Chuyển thanh tra tuân thủ sang thanh tra
trên cơ sở rủi ro. Lộ trình cụ thể tại Việt
Nam.
Mở đầu
Vào những năm 1990, khái niệm về thanh tra trên cơ sở rủi ro xuất hiện như một
thông lệ tốt nhất trên thế giới đối với các cơ quan thanh tra, giám sát tài chính. Kể
từ khi xuất hiện, sự biến đổi đa dạng về kỹ thuật thanh tra, giám sát đã được các cơ
quan thanh tra, giám sát xây dựng. Tâm điểm của những kỹ thuật này là ngôn ngữ
chung về rủi ro; tiếp xúc thường xuyên với Hội đồng quản trị và Ban điều hành của
tổ chức được giám sát; giám sát liên tục hoạt động tài chính và các chỉ số an toàn.
Phương pháp giám sát linh hoạt có thể cho phép đánh giá cụ thể và kịp thời những
bộ phận chức năng được xem là có nhiều rủi ro nhất.
Theo “Từ điển tiếng Việt” xuất bản năm 1992 thì thanh tra là “kiểm soát, xem xét
tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Theo tài liệu của Tổng thanh
tra Pháp thì thuật ngữ thanh tra (inspection) bắt nguồn từ tiếng Latinh “In spectare”
có nghĩa là nhìn vào bên trong. Theo đó, thanh tra là một thực tế đứng ngoài để
kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các cơ quan, tổ chức; khác với sự kiểm tra, kiểm
soát nội bộ của cơ quan, tổ chức đó.
Tháng 10 năm 2006, Hiệp ước vốn Basel I đã điều chỉnh, bổ sung vào 25 Nguyên
tắc giám sát ngân hàng có hiệu quả những quy định mới về nâng cao năng lực quản
trị rủi ro của TCTD và tăng cường giám sát trên cơ sở rủi ro đối với tập đoàn ngân
hàng. Mục tiêu khác của việc rà soát lại là để thúc đẩy sự nhất quán giữa các
nguyên tắc cơ bản và các tiêu chuẩn tương ứng trong lĩnh vực chứng khoán và bảo
hiểm cũng như lĩnh vực phòng, chống rửa tiền và sự minh bạch hóa. Đây là tài liệu
rất tốt, để NHNN nghiên cứu, vận dụng vào quá trình thanh tra, giám sát với các
TCTD.
Luật Thanh tra năm 2010 nêu: “Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ
thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó”. Theo đó, NHNN thực hiện thanh
tra chuyên ngành về ngân hàng theo phương pháp thanh tra tuân thủ .
nguy cơ bất lợi. Chính sách bảo hộ hàng hóa nội địa diễn ra tại nhiều nước gây
ảnh hưởng đến thị trường cầu. Thất nghiệp vẫn là mối quan tâm chính ở các
nước phát triển. Sản xuất kinh doanh trong nước vẫn trong tình trạng khó khăn,
thị trường cầu nội địa yếu. Sản phẩm hàng hóa tiêu thụ chậm. Nợ xấu đang là
gánh nặng cho nền kinh tế. Tình trạng doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể
hoặc phá sản từ cuối năm 2012 tiếp tục xảy ra trong những tháng đầu năm 2013.
Việc làm của người lao động bấp bênh dẫn đến thu nhập giảm sút.
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO vào cuối năm 2006, các doanh nghiệp trong nước
đã đẩy mạnh tăng trưởng. Trong lĩnh vực ngân hàng, các tổ chức tín dụng (TCTD)
cũng mở rộng mạng lưới và quy mô hoạt động, trong khi năng lực quản trị điều
hành cải thiện chậm chạp.
Trong khi đó, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng chủ yếu là thanh tra tuân
thủ, thanh tra hành chính, thiếu trọng tâm, trọng điểm; năng lực thanh tra, giám sát
rủi ro và an toàn còn hạn chế, đặc biệt là khả năng phân tích, đánh giá và cảnh báo
rủi ro đối với từng TCTD cũng như toàn hệ thống;hiệu lực, hiệu quả chưa cao,
chưa xử lý kịp thời và nghiêm các rủi ro trọng yếu.
Nhiều văn bản quy định về nghiệp vụ, an toàn hoạt động ngân hàng, hệ thống kiểm
tra, kiểm soát nội bộ của các TCTD còn bất cập, chưa thực sự phù hợp với sự phát
triển nhanh về quy mô và sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.
II. Thanh tra tuân thủ
1. Khái niệm
Thanh tra, giám sát tuân thủ là 1 loại thanh tra, giám sát truyền thống. Ở loại thanh
tra giám sát này được dựa trên cơ sở quy định của pháp luật, các quy định của nội
bộ để thực hiện thanh tra, giám sát.
Thanh tra, giám sát tuân thủ các tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa
vào so sánh giữa hoạt động diễn ra thực tế và các quy định hiện hành. Phương pháp
này chủ yếu nhằm đảm bảo việc chấp hành các quy định pháp luật về tiền
tệ, hoạt động ngân hàng và những quy định trong giấy phép hoạt động của các
TCTD. Thanh tra tuân thủ sử dụng một hệ quy chiếu là các quy định của pháp luật.
Các căn cứ để thực hiện thanh tra giám sát tuân thủ là Luật Ngân Hàng Nhà Nước
Tuy nhiên
Từ giữa năm 2011 đến nay, hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng đã tập
trung làm rõ những vấn đề nổi cộm, rủi ro, yếu kém và những vi phạm của các
TCTD. Theo đó, đã phát hiện nhiều vi phạm pháp luật, yếu kém của TCTD về
quản trị, điều hành, kiểm toán, kiểm soát nội bộ; hạch toán kế toán; huy động vốn;
hoạt động tín dụng, quy định về sở hữu cổ phần, thu - chi tài chính; an toàn kho
quỹ; phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, hoạt động liên ngân hàng, an toàn
hoạt động của TCTD. Trên cơ sở kết quả thanh tra, kiểm tra, Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam đã xử lý nghiêm các vi phạm, kể cả chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra,
đồng thời tiến hành tái cơ cấu các TCTD phù hợp với thực trạng TCTD và quy
định của pháp luật.
Hiện nay, công tác thanh tra, giám sát được đổi mới mạnh mẽ theo hướng
thanh tra, giám sát pháp nhân; kết hợp giữa thanh tra, giám sát tuân thủ với thanh
tra, giám sát trên cơ sở rủi ro. Công tác thanh tra, giám sát ngân hàng được chỉ đạo
tập trung, thống nhất từ trung ương đến các địa phương nhằm thực hiện yêu cầu,
mục đích của kế hoạch thanh tra hàng năm. Hoạt động thanh tra, giám sát ngân
hàng tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro và vi phạm pháp luật.
Trong giai đoạn này, NHNN đẩy mạnh triển khai xây dựng, hoàn thiện hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể là:
Thứ nhất, NHNN đã ban hành quy định mới về phân loại nợ và trích lập dự
phòng rủi ro trong hoạt động của TCTD theo hướng phản ánh đúng, đầy đủ hơn rủi
ro tín dụng, quy định về hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ theo hướng phân định
rõ trách nhiệm, bộ máy, quy trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ nhằm nâng cao năng
lực tự kiểm tra, kiểm soát nội bộ của từng TCTD. Trong thời gian tới, NHNN sẽ
sớm ban hành bộ quy định mới về an toàn hoạt động ngân hàng và quy chế quản trị
rủi ro tối thiểu. Đây sẽ là những văn bản quan trọng góp phần hoàn thiện hệ thống
văn bản về an toàn hoạt động ngân hàng của NHNN. Ngoài ra, NHNN đang nghiên
cứu để ban hành các quy định về tổ chức và hoạt động của các loại hình TCTD
khác như TCTD phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô, TCTD là hợp tác xã để tạo
lập khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của từng loại hình theo đúng bản chất hoạt
- Rủi ro tín dụng
- Rủi ro thị trường: rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro về giá.
- Rủi ro thanh toán
- Rủi ro hoạt động
- Rủi ro chiến lược
- Rủi ro tuân thủ.
Chấp nhận và quản lí rủi ro là nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh ngân hàng. Tuy
nhiên các loại rủi ro chấp nhận được phải được tổ chức tín dụng tính đến trong
chiến lược kinh doanh của mình và cần phải được hiểu thấu đáo, được đo lường,
kiếm soát và nằm trong phạm vi khả năng sẵn sàng ứng phó với những bất lợi có
thế chấp nhận được của tổ chức tín dụng.
Phương pháp thanh tra ngân hàng trên cơ sở rủi ro là phương pháp thanh tra trong
đó tập trung vào việc đánh giá mức độ rủi ro mà TCTD gặp phải khi không tuân
thủ các quy định, quy trình đã có và khi không có các thủ tục, quy trình hoạt động
phù hợp.
- Đặc điểm cơ bản của phƣơng pháp thanh tra trên cơ sở rủi ro:
Thứ nhất, thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro tập trung đánh giá tổng thể TCTD
thông qua việc xem xét, kiểm tra hồ sơ tài liệu, các chính sách, quy trình, hệ thống
và thực tiễn công tác quản lý của TCTD.
Thứ hai, thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro cho phép định hƣớng t hanh tra, giám
sát vào những lĩnh vực, những TCTD có mức độ rủi ro cao và rủi ro có khả năng
tác động tới sự an toàn của hệ thống các TCTD.
Thứ ba, thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro dựa rất nhiều vào báo cáo kiểm toán
nội bộ của bộ phận kiểm toán nội bộ của TCTD.
Thứ tư, thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro kết hợp cả đánh giá khách quan và chủ
quan của thanh tra viên.
Thứ năm, thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đòi hỏi Thanh tra Ngân hàng thực
hiện cả việc dự báo.
Thứ sáu, thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro thực hiện đánh giá mức độ
rủi ro của TCTD theo khung đánh giá rủi ro, trong đó tập trung đánh giá mức độ
Bằng cách tập trung vào các lĩnh vực có rủi ro lớn, thanh tra viên có thể giám sát
mỗi tổ chức tín dụng cũng như toàn hệ thống tổ chức tín dụng một cách hiệu quả
hơn…
Tình hình và chiến lược của tổ chức tín dụng là một tài liệu được thiết kế để tóm
lược những thông tin quan trọng nhất về mỗi tổ chức tín dụng, tài liệu này bao gồm
các phần sau:
+ Thông tin chung và cơ cấu của tổ chức tín dụng
+ Kết quả của cuộc thanh tra trước
+ Tóm tắt tình hình hiện tại
+ Các rủi ro chính
+ Đề xuất chiến lược thanh tra.
Thông thường thì Bản tình hình và chiến lược của tổ chức tín dụng do bộ phận
phân tích lập. Nhằm thu thập các thông tin cần thiết đề hoàn thiện nhiệm vụ này,
người lập tài liệu trên cần phải xem xét các tài liệu được thảo luận. Lưu ý rằng việc
hoàn thiện bản tình hình và chiến lược của tổ chức tín dụng có thể mất vài ngày
hoặc 1 tuần, phụ thuộc vào quy mô và mức độ phức tạp của tổ chức tín dụng và
mức độ sẵn có của thông tin.
Các dữ liệu này phải có thông qua giám sát từ xa, Người lập cũng phải xác định
xem có thay đổi gì về sở hữu và cơ cấu đang hoặc được dự kiến sẽ xảy ra là không.
Đang xảy ra có nghĩa là tổ chức tín dụng đã xin phép thực hiện các hoạt động mới,
mở chi nhánh mới, hoặc thay đổi về sở hữu. Dự kiến xảy ra là lãnh đạo Ngân hàng
Nhà nước biết sẽ có những thay đổi này qua tiếp xúc với tổ chức tín dụng. Người
lập phải sử dụng thông tin thu thập được
Vì hoạt động thanh tra trên cơ sở rủi ro nhằm mục đích kiểm soát rủi ro liên tục,
việc hiểu biết về mỗi TCTD là điểm bắt đầu tốt nhất, do đó nên có quy trình phù
hợp để phát triển và duy trì việc hiểu biết toàn diện về tình hình rủi ro của mỗi
TCTD.
Bước 2 : lập kế hoạch thanh tra đối với mỗi TCTD
Khi rủi ro của mỗi TCTD đã được xác định thì Cơ quan thanh tra, giám sát có thể
đánh giá các rủi ro đó trong hệ thống TCTD và đặt ra thứ tự ưu tiên cho các nhiệm
tài liệu liên quan và qua thảo luận với các đơn vị chức năng của NHNN, lãnh
đạo TCTD được thanh tra, Người ra quyết định thanh tra ban hành kết luận
thanh tra và quyết định việc cần thiết phải áp dụng hình thức xử lý, biện
pháp chỉnh sửa tương ứng với mức độ sai phạm của TCTD.
Bước 6: Giám sát việc TCTD chấn nhỉnh sau thanh tra
Các báo cáo định kỳ của TCTD cung cấp cho Cơ quan thanh tra, giám sát
những thông tin cần thiết để đánh giá mức độ đầy đủ trong việc thực hiện
của TCTD. Khi TCTD tuân thủ đầy đủ tất cả các yêu cầu theo kết luận thanh
tra, Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng sẽ quyết định việc chuyển sang
giám sát thường xuyên đối với TCTD. Trường hợp TCTD không thực hiện
đúng tiến độ chấn chỉnh sau thanh tra hoặc tiếp tục có biểu hiện kém an toàn,
Chánh thanh tra, giám sát ngân hàng sẽ quyết định các cấp độ xử lý tương
xứng.
Thanh tra trên cơ sở rủi ro là phương pháp thanh tra tiên tiến. Tuy nhiên, việc áp
dụng phương pháp thanh tra này vào Việt Nam cần có lộ trình thích hợp phù hợp
với thực trạng quản trị rủi ro của TCTD và năng lực giám sát TCTD của NHNN.
Từ năm 2007, Đề án Cải cách tổ chức và hoạt động Thanh tra Ngân hàng (Quyết
định số 1976/QĐ-NHNN) đã nêu lên 7 nội dung cơ bản trong đó nhấn mạnh việc
chuyển hướng từ thanh tra tuân thủ sang thanh tra trên cơ sở rủi ro. Theo đó
NHNN cần “Xây dựng khuôn khổ quy trình và phương pháp thanh tra - giám sát
dựa trên cơ sở rủi ro và hợp nhất kết hợp với thanh tra - giám sát tuân thủ phù
hợp với thông lệ quốc tế và các nguyên tắc của Uỷ ban Giám sát ngân hàng Basel
nhằm nâng cao năng lực cảnh báo sớm rủi ro trong hoạt động ngân hàng”.
Cho đến nay, mặc dù tiến độ triển khai đề án còn chậm nhưng NHNN đã có khung
cơ bản về giám sát từ xa theo CAMELS và sổ tay thanh tra trên cơ sở rủi ro phiên
bản 1. Cơ quan Thanh tra, giám sát đã từng bước áp dụng thí điểm thanh tra trên cơ
sở rủi ro với một số pháp nhân NHTM. Đó là tiền đề quan trọng để có thể thực
hiện Điều 51 Luật NHNN có hiệu lực từ tháng 1 năm 2011.
Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng cần
phải sớm làm rõ ba việc sau đây khi triển khai thanh tra, giám sát theo hai Luật về
Thanh tra ngân hàng đã góp phần nâng cao chất lượng quản lý điều hành đối
với các loại hình TCTD thông qua việc đƣa ra hàng nghìn kiến nghị trên các
lĩnh vực công tác nguồn vốn, sử dụng vốn, kết quả kinh doanh và quản trị
điều hành, kiểm tra, kiểm toán nội bộ của TCTD.
Qua thanh tra tại chỗ, nhiều sai phạm của TCTD đã đƣợc các đoàn thanh tra
phát hiện, kiến nghị xử lý, thu hồi tài sản cho TCTD. Đặc biệt, việc chấn
chỉnh và sắp xếp lại NHTM cổ phần, chấn chỉnh, củng cố hệ thống QTDND
trong những năm gần đây đã cho thấy những đóng góp quan trọng của
Thanh tra ngân hàng trong việc củng cố, duy trì và ổn định hệ thống TCTD
ở nước ta. Cũng thông qua hoạt động thanh tra, giám sát, Thanh tra Ngân
hàng đã góp phần chỉ ra những điểm chưa phù hợp cần đƣợc bổ sung, sửa
đổi hoặc ban hành mới cơ chế, chính sách của ngành ngân hàng để tạo hành
lang pháp lý cho các TCTD hoạt động an toàn,
hiệu quả, đồng thời nâng cao đƣợc ý thức trách nhiệm, tính tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của TCTD về kết quả hoạt động của chính bản thân TCTD.
Giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ bƣớc đầu có sự gắn kết giúp hoạt động
thanh tra của Thanh tra ngân hàng đối với các TCTD tại Việt Nam thời gian
qua đạt được những thành tựu nhất định. Thanh tra ngân hàng đã góp phần
đáng kể trong thực hiện tái cơ cấu và chấn chỉnh, củng cố hoạt động các
TCTD, bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng trong thời gian qua. Tuy nhiên,
phương pháp thanh tra tuân thủ vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập.
b) Hạn chế của phương pháp thanh tra tuân thủ
Một cách khái quát, có thể nhận thấy các hạn chế này được thể hiện trên
những khía cạnh chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, khả năng phát hiện, cảnh báo sớm, phòng ngừa, ngăn chặn rủi ro
trong hoạt động ngân hàng của Thanh tra ngân hàng thông qua phương pháp
thanh tra tuân thủ là yếu kém. Thanh tra ngân hàng hầu như chỉ có khả năng
phát hiện các vi phạm pháp luật và tập trung xử lý các vi phạm phát hiện
được, các rủi ro (biến cố) đã xẩy ra trong thực tế.
Thứ hai, phương pháp thanh tra tuân thủ ngày càng tỏ ra kém hiệu quả so
gian qua chủ yếu thực hiện theo phƣơng pháp thanh tra tuân thủ, nhƣng
Thanh tra ngân hàng đã sơ khởi thực hiện phương pháp thanh tra trên cơ sở
rủi ro, thể hiện ở các nội dung sau:
Thứ nhất, từ năm 2004 Thanh tra ngân hàng đã bắt đầu thực hiện các cuộc
thanh tra pháp nhân đối với các TCTD có quy mô hoạt động lớn, nhiều
chi nhánh trên địa bàn toàn quốc. Tại các cuộc thanh tra này, Thanh tra
ngân hàng bƣớc đầu tập trung đánh giá nội dung định tính về: quản trị, điều
hành, kiểm soát; kiểm tra, kiểm toán nội bộ của TCTD. Đây cũng chính là
các nội dung định tính mà Thanh tra ngân hàng phải đánh giá khi thực hiện
phương pháp thanh tra trên cơ sở rủi ro.
Thứ hai, Thanh tra ngân hàng đã bƣớc đầu có một số cảnh báo về mức độ
rủi ro trong hoạt động của TCTD, chẳng hạn năm 2005 cảnh báo về cho vay
đầu tư bất động sản; gần đây khuyến cáo hạn chế cho vay mua cổ phiếu chưa
được niêm yết, nếu cho vay phải có khả năng kiểm soát được rủi ro tín
dụng…
Thứ ba, hàng năm đã thực hiện xếp loại NHTM cổ phần, QTDND. Trên cơ
sở kết quả xếp loại NHTM cổ phần, QTDND, Thanh tra ngân hàng đã chủ
động đề xuất lên Thống đốc các biện pháp giám sát, thanh tra để chấn chỉnh
và củng cố cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn ở Việt Nam và thông lệ quốc
tế.
Thứ tư, Ngân hàng Nhà nước ban hành đƣợc một số văn bản quy phạm
pháp luật mà về cơ bản được coi là sát với thông lệ quốc tế, làm điều kiện
tiền đề cho Thanh tra ngân hàng thực hiện thanh tra trên cơ sở rủi ro.
Như vậy, mặc dù Thanh tra ngân hàng đã sơ khởi thực hiện phương pháp
thanh tra trên cơ sở rủi ro nhưng xét về phương diện pháp lý và so với thông
lệ tốt và chuẩn mực quốc tế thì có thể đánh giá rằng Thanh tra ngân hàng ở
Việt Nam thực chất chưa thực hiện phương pháp thanh tra trên cơ sở rủi ro.
5. Nguyên nhân của việc chậm thực hiện phương pháp thanh tra trên cơ
sở rủi ro
Có thể cho rằng việc chậm chuyển đổi từ mô hình thanh tra tuân thủ sang
nghệ, nghiệp vụ ngân hàng mới và phương pháp thanh tra, giám sát ngân
hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế (thanh tra trên cơ sở rủi ro).
Thứ bảy, hạ tầng cơ sở hỗ trợ cho hoạt động thanh tra, giám sát ngân
hàng hiệu quả (trong đó có việc thực hiện phương pháp thanh tra trên cơ sở
rủi ro) chưa được đảm bảo.
Thứ tám, nguyên nhân từ phía TCTD: năng lực quản trị, điều hành, đặc biệt
quản trị rủi ro của các TCTD nhìn chung còn nhiều hạn chế. Phương pháp
thanh tra trên cơ sở rủi ro yêu cầu phải có môi trƣờng quản lý rủi ro và các
kỹ năng, trình độ quản trị rủi ro của các TCTD đạt được ở mức nhất định.
Hiện nay, năng lực quản trị rủi ro của các TCTD tại Việt Nam nhìn chung
còn rất hạn chế.
Thứ chín, các nguyên nhân khác liên quan đến việc chưa đảm bảo thanh
tra giám sát ngân hàng hiệu quả:
- Việc phân công chức năng, nhiệm vụ giữa các Vụ, Cục của NHNN chƣa
đảm bảo cho
Thanh tra ngân hàng trở thành tổ chức có đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm
trong quá trình
thanh tra, giám sát các TCTD.
- Thiếu cơ chế trao đổi thông tin và phối hợp hành động hữu hiệu giữa
Thanh tra ngân
hàng với các cơ quan thanh tra giám sát tài chính trong nước.
Lộ trình
Trong phạm vi hẹp, thứ nhất đó là việc hoàn thiện cuốn “Sổ tay thanh tra trên cơ
sở rủi ro” (sổ tay). Cuốn sổ tay này sẽ chỉ dẫn cách thức vận dụng tốt nhất các
thông lệ quốc tế về kỹ năng thanh tra, giám sát TCTD vào thực tế Việt Nam. Phiên
bản một của cuốn sổ tay đã ra đời vào tháng 01 năm 2010 với các quy định chung
về thanh tra 7 loại rủi ro. Trong năm 2011, sẽ hoàn thành phiên bản hai của sổ tay
với các mô tả chi tiết cách thức thanh tra cụ thể cho từng hoạt động kinh doanh
ngân hàng.
Thứ hai là việc đổi mới hoạt động giám sát phân tích vì chỉ có như vậy mới có sản
có cuộc rà soát và kiểm điểm về tiến độ thực hiện để đề ra biện pháp triển khai tiếp
theo một cách hiệu quả nhất.
KẾT LUẬN
Cùng với quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế nói chung, trong lĩnh vực tài chính
– ngân hàng nói riêng, hệ thống các TCTD tại Việt Nam đang phát triển
nhanh về quy mô, phạm vi, mức độ phức tạp và đa dạng sản phẩm dịch vụ.
Đồng thời, hoạt động của TCTD cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, do vậy việc giữ cho hệ
thống này phát triển ổn định, bền vững thì yêu cầu tất yếu và không thể thiếu là
phải thường xuyên tăng cường công tác thanh tra, giám sát. Tuy nhiên, phương
pháp thanh tra tuân thủ ngày tỏ ra kém hiệu quả, đòi hỏi phải chuyển đổi sang
phương pháp thanh tra trên cơ sở rủi ro. Vì vậy, việc nghiên cứu để đưa ra cơ sở
pháp lý cho quá trình chuyển đổi phương pháp thanh tra từ thanh tra tuân thủ sang
thanh tra trên cơ sở rủi ro của cơ quan Thanh tra Ngân hàng Việt Nam đối với các
TCTD là rất cần thiết và là nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn hiện nay.