Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn các chức danh trong hệ thống bảo hiểm xã hội việt nam - Pdf 13

B¶o hiÓm x∙ héi viÖt nam B¸o c¸o tæng kÕt ®Ò tµi cÊp bé

Nghiªn cøu x©y dùng tiªu chuÈn
c¸c chøc danh trong hÖ thèng
bhxh viÖt nam Chñ nhiÖm ®Ò tµi: nguyÔn kim th¸i
7143
20/02/2009 Hµ néi - 2007

nghiệp vụ các ngạch công chức của BHXH Việt Nam.
31
2.2. Nguyên tắc xây dựng tiêu chuẩn chức danh công chức.
33
2.3. Xây dựng chức danh:
37

Danh mục các chức danh – Mã số
40

1.Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành Bảo hiểm xã hội 44
Cán sự BHXH
Chuyên viên BHXH
Chuyên viên chính BHXH
Chuyên viên cao cấp BHXH
44
45
47
49

2. Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức kế hoạch và đầu tư tài chính 51

Chuyên viên Kế hoạch và đầu tư tài chính
Chuyên viên chính Kế hoạch và đầu tư tài chính
Chuyên viên cao cấp Kế hoạch và đầu tư tài chính
51
52
54

2

75
Cán sự quản lý thu BHXH
Chuyên viên quản lý thu BHXH
Chuyên viên chính quản lý thu BHXH
Chuyên viên cao cấp quản lý thu BHXH
75
76
77
78
7. Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức quản lý sổ, thẻ
80
Cán sự quản lý sổ, thẻ
Chuyên viên quản lý sổ, thẻ
Chuyên viên chính quản lý sổ, thẻ
80
81
82
8. Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức giám định y tế 84
Cán sự giám định y tế
Chuyên viên giám định bảo hiểm y tế
Chuyên viên chính giám định bảo hiểm y tế
Chuyên viên cao cấp giám định bảo hiểm y tế
84
85
86
88
9. Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức tổ chức cán bộ
90
Chuyên viên tổ chức cán bộ
Chuyên viên chính tổ chức cán bộ

Thư vi
ện viên trung cấp
Thư viện viên
108
108
14. Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức hành chính
110
Nhân viên quản trị tài sản
Cán sự quản trị tài sản
Chuyên viên quản trị tài sản
Nhân viên lái xe
Nhân viên tạp vụ
Nhân viên bảo vệ
110
111
112
113
114
115
15. Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức tuyên truyên
116
Tuyên truyền viên BHXH
Tuyên truyền viên chính BHXH
116
117
16. Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức lĩnh vực kiểm tra
119
Kiểm tra viên
Kiểm tra viên chính
Kiểm tra viên cao cấp

Chuyên viên cao cấp quản lý khoa học
135
136
137
20. Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức lưu trữ
140
Cán sự lưu trữ BHXH
Chuyên viên lưu trữ BHXH
Chuyên viên chính lưu trữ BHXH
140
141
143
21. Tiêu chuẩn nghi
ệp vụ các ngạch công chức quản lý đào tạo, bồi dưỡng
145
Chuyên viên quản lý đào tạo BHXH
Chuyên viên chính quản lý đào tạo BHXH
Chuyên viên cao cấp quản lý đào tạo BHXH
145
146
148
22. Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức công nghệ thông tin
150
Kỹ thuật viên CNTT
Kỹ sư CNTT.
Kỹ sư chính CNTT.
150
151
152


rộng đối tợng tham gia bảo hiểm xã hội đến ngời lao động trong các doanh nghiệp,
cơ quan, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế. Hình thành quĩ bảo hiểm xã hội tập
trung, thống nhất, độc lập với ngân sách, đồng thời là nguồn dự trữ tài chính quốc
gia, sử dụng cho đầu t tăng trởng góp phần phát triển kinh tế đất nớc. Hệ thống
bảo hiểm xã hội đợc tổ chức theo ngành dọc từ trung ơng đến cấp huyện ở tất cả
các tỉnh và thành phố trong toàn quốc. Đội ngũ cán bộ, công chức không ngừng lớn
mạnh, chất lợng cán bộ đợc nâng lên đủ sức đáp ứng đợc yêu cầu nhiệm vụ đặt ra
cho từng giai đoạn.
Thời kỳ phát triển mới của đất nớc đã đặt ra cho ngành bảo hiểm xã hội
những trọng trách trong việc thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội cho mọi đối
tợng tham gia. Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định mục tiêu
chiến lợc của ngành trong thời gian tới là: Từng bớc mở rộng vững chắc hệ thống
bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân. Để thực hiện mục
tiêu chiến lợc này, đòi hỏi ngành bảo hiểm xã hội phải có các giải pháp phù hợp
trên nhiều phơng diện để tổ chức thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả, trong đó có công
tác tổ chức cán bộ. Đó là: Cần xây dựng đợc đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ,
đợc đào tạo, bồi dỡng chuyên sâu về nghiệp vụ liên quan trực tiếp đến công tác
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Đồng thời phải chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức
ở từng cấp, từng vị trí; hoàn chỉnh các qui định về ngạch bậc, tiêu chuẩn nghiệp vụ và

6
chức danh cán bộ làm cơ sở cho việc tuyển dụng, sử dụng, đề bạt, luân chuyển cán
bộ, tạo động lực để khuyến khích cán bộ, công chức; đồng thời đề cao trách nhiệm,
nâng cao năng lực công tác của cán bộ gắn với chính sách tiền lơng và chế độ đãi
ngộ đối với công chức.
Xây dựng và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức của ngành bảo
hiểm xã hội cũng là một nội dung trong tâm trong 4 nội dung của Chơng trình tổng
thể Cải cách hành chính giai đoạn 2005-2010, đó là: Cải cách thể chế; xây dựng và
hoàn thiện tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị; nâng cao năng lực
đội ngũ cán bộ, công chức của ngành; cải cách tài chính công Vì vậy, việc nghiên

5. Nội dung nghiên cứu:
Ngoài phần Lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề
án đợc chia thành 02 phần chính nh sau:
Phần 1: Đánh giá hệ thống tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức thuộc
hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam trong việc thực hiện các nhiệm vụ đợc giao.
Phần 2: Xây dựng chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức của
ngành Bảo hiểm xã hội.

8
PhÇn 1

§¸nh gi¸ hÖ thèng tæ chøc bé m¸y, ®éi ngò c¸n bé,
c«ng chøc thuéc hÖ thèng BHXH ViÖt Nam trong viÖc
thùc hiÖn c¸c nhiÖm vô ®−îc giao.


Công đoàn Việt Nam quy định.

Vào giữa những năm thập niên 80, chính sách BHXH đã có nhiều thay đổi,
đặc biệt là chế độ nghỉ hưu sớm của công nhân, viên chức Nhà nước. Các chế độ
BHXH lúc này do nhiều cơ quan quản lý, quỹ BHXH bị phân tán, không còn tập
trung như giai đoạn trước. Tổng Công đoàn Việt Nam quản lý khoản trích 3,7% để
thực hiện các chế độ BHXH ngắn hạn: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghi
ệp. Bộ Nội vụ (sau giao cho Bộ Lao động - thương binh và xã hội) quản lý
khoản trích 1% để thực hiện các chế độ BHXH dài hạn: hưu trí, mất sức lao động, tử
tuất. Bộ Tài chính vừa thu BHXH vừa cấp phát kinh phí từ ngân sách cho Bộ Lao
động - thương binh và xã hội để chi trả các chế độ trợ cấp BHXH. Mức trích này
được thay đổi qua từng giai đoạn. Đến năm 1993 mức trích này được điều chỉ
nh từ
4,7% tăng lên 20 % tổng quỹ tiền lương (Nghị định 43/CP ngày 22/6/1993). Hệ
thống tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH giai đoạn này do hệ thống lao
động - thương binh - xã hội và Liên đoàn Lao động thực hiện.
Sau Đại hội VI của Đảng, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế
từng bước chuyển sang vận hành theo cơ chế thị tr
ường, định hướng XHCN, có sự
quản lý của Nhà nước. Trong bối cảnh đó, quan hệ lao động theo cơ chế mới cũng
từng bước được hình thành, do yêu cầu khách quan đòi hỏi phải có những cải cách
về chính sách xã hội, trong đó có chính sách BHXH. Để khắc phục những hạn chế
của chính sách BHXH trước đây, xây dựng một chính sách BHXH phù hợp với sự
đổi mới của nền kinh tế theo cơ chế
thị trường định hướng XHCN, đáp ứng nguyện
vọng của đông đảo người lao động, người sử dụng lao động, phù hợp với điều kiện
kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập với xu thế phát triển
BHXH của các quốc gia trên thế giới, Nghị quyết Đại hội VII của Đảng đã chỉ rõ:


- Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) là
BHXH huyện.

1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển hệ thống Bảo hiểm y tế Việt Nam:
Trong những năm đầu của thập kỷ 60, việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân
và cán bộ, công nhân viên chức do các bệnh viện, bệnh xá, trạm xá và trung tâm y tế
từ Trung ương đến địa phương thực hiện theo phương thức khám chữa bệnh không
mất tiền. Cho đến thời kỳ đầu của những năm 80, các cơ sở khám chữa bệnh lâm vào

11
tình trạng thiếu kinh phí hoạt động, xuống cấp nhiều, trong khi đó chi phí khám chữa
bệnh ngày càng tăng do áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại trong
chẩn đoán và điều trị. Thực hiện chủ trương đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại
hội VI của Đảng trong lĩnh vực y tế theo phương châm “nhà nước và nhân dân cùng
làm” ngày 24/04/1989 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính ph
ủ) đã ban hành Quyết
định số 45/HĐBT cho phép các cơ sở khám chữa bệnh thu một phần viện phí để bổ
sung nguồn kinh phí, giảm bớt sức ép cho các cơ sở khám chữa bệnh, đồng thời
giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Việc thực hiện Quyết định số 45/HĐBT
phần nào đã làm giảm bớt khó khăn cho các cơ sở khám chữa bệnh và đáp ứng một
phần nhu cầ
u khám chữa bệnh của một số đối tượng có thu nhập khá. Tuy nhiên với
đa số những người có thu nhập thấp, người nghèo, người mất sức lao động khi ốm
đau nhất là khi mắc bệnh hiểm nghèo thì không có điều kiện để chi trả viện phí.

Để khắc phục tình trạng này và thực hiện chủ trương của Nhà nước là thống
nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khỏe của nhân dân, tạo điều kiện để mọi người
dân được chăm sóc sức khỏe, ngày 15/8/1992 Hội đồng Bộ trưởng đã có Nghị định
số 299/HĐBT ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế, đánh dấu một b
ước phát triển trong

1.1.3. Chuyển giao BHYT sang BHXH Việt Nam:
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 khoá
VIII và Chương trình Cải cách hành chính của Chính phủ, ngày 24/01/2002 Thủ
tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg chuyển giao hệ thống
BHYT từ Bộ Y tế sang BHXH Việt Nam nhằm giảm bớt đầu mối quản lý và đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển trong giai đoạn mới. Ngày 6/12/2002 Chính phủ
ban hành Nghị đị
nh số 100/2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam. Từ thời điểm này, BHXH Việt Nam được
giao nhiệm vụ thống nhất quản lý quỹ BHXH, BHYT và tổ chức thực hiện các chế
độ BHXH và BHYT cho các đối tượng tham gia.
Cơ cấu tổ chức hệ thống BHXH Việt Nam được thiết kế theo hệ thống ngành
dọc, t
ập trung từ Trung ương đến địa phương theo 3 cấp:
- Ở Trung ương là BHXH Việt Nam, Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam là cơ
quan quản lý của BHXH Việt Nam, bao gồm đại diện lãnh đạo của Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Tổng
Giám đốc BHXH Việt Nam; Tổng Giám đốc là đại diện pháp nhân của BHXH Việt
Nam.

13
- Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là BHXH cấp tỉnh trực thuộc
BHXH Việt Nam.
- Ở các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là BHXH cấp huyện trực
thuộc BHXH tỉnh.
1.2. Đặc điểm ngành BHXH Việt Nam:
BHXH Việt Nam có hai đặc điểm cơ bản sau:
1.2.1. Tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội cho đối tượng tham gia
BHXH, BHYT.
Sự phát triển của n

độ BHXH như đã từng thực hiện trước đây, hơn thế nữa còn một chứ
c năng hoàn
toàn mới đó là quản lý quỹ BHXH để thực hiện chế độ chính sách BHXH theo quy
định của pháp luật. Quỹ BHXH được hình thành với sự tham gia của 3 bên đóng góp
là người lao động, chủ sử dụng lao động và đóng góp của Nhà nước, ngoài ra còn
các nguồn thu hợp pháp khác như đầu tư tăng trưởng, viện trợ Quỹ BHXH được
hạch toán độc lập với ngân sách và được Nhà nước bảo hộ. Chính vì vậy qu
ỹ BHXH
có những đặc trưng khác với các quỹ đầu tư khác: Nguồn thu bảo hiểm khi đưa vào
quỹ một phần sẽ được chi dùng ngay cho các đối tượng đang hưởng các chế độ ngắn
hạn và một phần cho các đối tượng hưởng chế độ dài hạn, song phần lớn là nguồn dự
trữ dùng để chi trả các chế độ BHXH trong tương lai. Chính khoản tiền tạm thời
nhàn rỗi này t
ồn tích qua nhiều năm chưa phải chi trả ngay sẽ được dùng cho đầu tư
tăng trưởng quỹ nhằm đảm bảo giá trị của quỹ và tăng quy mô của quỹ.
Những đặc thù của nguồn hình thành quỹ BHXH đã tạo ra những đặc điểm
riêng có cho việc quản lý quỹ BHXH. Với mục đích đảm bảo cho an sinh xã hội, nên
việc đầu tư quỹ BHXH phải đảm bả
o tuyệt đối an toàn. Quỹ đuợc bảo toàn và tăng
trưởng tốt sẽ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động và góp phần tăng
trưởng nền kinh tế, ổn định và phát triển đất nước. Ngược lại nếu quỹ BHXH không
được bảo toàn thì không những đời sống của người tham gia bị ảnh hưởng mà xã hội
sẽ bất ổn. Chính vì vậy, việc quản lý đầu tư
quỹ phải tuân thủ những nguyên tắc nhất
định do nhà nước quy định sao cho rủi ro ở mức thấp nhất và được bảo hộ, ưu tiên
đầu tư vào những công trình trọng điểm, đặc thù. Mặt khác lĩnh vực đầu tư quỹ sẽ
giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của
BHXH. Các vấn đề cần quan tâm trong việc quản lý đầu tư qu
ỹ, đó là: Các chiến
lược đầu tư, lộ trình đầu tư, danh mục đầu tư, hiệu quả đầu tư (trên cả hai phương

- Ban Quản lý chi BHXH.
- Ban Kiểm tra - pháp chế.
- Ban Kế hoạch - tài chính.
- Ban tổ chức - cán bộ.
- Văn phòng.

16
- Trung tâm Thông tin - khoa học.
Trong quá trình hoạt động để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đã thành lập thêm các
phòng: Phòng Quản lý BHXH Quốc phòng - an ninh, Phòng Quan hệ quốc tế, Phòng
Quản lý công nghệ thông tin. Các đơn vị trực thuộc có chức năng chỉ đạo, quản lý,
hướng dẫn địa phương theo lĩnh vực công tác được phân công.
ë tỉnh, giúp việc Giám đốc BHXH tỉnh có 05 hoặc 06 phòng chức năng trực
thuộc: - Phòng Quản lý Ch
ế độ chính sách BHXH.
- Phòng Quản lý thu BHXH.
- Phòng Quản lý chi BHXH.
- Phòng Kế hoạch - tài chính.
- Phòng Tổ chức - hành chính
- Phòng kiểm tra.
Các phòng chức năng có nhiệm quản lý và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ
thuộc lĩnh vực đã được Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam quy định. Sau một thời
gian hoạt động, do chồng chéo chức năng, nhiệm vụ nên đã sáp nhập phòng Quản lý
chi BHXH vào phòng Kế ho
ạch tài chính.
Đối với BHXH huyện có nhiệm vụ là quản lý đối tượng đăng ký hưởng chế độ
BHXH; đôn đốc, theo dõi thu, nộp BHXH đối với người sử dụng lao động và người
lao động thuộc địa bàn quản lý; tổ chức mạng lưới hoặc trực tiếp chi trả các chế độ
BHXH cho người được hưởng trên địa bàn huyện. Đây là cấp cuối cùng và trực tiếp
thực hiệ
BHXH cấp huyện Ban Quản lý chế độ
chính sách
Ban Quản lý
Thu BHXH
Ban Quản lý
Chi BHXH
Ban Kế hoạch
Tài chính
Ban

T
ổ chức cán bộ
TrungTâm

Thông tin KH
Văn phòng
Ban Kiểm tra
Phá
p
chế
Phòng Tổ chức
Hành chính

Phòng
Kiể
m
tra

18

Trong quá trình hoạt động, thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội và các Nghị
định của Chính phủ về chia tách, điều chỉnh địa giới hành chính, về tổ chức bộ máy
của các đơn vị trực thuộc Chính phủ, BHXH Việt Nam đã có những điều chỉnh, kiện
toàn tổ chức bộ máy cho phù hợp như: Ở Trung ương thành lập phòng Quan hệ quốc
tế, tách m
ảng công nghệ thông tin ra khỏi Trung tâm thông tin - khoa học để thành
lập Phòng Quản lý công nghệ thông tin, thành lập Tạp chí BHXH Ở địa phương,
để tăng cường chức năng kiểm tra việc thực hiện các chế độ BHXH đã tiến hành
tách chức năng kiểm tra ra khỏi Phòng Tổ chức - Hành chính để thành lập Phòng
Kiểm tra.
Như vậy, các cơ quan chuyên môn nghiệp vụ BHXH được tổ chức, bố trí
thống nhất từ Trung ương
đến huyện tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của từng
cấp để tổ chức thành các phòng hay bố trí cán bộ phụ trách. Ví dụ: ở Trung ương có
Ban Chế độ chính sách, ở tỉnh được bố trí thành phòng Chế độ chính sách, ở huyện
thì bố trí là cán bộ làm chế độ chính sách. Điều này cho thấy mỗi lĩnh vực công việc
đều có cán bộ có trình độ chuyên môn đảm nhiệm, điều đó là cơ s
ở để hình thành
nên chức danh và tiêu chuẩn cán bộ, công chức cho từng lĩnh vực công việc đó.
1.3.2. Hệ thống tổ chức bộ máy của BHXH Việt Nam giai đoạn 2002 đến nay:
Căn cứ Nghị định 100/2002/NĐ-CP ngày 06/12/2002 quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam, BHXH Việt Nam
được xác định là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ có chức nă

khám chữa bệnh để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về BHXH;
9. Từ chối việc chi các chế độ BHXH khi đối tượng tham gia bảo hiểm không
đủ điều kiện hưởng bảo hiểm theo quy định của pháp luật hoặc khi có căn cứ pháp lý
về các hành vi giả mạo, khai man hồ sơ để hưởng bảo hiểm;
10. Bồi thường mọi khoản thu, chi sai quy định của pháp luật về chế độ BHXH
cho đối tượng tham gia BHXH;
11. Giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức và cá nhân về việc thực hiện chính
sách, chế độ BHXH theo quy định của pháp luật;
12. Lưu trữ hồ sơ của đối tượng tham gia và hưởng chế độ
BHXH theo quy
định của pháp luật;

20
13. Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học; ứng dụng công nghệ thông tin
trong quản lý, điều hành hoạt động BHXH;
14. Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ BHXH;
15. Tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách, chế độ
BHXH;
16. Thực hiện hợp tác quốc tế về BHXH theo quy định của pháp luật;
17. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính tr
ị - xã hội,
tổ chức xã hội ở Trung ương và địa phương, với các bên tham gia BHXH để giải
quyết các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện chính sách, chế độ BHXH theo quy
định của pháp luật;
18. Quản lý tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước; tài chính và tài
sản của BHXH Việt Nam theo quy định của pháp luật;
19. Thực hiện chế độ báo cáo với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ
quan Nhà nướ
c có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;


8. Ban Tuyên truyền 17. Tạp chí BHXH
9. Ban Kiểm tra

Một số tổ chức mới được thành lập là: Ban BHXH Tự nguyện, Ban Giám định
y tế, Ban Tuyên truyền, Ban Hợp tác quốc tế (được nâng cấp lên từ Phòng Quan hệ
quốc tế). Các ban giúp việc Tổng giám đốc có chức năng quản lý, chỉ đạo và hướng
dẫn BHXH địa phương triển khai theo lĩnh vực được phân công.
Ở cấp tỉnh, có 8 phòng nghiệp vụ giúp việc Giám đốc BHXH tỉnh, gồm:
Phòng chế độ chính sách, Phòng Thu, Phòng Giám
định chi, Phòng Kế hoạch tài
chính, Phòng Bảo hiểm tự nguyện, Phòng Tổ chức hành chính, Phòng Kiểm tra,
Phòng Công nghệ thông tin. Riêng BHXH thành phố Hà Nội và BHXH thành phố
Hồ Chí Minh có thêm Phòng Cấp, sổ, thẻ BHXH và Phòng Quản lý hồ sơ. Các
phòng chức năng có nhiệm quản lý và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực
đã được Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam quy định.
Đối với BHXH huyện có nhiệm vụ là tổ chức thực hiệ
n các chính sách, chế
độ BHXH, BHYT và quản lý tài chính BHXH trên địa bàn huyện. Đây là cấp cuối
cùng và trực tiếp thực hiện các chế độ BHXH đối với người tham gia bảo hiểm,

22
không cơ cấu tổ chức thành các phòng mà bố trí cán bộ đảm nhiệm theo mảng công
việc để giúp việc cho Giám đốc BHXH huyện. Căn cứ vào tiêu chí địa bàn, quy mô
dân số, số lượng đơn vị tham gia để bố trí số lượng cán bộ phụ trách cho phù hợp.
Có thể khái quát bằng sơ đồ sau:

1.4. Tình hình triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao của các đơn
vị, bộ phận trong hệ thống:
1.4.1. Các nhiệm vụ quản lý chuyên môn nghiệp vụ BHXH:
1.4.1.1. Nhiệm vụ thực hiện chế độ chính sách:

duyệt, Luật cũng trao quyền chủ độ
ng cho BHXH Việt Nam trong việc quyết định các
hình thức đầu tư theo quy định. Chính vì vậy công tác đầu tư phát triển quỹ trong thời
gian tới cần được chú trọng hơn nữa.
Đối với BHXH tỉnh, Phòng Kế hoạch - tài chính chỉ có nhiệm vụ thực hiện
công tác kế hoạch và quản lý tài chính, hạch toán kế toán bao gồm cả công tác chi trả
các chế độ BHXH, BHYT (xem phụ lục 1).
Đối với BHXH huyện, thường bố trí t
ừ 01 đến 02 cán bộ làm nghiệp vụ kế toán
- tài chính.

1.4.1.3. Nhiệm vụ chi BHXH:
Ở Trung ương thành lập Ban Chi BHXH, có nhiệm vụ chính là quản lý và
hướng dẫn thực hiện chi trả các chế độ BHXH bắt buộc (trừ các chế độ khám chữa
bệnh). Ở địa phương, không thành lập phòng chi BHXH theo hệ thống dọc mà nhiệm
vụ xây dựng kế hoạch chi trả các chế độ BHXH, BHYT do phòng Kế hoạch tài chính
thực hiện, chỉ có một phần nhiệm vụ chi BHXH (công tác xây dựng kế
hoạch chi trả
các chế độ BHXH ngắn hạn) trước đây do phòng Giám định Chi đảm nhiệm nay đã
được chuyển sang Phòng Chế độ chính sách thực hiện (Theo Quyết định số 3559/QĐ
ngày 18/12/2006). Đối với BHXH huyện thì bố trí cán bộ thực hiện nhiệm vụ chi trả
các chế độ BHXH (xem phụ lục 4).
1.4.1.4. Nhiệm vụ thu BHXH:
Được tổ chức thực hiện theo hệ thống dọc từ Trung ươ
ng đến tỉnh. Ở Trung
ương, Ban Thu có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thực hiện thu BHXH của các
đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Đồng thời thực hiện công tác quản lý sổ, thẻ bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Tương tự như vậy, ở địa phương Phòng Thu thực hiện
nhiệm vụ thu, cấp, sổ, thẻ BHXH đối với các đối t
ượng tham gia BHXH bắt buộc.
1.4.1.7. Nhiệm vụ công nghệ thông tin:
Ở Trung ương, Trung tâm công nghệ thông tin có chức năng quản lý và tổ
chức ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực hoạt động của ngành. Ở địa
phương ngoài việc tổ chức quản lý và ứng dụng công nghệ thông tin ở BHXH tỉnh
và BHXH huyện thì phòng còn có thêm nhiệm vụ quản lý hồ sơ, tài liệu lưu trữ của
BHXH tỉnh và lập, in danh sách chi trả BHXH trên cơ sở báo cáo tổng hợp c
ủa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status