 14,7

Có thể thấy nhận thức của cha mẹ ở khu vực nông thôn về các điều kiện
chăm sóc, giáo dục trẻ em một cách hiệu quả là khá sâu sắc và mang tính chủ
động cao. Sự nhận thức sâu sắc thể hiện ở việc họ lựa chọn những điều kiện
quan trọng hàng đầu đảm bảo cho việc trồng ngời, bao gồm điều kiện về vật
chất, thời gian, phơng pháp và đặc biệt là trình độ, hiểu biết của ngời chăm
sóc. Tính chủ động cao trong nhận thức thể hiện ở việc họ đề cao các điều kiện
chủ quan từ phía gia đình (điều kiện kinh tế gia đình, học vấn của cha mẹ,)
hơn là các điều kiện thuộc về vai trò của xã hội (sự hỗ trợ của nhà nớc, đoàn
thể, truyền thống địa phơng, môi trờng xã hội, truyền thông đại chúng). Điều
này càng khẳng định ý thức về vai trò và trách nhiệm của cha mẹ trong việc
chăm sóc, giáo dục con cái là rất lớn, không bị phụ thuộc nhiều vào sự hỗ trợ từ
phía cộng đồng xã hội.

2. Kiến thức và kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình:
Nh đã thấy, trong các điều kiện cần thiết cho việc chăm sóc, giáo dục
trẻ em có hiệu quả, các bậc cha mẹ đã nhấn mạnh đến điều kiện về trình độ,
hiểu biết, phơng pháp chăm sóc, giáo dục con cái của cha mẹ, nghĩa là họ coi
trọng năng lực chăm sóc, giáo dục con cái của cha mẹ. Vậy trên thực tế, các
bậc cha mẹ đã đợc trang bị đầy đủ những kiến thức, kỹ năng chăm sóc con
cái? Và những kiến thức, kỹ năng đó có đảm bảo cho sự phát triển toàn diện
của trẻ em? Vấn đề này sẽ đợc tìm hiểu dới đây.

2.1. Kiến thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe trẻ em của các gia đình.:
Khi nói tới sức khỏe của trẻ em không thể không đề cập đến giai đoạn

học tập, nhận thức
32,5
Gần nh không ốm đau 15,8
Tổng 100,0

Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới thì sức khoẻ không chỉ là
không có bệnh tật mà hiểu theo nghĩa toàn diện sức khoẻ bao gồm trạng thái
thoả mãn về thể chất, tinh thần và xã hội. Và sống khỏe mạnh nghĩa là có đợc
sức khoẻ về thể chất, tâm thần, xã hội và tâm lý tình cảm.
Các bậc cha mẹ ở vùng nông thôn nhìn nhận về sức khỏe của trẻ khá tốt
khi cho rằng một đứa trẻ khỏe mạnh phải có đời sống thể chất và tinh thần hài
hòa, bình thờng (35,0% ngời trả lời) và sức khỏe đó phải đáp ứng đợc
những đòi hỏi của các hoạt động lao động, học tập, nhận thức (32,5%). Chỉ một
số ít cha mẹ nhận thức cha đầy đủ khi cho rằng trẻ khỏe mạnh là phải có vóc
dáng to béo, mập mạp (16,7%) và gần nh không ốm đau (15,8%)- nghĩa là chỉ
quan tâm đến sức khỏe thể chất của trẻ (bảng 4).
Từ những kiến thức về sức khỏe và việc chăm lo sức khỏe cho trẻ em nh
vậy, các gia đình sẽ có những kỹ năng chăm sóc sức khỏe tơng ứng cho trẻ.
Kỹ năng chăm sóc sức khỏe trẻ em cũng đợc đo trên hai tiêu chí là chăm sóc
sức khỏe thể chất và chăm sóc sức khỏe tinh thần.
2.1.1. Chăm sóc sức khỏe thể chất:
Chăm sóc sức khỏe thể chất của trẻ em trớc hết thể hiện ở việc chăm
sóc trẻ về mặt dinh dỡng, đảm bảo đầy đủ số lợng và chất lợng dinh dỡng
cho trẻ. Khảo sát 203 hộ gia đình cho thấy, trong khẩu phần ăn uống, cha mẹ
thờng cho con cái ăn 3 bữa trong ngày (tỷ lệ ngời trả lời chiếm tới 83,3%).
Số lợng bữa ăn cho trẻ trong một ngày nh vậy đã đảm bảo đợc đầy đủ chế
độ, bao gồm bữa sáng, bữa tra và bữa tối. Tỷ lệ cha mẹ cho con ăn nhiều bữa

14
Đề tài nhánh 3, tr.73.

dỡng không thôi vẫn cha thể đảm bảo cho trẻ có một sức khỏe tốt mà quan
trọng là việc ăn uống phải đợc thực hiện một cách khoa học, theo chế độ hợp
lý, điều độ (ăn uống, ngủ nghỉ đầy đủ, đúng giờ) và kết hợp với vận động để
tiêu hao năng lợng d thừa. Đó mới là kỹ năng chăm sóc sức khỏe toàn diện
cho sự phát triển thể chất của trẻ.
Từ đó có thể thấy, các bậc cha mẹ nông thôn hiện nay mới chỉ quan tâm
đến việc đảm bảo số lợng và chất lợng các chất dinh dỡng nuôi cơ thể trẻ
mà cha quan tâm nhiều đến việc thực hiện chế độ ăn uống của trẻ theo nề nếp
sinh hoạt hợp lý, điều độ và khoa học.
Việc chăm lo ăn uống cho trẻ đợc các thành viên trong gia đình tham
gia, trong đó ngời mẹ đóng vai trò chủ đạo nhất.

Bảng 5. Ngời thờng xuyên cho trẻ ăn uống
17

Ngời cho trẻ ăn uống Tỷ lệ %
Bố 4,9
Mẹ 76,4
Anh chị 4,9
Cô chú 0,0
Ông bà 13,8
Khác 0,0

16
Đề tài nhánh 3, tr. 74
17
Đề tài nhánh 3, tr.76

20


đầu cho trẻ thể hiện trình độ hiểu biết và sự quan tâm của gia đình tới sức khỏe
và sự phát triển chung của trẻ.
Phần lớn cha mẹ trong 203 hộ gia đình đợc khảo sát đã biết đến các
chơng trình y tế cộng đồng liên quan đến việc chăm sóc sức khỏe trẻ em, cụ
thể 83,0% biết tới chơng trình y tế và sức khỏe cộng đồng; 94,0% biết tới
chơng trình tiêm chủng cho trẻ em; 82,2% biết tới chơng trình chăm sóc sức
khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh; 70,8% biết chơng trình phòng chống tiêu chảy ở trẻ
em; 85,1% biết chơng trình muối iốt chống bớu cổ; 87,3% biết chơng trình
HIV/AIDS; 92,0% biết chơng trình kế hoạch hóa gia đình; 61,0% biết chơng
trình chống các bệnh lao, phong.
Trong các chơng trình đó thì chơng trình tiêm chủng phòng ngừa bệnh
tật, bảo vệ sức khỏe của trẻ em đợc các gia đình thực hiện rất tốt, thể hiện ở
việc đa số cha mẹ (93,1%) đã đa con đi tiêm phòng đầy đủ, 4,4% thực hiện
khá đầy đủ, 0,5% thực hiện cha đầy đủ và chỉ còn 4,0% cha mẹ cha đa con
đi tiêm chủng
19
.

18
Đề tài nhánh 2, tr.98-99.
19
Đề tài nhánh 3, tr. 77.

21
Đáng mừng hơn nữa là trong số 579 hộ gia đình ở nông thôn miền Bắc,
có tới 81,3% gia đình có thuốc dự phòng cho trẻ em ngay tại gia đình, trong đó
chủ yếu là những thuốc thông thờng nhng cần thiết nh thuốc cảm cúm
(91,8%), dầu gió (87,7%), các loại vitamin (65,4%), thuốc kiết lị, ỉa chảy
(64,4%)
20

Tự chữa trị tại gia đình 43,7
Đến bệnh viện huyện, tỉnh, thành phố 78,0
Đến trạm xá xã, phờng 68,6
Đến dịch vụ y tế t nhân 19,2
Đến nhà thầy lang 5,7
Đa con đi cúng lễ 2,1

Khoảng 43,7% cha mẹ đã tự chữa trị bệnh cho trẻ em tại gia đình. Khi
trẻ mắc các bệnh thông thờng (nh đau đầu, hắt hơi, sổ mũi, viêm họng,) và
ở mức độ nhẹ thì cha mẹ thờng dùng các bài thuốc dân gian hoặc tự mua
thuốc về chăm sóc cho trẻ ngay tại gia đình.

20
Đề tài nhánh 2, tr. 102.
21
Đề tài nhánh 2, tr. 104.
22
Đề tài nhánh 2, tr. 103- 104.

22
Ngoài ra, vẫn còn khoảng 2,1% số ngời đợc hỏi dùng biện pháp cúng
lễ khi con họ mắc bệnh. Đây chủ yếu là những cha mẹ có trình độ học vấn thấp
nên nhận thức về việc chăm sóc trẻ khi ốm đau còn hạn chế, họ vẫn còn tin vào
những điều mê tín, dị đoan.
Nhìn chung, việc chăm sóc sức khỏe thể chất của trẻ em đợc các gia
đình nông thôn thực hiện khá tốt thông qua việc chăm sóc về mặt dinh dỡng
cũng nh quan tâm phòng ngừa, chữa trị bệnh tật cho trẻ. Tuy nhiên, bên cạnh
đó cũng có một số hạn chế đó là các bậc cha mẹ nông thôn hiện nay mới chỉ
quan tâm đến việc đảm bảo các chất dinh dỡng cho trẻ mà cha quan tâm
nhiều đến việc thực hiện chế độ ăn uống của trẻ theo nề nếp sinh hoạt hợp lý,

Theo ý kiến của trẻ em, những ngời thân trong gia đình (cha mẹ, ông
bà, cô chú, ) chỉ dành cho các em 15 phút trong một ngày là chủ yếu (46,2%
em đa ra ý kiến). Lợng thời gian này qúa ít so với nhu cầu vui chơi, giải trí
bên ngời thân của trẻ. 16,7% em cho rằng cha mẹ dành 30 phút và 26,9%
dành 1 giờ vui chơi với mình. Không có cha mẹ nào dành hơn 2 giờ để vui chơi
bên trẻ.

23
Đề tài nhánh 3, tr. 50.

23
Chúng ta đều biết rằng, nếu cha mẹ thờng xuyên quan tâm, dành nhiều
thời gian để nói chuyện, hỏi han và nắm đợc thời gian biểu của con trong
ngày thì mới hiểu đợc nhu cầu, nguyện vọng, sở thích của con nh thế nào.
Việc quan tâm tới các hoạt động của con cái, lắng nghe tâm t tình cảm của
con không chỉ giúp cha mẹ và con cái hiểu nhau hơn mà còn mang lại cho trẻ
cảm giác yên tâm vì có đợc chỗ dựa vững chắc trong cuộc sống. Thông qua
trao đổi, cha mẹ sẽ truyền cho con cái những kiến thức, kinh nghiệm cần thiết
giúp trẻ bớc vào cuộc sống tự tin hơn. Đáng tiếc là trên thực tế các bậc cha mẹ
ở nông thôn hiện nay cha dành nhiều thời gian vui chơi bên trẻ. Nguyên nhân
chủ yếu là do các bậc cha mẹ còn tập trung nhiều vào việc kiếm sống, đặc biệt
với những gia đình có mức sống trung bình hoặc thấp thì cha mẹ còn mải lo
làm ăn kinh tế, đem lại nguồn thu nhập cho cả gia đình nên thời gian giành cho
việc trông nom, chăm sóc con cái là rất ít, thậm chí có những gia đình cha mẹ
phải đầu tắt mặt tối lo kiếm miếng ăn hàng ngày mà không có lấy một chút
thời gian giành cho con cái.
Năng lực chăm sóc đời sống tinh thần của trẻ em cũng đợc thể hiện qua
việc gia đình tạo điều kiện cho con cái đợc vui chơi giải trí. Nhìn chung, cha
mẹ cha tạo điều kiện nhiều cho nhu cầu vui chơi, giải trí của trẻ em. Chỉ hơn
1/2 số cha mẹ đợc hỏi (53,2%) mua truyện, sách báo cho con xem, 22,2% đi


24

Trích đoạn Kiến thức và kỹ năng giáo dục, x∙ hội hóa trẻ em của các gia đình:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status