Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
1
Tiểu luận
QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG CÁC
NHTM VN DỰA VÀO CHỈ TIÊU “HỆ SỐ TIỀN NÓNG”
Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
2
MỞ ĐẦU
Thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản là yếu tố quyết định sự an
toàn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM . Trong tình hình thực tế hiện
nay, nhiều ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng thanh khoản căng thẳng,
nền kinh tế thế giới chưa qua khỏi cơn khủng hoảng, các NHTM phải cạnh tranh
khốc liệt về thu hút tiền gửi và tìm kiếm nguồn tài trợ khác. Khả năng thanh
khoản không hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng bất ổn về tài chính. Cùng với sự phát
triển của thị trường tài chính, cơ hội và rủi ro trong thanh khoản của các NHTM
cũng gia tăng tương ứng. Do đó quản trị thanh khoản là vấn đề mà các NHTM
rất quan tâm.
Luật Ngân hàng Nhà nước (2003) Định nghĩa: “Thị trường tiền tệ là thị
trường vốn ngắn hạn, nơi mua, bán ngắn hạn các giấy tờ có giá, bao gồm tín
phiếu kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, chứng chỉ tiền gửi và các giấy
tờ có giá khác”.
2. Các loại thị trường tiền tệ:
Thị trường tiền tệ được phân loại căn cứ vào cách thức tổ chức hoặc loại
công cụ.
2.1. Phân loại theo cơ cấu tổ chức:
Thị trường tiền tệ bao gồm:
Thị trường tiền tệ cổ Điển: là thị trường vay vốn ngắn hạn giữa các tổ
chức tín dụng (TCTD) Đặt dưới sự quản lý của ngân hàng trung ương
(NHTW). Hàng ngày, tại đây hình thành lãi suất chỉ đạo thị trường tiền tệ,
như: lãi suất LIBOR trên thị trường tiền tệ London (London Inter Banking
Offered rate), lãi suất PIBOR trên thị trường tiền tệ Paris (Paris Inter Banking
Offered rate), SIBOR (thị trường tiền tệ Singapore)…
Thị trường tiền tệ mới: Đây là thị trường các trái phiếu ngắn hạn, cơ cấu
của nó gồm 2 cấp:
Thị trường tiền tệ sơ cấp: là thị trường tiền tệ chuyên phát hành các loại
trái phiếu ngắn hạn lần đầu.
Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
4
Thị trường tiền tệ thứ cấp: là thị trường tiền tệ tổ chức mua bán lại các
trái phiếu đã phát hành ở thị trường sơ cấp.
Thị trường mở (Openmarket operation): là thị trường mua bán các loại
chứng khoán nhà nước ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính
phủ, nhằm điều tiết cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế. Tức thông qua thị
trường mở, NHTW có thể làm cho “tiền dự trữ” của các ngân hàng thương
mại (viết tắt NHTM) tăng lên hoặc giảm xuống, từ đó tác động đến khả năng
toán cho các TCTD. Vì vậy, nếu xét theo chiều ngang, thị trường tiền tệ biểu
hiện quan hệ điều tiết vốn giữa các NHTM, các TCTD. Còn nếu xét theo
chiều dọc, thị trường tiền tệ biểu hiện mối quan hệ giữa NHTW và NHTM
qua con đường tái chiết khấu, trong đó lãi suất tái chiết khấu là một công cụ
linh hoạt để NHTW điều tiết vĩ mô nền kinh tế trong quá trình thực thi chính
sách tiền tệ.
Ngày nay, quy mô họat động của thị trường tiền tệ được mở rộng về phạm
vi điều tiết vốn, theo đó các chủ thể tham gia trên thị trường đa dạng hơn.
Các chủ thể tham gia trên thị trường tiền tệ bao gồm:
Chủ thể cung ứng nguồn vốn như: NHTW, NHTM, các TCTD khác…
Việc Đầu tư nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường này có độ rủi ro thấp, do
trong thời gian ngắn giá cả chứng khoán biến động không đáng kể.
Chủ thể có nhu cầu về vốn như: NHTM, các đơn vị kinh tế khác, kho bạc
nhà nước Thông qua thị trường tiền tệ, các chủ thể này có thể thu hút được
nguồn vốn ngắn hạn dễ dàng và chi phí thấp.
Chủ thể trung gian môi giới, vừa đi vay và vừa cho vay như: NHTM,
Công ty chuyên môi giới.
4. Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ:
4.1. Nghiệp vụ vay và cho vay vốn ngắn hạn:
Nghiệp vụ này diễn ra chủ yếu giữa các NHTM, xuất phát từ họat động
kinh doanh tiền tệ, tại một thời điểm nhất định một số NHTM tạm thời thừa
vốn trong khi đó một số NHTM khác rơi vào tình trạng thiếu vốn tạm thời.
Do đó để đảm bảo cho khả năng thanh toán, quan hệ điều tiết vốn giữa các
NHTM diễn ra thông qua các hình thức sau:
Cho vay bằng tiền mặt: Khi NHTM thiếu hụt vốn tạm thời, có thể đi vay
tại một NHTM khác đang thừa vốn tạm thời tại thời điểm đó để đảm bảo khả
năng thanh toán. Giao dịch liên ngân hàng chủ yếu dưới hình thức tín chấp
hoặc đảm bảo bằng số dư tiền gửi đối ứng tại ngân hàng cho vay…; Thời hạn
cho vay rất ngắn: hàng ngày (qua Đêm), Định kỳ 1 tuần, 2 tuần, tháng…
Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
loại: mua bán giấy tờ có giá dài hạn và mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn. Ở
Mỹ, nghiệp vụ thị trường mở chủ yếu được thực hiện đối với trái phiếu chính
phủ dài hạn. Ở Việt nam, theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam, nghiệp
vụ thị trường mở chỉ là việc mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn như tín phiếu
kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có
giá ngắn hạn khác
.
Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
7
II. MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ TẠI VIỆT NAM
1.PHƯƠNG THỨC GIAO DỊCH:
Trên thị trường tín dụng: nghiệp vụ hoat động vốn thể hiện qua các hoạt
động bên tài sản nợ tạo nên nguồn vốn của các ngân hàng mà chủ yếu là các
loại tiền gửi. Bên cạnh nguồn vốn tiền gửi, các ngân hàng còn xúc tiến phát
hành 1 số giấy tờ có gía như các loại kỳ phiếu nội tệ và ngoại tệ. Đây là công
cụ có lãi suất cao hơn lãi suất tiết kiệm và được phép chuyển nhượng, vì vậy
tạo sự linh hoạt cho công cụ và tăng tính hấp dẫn đối với khách hàng. Bên phía
sử dụng vốn, hay còn gọi là các nghiệp vụ bên tài sản có bao gồm các hoạt
động “đầu ra” của ngân hàng thương mại, nhưng chủ yếu là nghiệp vụ cho vay
đem lại hơn 90% thu nhập cho các ngân hàng.
Trên thị trường liên ngân hàng: hoạt động của thị trường diễn ra theo hình
thức các ngân hàng trực tiếp vay mượn lẫn nhau không thực hiện thông qua
NHNN. Các Ngân hàng thỏa thuận phương thức giao dịch, thời hạn, lãi suất
cũng như điều kiện bảo đảm tiền vay dựa trên mức độ tín nhiệm và có sự tham
gia tích cực của NHTM cổ phần, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài. Đến nay, phần lớn các giao dịch liên ngân hàng được thực hiện
Trên thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn: tín phiếu kho bạc có các loại kì
hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng do kho bạc phát hành thông qua ngân
hàng làm đại lý đã được đưa ra đấu giá công khai. Lãi suất áp dụng tùy thuộc
kết quả từng đợt phát hành. Hình thức phát hành có thể là tín phiếu loại ghi sổ,
các chứng chỉ vô danh hoặc các chứng chỉ đích danh. Phương thức phát hành
là chiết khấu, tức bán thấp hơn mệnh giá và thanh toán theo mệnh giá khi đến
hạn.
Hiện nay, Việt nam theo Đuổi mô hình thị trường tiền tệ mới- thị trường của
các CTCG ngắn hạn
2. TÌNH HÌNH GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VIỆT
NAM
2.1. Thị trường các giao dịch của NHNN
NHNN tham gia giao dịch với các TCTD thông qua các nghiệp vụ cơ bản
sau:
Bảng 1. Các nghiệp vụ TTTT Việt Nam
Số
TT
Tên
nghiệp vụ
Năm
thực
hiện
Mục Đích
Đặc
Điểm về
hành CSTT.Do thị
trường
quyết
định.
Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
9
2
Nghiệp vụ
đấu thầu
TPCP
6/1994NHNN làm Đại lý cho Bộ
Tài chính trong việc phát
hành và thanh toán trái
phiếu (tín phiếu Kho bạc và
trái phiếu ngoại tệ) theo
Để khắc phục tình tr
ạng các
TCTD g
ặp khó khăn về vốn
khả dụng bằng nội tệ trong
khi nguồn vốn ngoại tệ dư
thừa.
TCTD
Đề xuất khi
có nhu cầu.
Do
NHNN
ấn
Định.
4
Nghiệp vụ
thấu chi và
cho vay qua
đêm 10/2002
Bù Đắp thiếu hụt tạm thời
trong ngày trong thanh toá
n
nhu cầu.
Do NHNN
ấn định Dưới Đây là 1 số nghiệp vụ thị trường cơ bản:
a. Nghiệp vụ thị trường mở
- Thành viên tham gia OMO
Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
10
OMO bắt đầu hoạt động vào tháng 7/2000, ban đầu có 21 TCTD tham
gia. Số lượng thành viên OMO tăng dần qua các năm, nhưng với tốc độ chậm,
chỉ 1-2 thành viên mỗi năm. Đến ngày 31/12/2005 ã có 30 TCTD được công
nhận là thành viên tham gia OMO, năm 2006 và 2007, con số này tăng lên và
duy trì ở mức 35 thành viên. Năm 2008, số lượng thành viên tham gia OMO là
56 thành viên, tăng thêm 21 thành viên và tăng 27,3% so với năm 2007, đến
31/3/2009 đã có 58 thành viên. Lí do có việc tăng mạnh như vậy là các TCTD
đã nhận thức đầy đủ hơn về tầm quan trọng của kênh cung ứng vốn thông qua
OMO của NHNN trong điều kiện CSTT được điều hành thắt chặt trong nửa
đầu năm 2008.
- Số lượng các phiên giao dịch trên thị trường mở
Từ khi bắt đầu triển khai nghiệp vụ này, tần suất các phiên giao dịch trên
OMO được tổ chức 10 ngày/phiên và ngày giao dịch được tính theo ngày làm
việc.Tuy nhiên, từ phiên thứ 14 ngày 29/11/2000, nghiệp vụ này được rút ngắn
còn 1 tuần/phiên vào thứ 4 hàng tuần. Từ năm 2001, Ban Điều hành OMO đã
tăng định kỳ tổ chức các phiên giao dịch 2 phiên/1 tuần và từ tháng 11/2004,
giao dịch trên thị trường mở đã được thực hiện định kỳ 3 phiên/tuần. Trong
năm 2005, NHNN đã tổ chức được 159 phiên thị trường mở, tăng 36 phiên và
Tần
su
ất giao
dịch b
ình Tổng số
Mua
Bán
Doanh
số
bình
quân/phiên
G
iao
ngay
Kỳ hạn
Giao
ngay
Kỳ hạn
2000
1
2002
9.146
0
7.246
1.900
0
108
1 tu
ần/2
2003
21.184
0
9.844
11.340
0
649
1 tu
ần/3
2006
125.935
0
36.833
89.102
0
777
1 tu
ần/3
2007
415.861
0
59.011
356.85
0
52.491
0
0
860
tu
ần/5
-
12
T
ổng
1.849.049
540
1.278.4
538.38
1.700
Nguồn: NHNN (số liệu Đến 31/3/2009).
Qua số liệu Bảng 2 cho thấy, từ năm 2000 đến 2004, doanh số trúng thầu
hàng năm bình quân tăng trưởng gấp khoảng 3 lần so với năm trước. Riêng
5%/năm từ đầu năm, đến đầu tháng 12/2006 có thời điểm xuống còn 0,8-
0,95%/năm.
Sang năm 2007, đứng trước những dấu hiệu gia tăng của tỷ lệ lạm phát,
NHNN Đã thực hiện phiên bán hẳn với khối lượng giao dịch lớn. Trên OMO,
diễn biến lãi suất đã có sự biến động tăng mạnh so với những năm trước đó.
Lãi suất trúng thầu bình quân trong các phiên chào bán là 4,35%/năm.
Năm 2008, do thiếu vốn, các TCTD đã tham gia OMO với mức lãi suất
đặt thầu rất cao, cá biệt, trong một số phiên giao dịch mua kỳ hạn với thời hạn
07 ngày, lãi suất đăng ký đã lên tới khoảng 40%/năm và lãi suất trúng thầu
khoảng 30%/năm. Trước tình hình như vậy, NHNN Đã áp dụng đấu thầu khối
lượng, lãi suất thống nhất được sử dụng trong tuần đầu tiên là 15% nhằm tạo
định hướng cho thị trường, trong các tuần tiếp theo lãi suất được điều chỉnh
giảm xuống 14%, 13%, 10% và 9% cho phù hợp với lãi suất cơ bản do NHNN
công bố.
b. Nghiệp vụ Đấu thầu trái phiếu Chính phủ (TPCP)
Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
13
+ Trong giai đoạn năm từ 1995 Đến 2000: Nghiệp vụ phát hành TPCP
qua NHNN đã được hình thành và đi vào ổn định với số lượng phiên giao dịch
khoảng 40 phiên một năm, cao nhất là năm 1998 với 46 phiên, khối lượng
trúng thầu đạt 4.020,7 tỷ Đồng. Tổng số tiền Kho bạc Nhà nước huy động
được để bù đắp thiếu hụt tạm thời cho Ngân sách Nhà nước đạt 15.457,8 tỷ
Đồng.
+ Trong 5 năm từ 2001 đến 2005, nghiệp vụ phát hành TPCP qua NHNN
không ngừng phát triển và đạt được kết quả rất khả quan với khối lượng phát
hành không ngừng tăng (năm 2002 tăng 215%; năm 2003 tăng 189%… và
trong năm 2005 tăng 14% so với năm 2004). Số lượng phiên giao dịch cũng
tăng dần và đạt đỉnh vào năm 2005 với 60 phiên. Tính từ năm 2001 đến hết
suất huy động, cho vay trên thị trường 1 và phản ánh sát thực hơn cung cầu
thanh khoản trên thị trường cũng như chuyển tải phần nào tín hiệu về chính
sách của NHNN đến thị trường. Những số liệu thống kê về thị trường đã cho
thấy, kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997-1998, lãi
suất cho vay, gửi tiền VNĐ bình quân trên TTTT liên ngân hàng Việt Nam tại
hầu hết các kỳ hạn đều tương đối ổn định, đặc biệt là giai đoạn 2005 đến cuối
năm 2007. Trong khoảng thời gian này, lãi suất bình quân VNĐ trên TTTT
liên ngân hàng chỉ ở mức 6- 8%/năm và biên độ dao động hàng ngày chỉ ở
mức thấp.
Từ Đầu năm 2008 đến khoảng tháng 9/2008, lãi suất bình quân trên thị
trường liên ngân hàng ở tất cả các kỳ hạn có sự biến động tăng đột biến và
đứng ở mức cao, bình quân gần 18%/năm; cá biệt vào thời Điểm căng thẳng
thanh khoản lên Đến Đỉnh Điểm, có TCTD phải chấp nhận giao dịch VNĐ tại
kỳ hạn qua đêm với mức lãi suất lên đến 43%/năm. Để đối phó với tình trạng
căng thẳng về vốn và ổn định TTTT, NHNN đã đẩy mạnh các giải pháp điều
hành chính sách như liên tục điều chỉnh lãi suất và mức dự trữ bắt buộc, điều
chỉnh giảm các loại lãi suất, đẩy mạnh hoạt động cung ứng vốn thông qua
nghiệp vụ tái cấp vốn, OMO, Swaps ngoại tệ, cho phép thanh toán trước hạn
tín phiếu bắt buộc Do vậy, từ tháng 9/2008 đến những tháng đầu năm 2009,
lãi suất các kỳ hạn trên TTTT liên ngân hàng đã giảm mạnh dưới tác động
chính sách của NHNN và dần đi vào ổn định.
Theo thống kê của NHNN, Đến cuối tháng 6/2009, lãi suất huy động
USD tối đa là 1,5%/năm, cho vay là 3%- 5%/năm (giảm 2%- 3%/năm với
cùng kỳ năm 2008); lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn của NHNN là
7%/năm. Mặt bằng lãi suất từ tháng 4 đến nay đã trở về thời kỳ ổn dịnh.
Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
15
Lãi suất trúng thầu là 7,49%, thấp hơn lãi suất trúng thầu của năm 2008
-
1997
37
2.917,5
-
1998
46
4.020,7
-
1999
45
3.011,6
-
2000
43
48
19.465,0
5,76
2005
60
21.671,0
5,76
2006
51
58.391,0
3,34
2007
43
10.770,0
4,80
bản thể chế đối với hoạt động TTTT, từng bước tiến gần hơn tới thông lệ quốc
tế.
Doanh số giao dịch trên TTTT liên ngân hàng:
Từ khi hình thành TTTT Đến nay, doanh số giao dịch trên TTTT Việt
Nam nhìn chung có sự tăng trưởng mạnh theo từng năm, đặc biệt là trong
khoảng 10 năm trở lại đây.
Chỉ tính riêng từ năm 2005 đến nay, doanh số giao dịch cho vay, gửi tiền
Đều duy trì ở mức cao, phù hợp với khả năng cung ứng ngân quỹ của các
TCTD dư thừa và nhu cầu bù đắp thiếu hụt thanh khoản của các TCTD còn
thiếu trên thị trường. Bảng 4 cho thấy, tháng 12/2005 doanh số cho vay trên thị
trường liên ngân hàng là 3.114,982 triệu Đồng và 1.097,279 ngàn USD; doanh
số tiền gửi VNĐ là 52.016,579 triệu đồng và 5.412,309 ngàn USD.
Tuy nhiên, vào thời điểm cuối năm 2007 và đầu năm 2008, trước những
dấu hiệu ngày càng nghiêm trọng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, giá dầu,
giá vàng và các loại nguyên vật liệu tăng ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, lãi
suất huy động từ dân cư tăng cao, NHNN đã thực hiện CSTT thắt chặt nhằm
đối phó với lạm phát cao khiến cho lượng tiền cung ứng giảm. Sự điều chỉnh
liên tục trong CSTT của NHNN (Điều chỉnh tăng lãi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng
cường bán GTCG trên OMO, yêu cầu các TCTD thực hiện mua tín phiếu bắt
buộc ) đã khiến cho nhu cầu vốn của các TCTD trở nên vô cùng cấp bách.
Thời điểm này lãi suất trên TTTT tăng rất cao và vì vậy, doanh số cho vay, gửi
tiền trên TTTT cũng có sự gia tăng đột biến, có thời điểm doanh số gửi tiền
VNĐ trên TTTT liên ngân hàng đã lên đến gần 300.000 tỷ VNĐ (gần bằng ½
tổng mức đầu tư tín dụng của toàn nền kinh tế).
Tại thời điểm 30/6/2008 doanh số cho vay và tiền gửi bằng VNđ đã tăng
lên 8.184,298 và 190.322,905 triệu đồng. Doanh số cho vay và gửi tiền bằng
USD là 67.800,000 và 74.515,960 ngàn USD; có thể nói đây là thời kỳ giao
dịch có doanh số cao nhất tính từ năm 2005- 2008. Từ quý VI/2008 đến những
tháng đầu năm 2009, khó khăn về vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng về cơ
5.666,996
10,806
173.040,654
1.122,36
Tháng
3.607,946
126,474
54.270,735
9.581,
73
Tháng
2.226,001
865,113
36.168,561
5.873,41
Tháng
3.114,982
1.097,279
52.016,579
50,202
101.414,707
5.802,17
Tháng
4.708,105
75,346
160.785,478
3.938,40
Tháng
5.315,113
95,652
182.096,691
7.014,13
Tháng
4.141,573
92,851
157.073,562
9.748,16
Tháng
4.208,455
37.100,00
129.085,297
15.061,2
Tháng
13.825,80
170.213,5
239.478,368
10.520,5
Nguồn: NHNN (số liệu Đến 31/3/2009)
Cùng với sự phát triển của thị trường liên ngân hàng, lãi suất trên TTTT
liên ngân hàng ngày càng có quan hệ chặt chẽ với lãi suất huy động, cho vay
trên thị trường 1 và phản ánh sát thực hơn cung cầu thanh khoản trên thị
trường cũng như chuyển tải phần nào tín hiệu về chính sách của NHNN đến thị
trường. Những số liệu thống kê về thị trường đã cho thấy, kể từ sau cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997-1998, lãi suất cho vay, gửi
tiền VNđ bình quân trên TTTT liên ngân hàng Việt Nam tại hầu hết các kỳ hạn
đều tương đối ổn định, đặc biệt là giai đoạn 2005 đến cuối năm 2007. Trong
khoảng thời gian này, lãi suất bình quân VNđ trên TTTT liên ngân hàng chỉ ở
mức 6- 8%/năm và biên độ dao động hàng ngày chỉ ở mức thấp.
Từ đầu năm 2008 đến khoảng tháng 9/2008, lãi suất bình quân trên thị
trường liên ngân hàng ở tất cả các kỳ hạn có sự biến động tăng đột biến và
Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
18
Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
19
PHẦN II
PHÂN TÍCH VÀ QUY LUẬT VẬN ĐỘNG CỦA
CHỈ TIÊU : HỆ SỐ TIỀN NÓNG
I - THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG THANH KHOẢN VÀ
RỦI RO THANH KHOẢN TRONG CÁC NHTMVN
1. Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản:
Tính thanh khoản của ngân hàng thương mại được xem như khả
năng tức thời (the short-run ability) để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải
ngân các khoản tín dụng đã cam kết. Như vậy, rủi ro thanh khoản là loại rủi
ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho
nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao. Nói
cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả
năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không
thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.
2. Nguyên nhân của rủi ro thanh khoản
Thanh khoản có vấn đề của một ngân hàng có thể do các nguyên nhân
cơ bản sau đây:
Một là, ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn
từ các cá nhân và định chế tài chính khác; sau đó chuyển hoá chúng thành
những tài sản đầu tư dài hạn. Cho nên, đã xãy ra tình trạng mất cân đối về
kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, mà thường gặp là dòng tiền thu về
+Tiền gửi tại NHTW và tại các ngân hàng khác
+Các khoản tiền đang chuyển
Nhu cầu thường nhật của một ngân hàng:
+Tiền cho các nhu cầu giao dịch của khách hàng (nhu cầu chi trả
tiền gửi và giải ngân cho các khoản tín dụng)
+Nhu cầu dự trữ bắt buộc
+Nhu cầu thanh toán bù trừ
+Nhu cầu mua, thanh toán tiền dịch vụ từ các ngân hàng khác
- Dự trữ thứ cấp: không phải nằm dưới dạng ngân quỹ nhưng chúng thường
là những tài sản có tính linh hoạt cao, có thể nhanh chóng chuyển đổi thành
ngân quỹ với chi phí thấp.
Các tài sản thường dùng làm dự trữ thứ cấp:
+Trái phiếu chính phủ
+Trái phiếu kho bạc
+Tín phiếu ngân hàng, …
4. Đo lường rủi ro thanh khoản
Cung và cầu thanh khoản -Trạng thái thanh khoản ròng – NLP
Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
21
+ Cung về thanh khoản: là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân
hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm:
- Các khoản tiền gửi đang đến.
- Doanh thu từ việc bán các dịch vụ phi tiền gửi.
- Thu hồi các khoản tín dụng đã cấp.
thanh khoản trong tương lai.
- Thâm hụt thanh khoản: Khi cầu thanh khoản lớn hơn cung
thanh khoản (NPL<0), ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thâm hụt thanh
khoản. Nhà quản trị phải xem xét, quyết định nguồn tài trợ thanh khoản lấy
Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
22
từ đâu, bao giờ thì có và chi phí bao nhiêu.
- Cân bằng thanh khoản: Khi cung thanh khoản cân bằng với cầu
thanh khoản (NPL=0), tình trạng này được gọi là cân bằng thanh khoản. Tuy
nhiên, đây là tình trạng rất khó xãy ra trên thực tế.
Các chỉ tiêu quản trị thanh khoản :
+ Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ: được tính dựa vào tỉ lệ giữa “Ngân quỹ và
tiền gửi tại các ngân hàng” với “ Tổng tài sản”.
+ Chỉ tiêu chứng khoán thanh khoản: được tính dựa vào tỉ lệ giữa “Chứng
khoán chính phủ” với “ Tổng tài sản”.
+ Hệ số tiền nóng : được tính dựa vào tỉ lệ giữa “Tài sản thị trường tiền
tệ” với “Nợ trên thị trường tiền tệ”.
+ Hệ số thành phần tiền gửi: được tính dựa vào tỉ lệ giữa “Tiền gửi giao
dịch” với “Tiền gửi định kỳ”.
II - QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN DỰA VÀO CHỈ
TIÊU HỆ SỐ TIỀN NÓNG
1. Công thức xác định : Hệ số tiền nóng: = Tài sản thị trường tiền tệ /
Nợ trên thị trường tiền tệ
2. Tài sản của ngân hàng trên thị trường tiền tệ
a. Khái niệm: tài sản của ngân hàng trên thị trường tiền tệ là tất cả các
khoản tín dụng dưới 1 năm (cho vay) và các công cụ tài chính ngắn hạn mà ngân
hàng được phép giao dịch ,mua bán
đủ lớn dưới hình thức nắm giữ những tài sản có tính thanh khoản cao, chủ yếu
tiền mặt và chứng khoán ngắn hạn. Khi xuất hiện nhu cầu thanh khoản, ngân
hàng sẽ bán lần lược các tài sản dự trữ cho đến khi nhu cầu thanh khoản được
đáp ứng. Chiến lược quản trị thanh khoản theo hướng này thường được gọi là sự
chuyển hóa tài sản, bởi lẻ nguồn cung thanh toán được tài trợ bằng cách chuyển
đổi tài sản phi tiền mặt thành tiền mặt.
3. Nợ của Ngân hàng trên thị trường tiền tệ.
a.Khái niệm: nợ trên thị trường tiện tệ của ngân hàng là các khoản vay
ngắn hạn liên ngân hàng dưới sự điều hành của ngân hàng nhà nước và nghiệp
vụ phát hành các công cụ tài chính được chấp nhận và giám sát của ngân hàng
nhà nước và nghiệp vụ huy động vốn ngắn hạn từ các tổ chức và dân cư
Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
24
b. Phân loại nợ trên thị trường tiền tệ và chiến lược quản trị thanh
khoản “Nợ”:
Nợ của ngân hàng trên thị trường tiền tệ bao gồm:
Vay vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu phát sinh có thời hạn giao
dịch dưới 1 năm
Vay vốn liên ngân hàng
Vay vốn từ ngân hàng nhà nước
Huy động vốn từ các tổ chức và dân cư
Bán các hợp đồng mua lại
Các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng mệnh giá lớn
Chiến lược quản trị thanh khoản dựa vào tài sản nợ thì nhu cầu thanh khoản
được đáp ứng bằng cách vay mượn trên thị trường tiền tệ. Việc vay mượn chủ
yếu là để đáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời và chỉ thực hiện khi có nhu cầu
thanh khoản phát sinh.
Nhược điểm của chiến lược này là ngân hàng bị phụ thuộc vào thị trường tiền
III
.
Ti
ền, v
àng g
ửi tại các TCTD khác v
à cho vay các
TCTD khác
9,137,019 7,047,584
1. Tiền, vàng gửi tại các TCTD khác
9,107,259 7,016,726
2. Cho vay các TCTD khác
29,949 31,042
IV. Chứng khóan kinh doanh
1,374,964 370,106
V
.
Các công c
ụ t
ài chính phái sinh và các tài s
ản t
ài
chính khác
0 6,928
VI. Cho vay khách hàng
40,484,695 34,757,119
VII. Chứng khóan đầu tư
9,323,640 8,969,574
.
V
ốn t
ài tr
ợ ủy thác đầu t
ư, cho vay TCTD ch
ịu rủi
ro
1,028,029
1,014,462
VI. Phát hành giấy tờ có giá
5,923,924 7,659,063
VII. Các khỏan nợ khác
2,208,403 1,337,084
TỔNG NỢ TRÊN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ :
67,323,128
60,679,944 PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG