HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2008
Mã số B.08-09 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
(DƯỚI GÓC ĐỘ PHÂN TÍCH CÁC NGUỒN LỰC) CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: PGS.TS VÕ VĂN ĐỨC
THƯ KÝ KHOA HỌC: ThS. PHÍ THỊ HẰNG
BẢNG VIẾT TẮT ADB : Ngân hàng phát triển châu Á
CCKT : Cơ cấu kinh tế
CMKT : Chuyên môn kỹ thuật
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
FDI : Vốn đầu tư trực tiếp
FPI : Vốn đầu tư gián tiếp
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GNP : Tổng sản phẩm quốc dân
GNI : Tổng thu nhập quốc gia
HDI : Chỉ số phát triển con người
ICOR : Hệ số gia tăng tư bản - đầu ra
IMF : Quỹ ti
ền tệ quốc tế
KCN : Khu công nghiệp
NGO
s : Vốn của các Tổ chức phi chính phủ
NSNN : Ngân sách Nhà nước
ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức
TFP : Năng suất nhân tố tổng hợp
TTKT : Tăng trưởng kinh tế
WB : Ngân hàng thế giới
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2006 - 2007
46
2.7.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới (%)
46
2.8.
Số lượng lao động có việc làm theo trình độ học vấn và
giới tính năm 2006
56
2.9.
Vốn đầu tư của qu
ốc gia qua các năm từ 2000 - 2006
61
2.10.
Vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước phân theo nguồn vốn
62
2.11.
Đối tác và địa phương đầu tư và thu hút FDI tính từ đầu
năm đến 22/12/2007
63
2.12.
Tác động của ODA đối với tỷ lệ tăng trưởng thông qua chỉ
số ICOR
65
2.13.
Kết quả sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản
69
2.14.
Mặt hàng nông, lâm, thủy hải sản xuấ
t, nhập khẩu chủ yếu
11
1.1.1. Khái niệm về tăng trưởng và phát triển kinh tế 11
1.1.2. Quan niệm về nguồn lực kinh tế 15
1.2. Vai trò của nguồn lực tác động đến tăng trưởng kinh tế
21
1.2.1. Nguồn lực con người 21
1.2.2. Nguồn lực vốn 23
1.2.3. Nguồn lực tự nhiên 25
1.2.4. Nguồn lực khoa học - công nghệ 27
1.2.5. Nguồn lực phi vật thể 28
1.2.6. Mối quan hệ giữa các nguồn lực 29
1.3. Kinh nghiệm của một số quốc gia và vùng lãnh thổ về huy động và
sử dụng các nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế
33
Chương 2:
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN
LỰC KINH TẾ ĐÓNG GÓP CHO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
42
2.1. Phân tích sự đóng góp của các nguồn lực vào tăng trưởng kinh tế
42
2.1.1. Tổng quan về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian qua 42
2.1.2. Thực trạng đóng góp nguồn lực lao động vào tăng trưởng kinh tế 52
2.1.3. Thực trạng đóng góp của các nguồn vốn đầu tư vào tăng trưởng kinh tế 59
2.1.4. Đóng góp của tài nguyên thiên nhiên vào tăng trưởng kinh tế 66
2.1.5. Nguồn lực khoa học - công nghệ 78
2.1.6. Các nguồn lực phi vật chất 83
2.2. Đánh giá tổng quát sự đóng góp của các nguồ
triển các nguồn lực trong điều kiện hội nhập kinh tế
114
3.3. Những giải pháp chủ yếu để huy động và sử dụng hợp lý các nguồn
lực nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời
gian tới
117
3.3.1. Huy
động và sử dụng hợp lý có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư 117
3.3.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 123
3.3.3. Phát triển khoa học - công nghệ và thúc đẩy việc áp dụng tiến bộ
khoa học - công nghệ, kỹ thuật vào tăng trưởng kinh tế
125
3.3.4. Khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững 128
3.3.5. Các giải pháp khác 130
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
134
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1441
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm ở
mọi quốc gia trên thế giới. Với hầu hết các nước, tăng trưởng kinh tế luôn là điều
kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, nâng cao hơn nữa đời sống người dân, giảm
thất nghiệp và thực hiện nhiều mục tiêu vĩ mô khác. Đối vớ
i các nước đang phát
triển thì tăng trưởng kinh tế lại càng có ý nghĩa cấp thiết hơn vì tăng trưởng kinh
tế là điều kiện số một để gia nhập nhóm các nước phát triển, tăng trưởng kinh tế
đạt tốc độ tăng tr
ưởng kinh tế trung bình ít nhất 7,5%. Việt Nam đã duy trì
được tốc độ tăng trưởng khá cao và liên tục, trong giai đoạn 1991 - 1995 tốc độ
tăng trưởng là 8,18%; giai đoạn 1996 - 2000 là 6,94%; 2001 - 2005 là 7,5%,
tính chung cả thời kỳ 1998 - 2005 tốc độ tăng trưởng bình quân là 7,5%. Năm
2006, tốc độ tăng GDP đạt 8,24% ; năm 2007 đạt 8,4%, năm 2008, do sự biến
động của kinh tế thế giới nên tăng trưởng kinh tế của chúng ta chỉ đạt 6,23%.
Từ nh
ững con số trên cho thấy tăng trưởng kinh tế của nước ta chưa thực sự ổn
định và vững chắc. Tăng trưởng kinh tế vẫn dựa theo chiều rộng: dựa vào tài
nguyên thiên nhiên, nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, nguồn vốn từ
bên ngoài Như vậy, chất lượng tăng trưởng kinh tế không cao. Đây là thách
thức to lớn cho những năm sắp tới, đặc biệt là từ năm 2010 trở
đi, khi mà công
nghiệp hóa đất nước đòi hỏi ở trình độ cao hơn, cạnh tranh và hội nhập kinh tế
sâu sắc hơn, các nguồn lực kinh tế hữu hạn trở nên khan hiếm hơn, giá cao hơn.
Một trong những nghịch lý hiện nay, là hầu hết các nước đang và chậm
phát triển có những lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn
lao động dồi dào thì lại là những quốc gia nghèo, lạc h
ậu. Ở Việt Nam, trong
những năm vừa qua, tăng trưởng kinh tế vẫn dựa nhiều vào lao động, còn sự
đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) còn ở mức thấp và thay đổi
chậm. trong lúc đó, vốn, đặc biệt là vốn nước ngoài ngày càng “đắt”, khan
hiếm thì lại được sử dụng nhiều, còn nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ
sẽ không còn là lợi thế lâu dài….
Có nhiều nguyên nhân giải thích cho vi
ệc chúng ta có tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao, nhưng chất lượng tăng trưởng thấp và không vững chắc, đó là: điều
kiện kinh tế thế giới và khu vực không thuận lợi, tốc độ chuyển đổi cơ cấu kinh
2. Vũ Đình Bách (1995), “Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
của Việt Nam”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
4
3. Lê Đăng Doanh, Nguyễn Minh Tú (1995), “Tăng trưởng kinh tế và
chính sách xã hội ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ 1991 đến nay,
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
4. GS.TS Vũ Ngọc Phùng chủ biên (2003), “Giáo trình Kinh tế phát
triển”, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
5. GS.TS Nguyễn Văn Thường chủ biên (2004), “Tăng trưởng kinh tế
Việt Nam: Những rào cản cần phải vượt qua”, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
6. PGS.TS. Nguyễn Khắc Minh, (2005): “Nhìn lại kinh tế Việt Nam
trong hai thập kỷ qua một vài dự báo và đề xuất”, Nxb. Khoa học kỹ thuật,
Hà Nội.
7. Đinh Văn Ân (2005), Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế, xã
hội tốc độ nhanh, bền vững và chất lượng cao ở Việt Nam, Nxb. Thống kê.
8. GS.TS Trần Văn Chử chủ biên (2006), “Kinh tế học phát triển”,
Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
9. Lê Xuân Bá - Nguyễ
n Thị Tuệ Anh (2005) “Tăng trưởng kinh tế Việt
Nam 15 năm (1991- 2005) từ góc độ phân tích đóng góp của các nhân tố sản
xuất”, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
10. GS.TS Nguyễn Văn Nam và PGS.TS Trần Thọ Đạt (2006), “Tốc độ
và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”, Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân,
Hà Nội.
11. GS.TSKH Lê Du Phong chủ biên (2006), “Nguồn lực và động lực
phát triển trong n
ền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam”, Nxb.
Lý luận chính trị, Hà Nội.
12. PGS.TS Võ Văn Đức chủ biên (2006), “Tăng trưởng kinh tế Việt
lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Hoặc sách “Tăng trưởng kinh tế Việt Nam:
Những rào cản cần phải vượt qua” do GS.TS Nguyễn Văn Thường chủ biên,
đã tìm ra những hạn chế của t
ăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Cuốn sách của
PGS.TS Nguyễn Khắc Minh lại đánh giá tác động của tiến bộ công nghệ đối
với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Còn trong cuốn sách “Tăng trưởng kinh
tế của Việt Nam 15 năm (1991 - 2005) từ góc độ phân tích đóng góp của các
nhân tố sản xuất” của tác giả Lê Xuân Bá và Nguyễn Thị Tuệ Anh lại phân tích
sự đóng góp của 3 nhân tố: v
ốn, lao động và năng suất nhân tố tổng hợp đến
6
tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Hoặc PGS.TS Võ Văn Đức chủ biên cuốn
sách “Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam qua mô hình tăng trưởng kinh tế của R.
Solow” đã phân tích tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ mô hình cơ bản của
R.Solow, chủ yếu là dưới tác động của năng suất nhân tố tổng hợp. Cuốn sách
được xuất bản năm 2008 của GS.TS Nguyễn Vă
n Thường, GS.TS Nguyễn Kế
Tuấn đã đánh giá kinh tế Việt Nam sau một năm gia nhập WTO, đưa ra những
khó khăn, thách thức cho nền kinh tế Việt Nam.
Ở các bài báo và các tài liệu khác, nhiều nhà khoa học đã nhấn mạnh
rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có thể cao hơn nếu sử dụng tốt
các nguồn lực và có những chính sách kinh tế hiệu lực và kịp thời. Các tác giả
đã đánh giá thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam, phân tích những nỗ lực,
cố gắng và các thành tựu đạt được, cũng như phân tích những tồn tại, hạn chế
và những nguyên nhân dẫn đến tình hình đó.
2.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
1. Karl John trong bài “Vietnam’s WTO hopes and dreams”, Asia times
online (2007) cho rằng tăng trưởng của Việt Nam năm 2006 khoảng 8,2%,
mức tăng trưởng này là rất cao và chỉ
ng trưởng kinh tế hiện đại và
cuộc tìm kiếm vẫn còn tiếp tục”, Tạp chí Ngân hàng số 23, tr.12, 2006. Tác
giả nhấn mạnh đến vai trò của tăng trưởng kinh tế, các lý thuyết khác nhau về
tăng trưởng kinh tế và vai trò của tăng trưởng kinh tế đối với kinh tế quốc gia
và toàn cầu.
Có thể nói, các tác giả trong và ngoài nước đã có nhiều cách tiếp cận
khác nhau đến thực trạng tăng trưởng kinh tế
ở Việt Nam và sự đóng góp của
các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế. Nhiều nhà khoa học cũng đã chỉ ra
những nhân tố tích cực góp phần tạo ra động lực tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam trong những năm qua. Nhưng đa số các tác giả đã tiếp cận định tính và
cả định lượng hoặc tiếp cận dưới dạng chính sách, có nghĩa là xem xét từ
ng
nguồn lực một cách riêng rẽ, đánh giá chủ yếu trên các con số tăng trưởng mà
chưa thực sự đi vào chiều sâu đánh giá một cách tổng hợp thực trạng thu hút,
khai thác và sử dụng các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế. Chúng tôi cũng
đồng tình với tác giả Lê Xuân Bá và Nguyễn Thị Tuệ Anh: “Ở Việt Nam,
nghiên cứu nguồn lực tăng trưởng kinh tế trong dài hạn bằng phương pháp ước
8
lượng đánh giá trực tiếp của các nhân tố sản xuất có rất ít”. Một số nghiên cứu
gần đây (như các tác giả Trần Thọ Đạt, 2006; Tổng cục Thống kê, 2003; Trần
Kim Chung, 2002; Lê Đăng Doanh, GS.TSKH Lê Du Phong 2002, 2003,
2004) cũng phân tích nguồn lực tăng trưởng, nhưng không đánh giá theo các
nguồn lực kinh tế mà theo phương pháp bóc tách tốc độ tăng trưởng để ước
lượng xem các nhân tố sản xuất và TFP đóng góp bao nhiêu
điểm phần trăm
vào tăng năng suất lao động trong giai đoạn khảo sát, đặc biệt là sự đóng góp
của các nguồn lực trong nước và quốc tế vào tốc độ tăng trưởng và phát triển
kinh tế của nước ta thời gian qua, nhưng chưa đánh giá tổng hợp về các nguồn
Ngoài những phương pháp truyền thống: duy vật lịch sử, duy vật biện
chứng, quan điểm của Đảng và Nhà nước, đề tài chú tr
ọng sử dụng các phương
pháp nghiên cứu kinh tế thông dụng như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh,
kinh tế lượng, toán kinh tế, phương pháp chuyên gia, điều tra xã hội học.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển là rất rộng và phức tạp, do
vậy chúng tôi chỉ tập trung vào nghiên cứu các nguồn lực kinh tế chủ yếu: tài
nguyên thiên nhiên, vốn, lao động và khoa học công nghệ, còn các nguồn lực
phi vật thể ch
ỉ nghiên cứu dưới góc độ là các nhân tố tác động.
- Thời gian nghiên cứu: chủ yếu từ năm 2000 đến nay.
5. Nội dung nghiên cứu:
Chương I: Những vấn đề lý luận về nguồn lực kinh tế
1.1. Một số khái niệm cơ bản về tăng trưởng, phát triển kinh tế và nguồn lực
1.2. Vai trò của nguồn lực tác động đến tăng trưởng kinh tế
1.3. Kinh nghiệm của một s
ố quốc gia và vùng lãnh thổ về huy động và
sử dụng các nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế
Chương II: Phân tích thực trạng huy động và sử dụng các nguồn
lực kinh tế đóng góp cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam
2.1. Phân tích sự đóng góp của các nguồn lực vào tăng trưởng kinh tế
10
2.2. Đánh giá tổng quát sự đóng góp của các nguồn lực chủ yếu đối với
tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Chương III: Quan điểm và những giải pháp để huy động và sử
dụng các nguồn lực nhằm đảm bảo nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh
tế của Việt Nam
3.1. Quan điểm về phát huy các nguồn lực nhằm đảm bảo tăng
thống nhất về sự tiến bộ của một nước thường được đánh giá trên hai mặt: đó
là tăng trưởng về kinh tế và sự tiến bộ về mặt xã hội - môi trường. Trước đây,
ng
ười ta thường dùng hai thuật ngữ “tăng trưởng” và “phát triển” để phản ánh
sự tiến bộ đó, vào những năm cuối của thế kỷ XX, đã bổ sung thêm một thuật
ngữ đánh dấu sự phát triển đó là “phát triển bền vững”.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về TTKT, nhưng đa số đều thống
nhất: "Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng s
ản phẩm quốc dân trong một
thời kỳ nhất định, là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ
trong nền kinh tế tạo ra, không kể việc sản xuất được thực hiện trong nước
hay nước ngoài".
Như vậy có thể hiểu: Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm về mặt quy
mô, sản lượng sản phẩm vật chấ
t và dịch vụ được sáng tạo ra trong một thời
kỳ nhất định (thường là một năm) và không phân biệt chủ sở hữu. Để biểu thị
sự tăng trưởng kinh tế, trước đây, người ta đo lường tổng của cải xã hội tạo ra
trong thời kỳ nhất định bằng hai đại lượng chính: GNP (Tổng sản phẩm quốc
dân), GDP (Tổng sản phẩm quốc n
ội) và GDP là tổng giá trị sản phẩm hàng
hóa và dịch vụ cuối cùng về kết quả hoạt động kinh tế được tạo ra trên phạm
vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một
năm), không phân biệt nguồn vốn và chủ sở hữu ở trong nước hay nước
ngoài. Ngày nay để đánh giá đầy đủ và chính xác hơn người ta thường dùng
GNI (Tổng thu nhập quốc gia) thay cho GNP. GNI là t
ổng giá trị thu nhập do
12
công dân của một nước tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một
năm) không kể tạo ra trong nước hay nước ngoài. Cách tính GNP và GNI là
sống của đại đa số dân cư được cải thiện, các giá trị văn hoá, tinh thần được
13
đề cao. Như vậy, khái niệm phát triển có nội dung phong phú và toàn diện
hơn khái niệm tăng trưởng. Phát triển bao hàm sự vận động của một hệ thống,
sự tương hợp của các động lực, sự thống nhất cao của toàn xã hội và tính mục
đích cụ thể. Đồng thời phát triển cũng là sự gạt bỏ, loại trừ, hạn chế các cản
trở, tác độ
ng ngược của tăng trưởng.
Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về
mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự
tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội. Phát
triển kinh tế là tăng trưởng kinh tế bền vững, vừa đả
m bảo tăng trưởng trước
mắt vừa đảm bảo tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Ngay từ năm 1992,
trong Báo cáo phát triển về thế giới của Liên Hợp Quốc đã khẳng định: "Phát
triển là nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao tiêu chuẩn sống và cải tiến
giáo dục sức khoẻ và bình đẳng về cơ hội là tất cả những thành phần cơ bản
của phát triển kinh tế. B
ảo đảm các quyền chính trị và công dân là một mục
tiêu phát triển rộng hơn. Tăng trưởng kinh tế là cách cơ bản để có thể được
phát triển, nhưng bản thân nó chưa hoàn toàn phản ánh cho sự tiến bộ"
1
. Cụ
thể mức độ gia tăng của sản phẩm quốc dân tính theo đầu người phản ánh
mức độ tăng trưởng của một quốc gia trong một giai đoạn nhất định. Mức độ
gia tăng của thu nhập thực tế mà mỗi người dân được hưởng phản ánh mức độ
công bằng, dân chủ. Tăng thu nhập thực tế và sự phân phối thu nhập bình
đẳng h
ơn là những yếu tố cơ bản để tăng chất lượng cuộc sống.
của nhu cầu xã h
ội, nhu cầu con người, môi trường xã hội và công bằng xã hội.
Như vậy ở một khía cạnh nào đó phát triển kinh tế cũng là sự phản ánh
sự vận động nền kinh tế của một quốc gia từ trạng thái thấp lên trạng thái cao
cả về chất lượng và số lượng bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau.
Ngày nay, để xem xét trình độ phát triển của một quốc gia, người ta
thường dùng khái niệm phát tri
ển bền vững. Khái niệm này được xem như đỉnh
cao của tư tưởng phát triển hiện nay. Phát triển bền vững là một thuật ngữ được
các chính trị gia, các nhà khoa học trên toàn thế giới sử dụng rộng rãi, mặc dù
quan niệm này còn mới mẻ và chưa có sự thống nhất trong cách diễn giải.
Có rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về phát triển bền
vững. Các nhà thống kê đã tính có khoảng 70
định nghĩa về phát triển bền
vững, nhưng có lẽ một định nghĩa được nhiều quốc gia, nhiều nhà chính trị,
khoa học đồng tình ủng hộ, đó là định nghĩa của Hội đồng thế giới về môi
trường và phát triển WCED (World Commission on Environment and
Development) đưa ra vào năm 1987. "Phát triển bền vững là phát triển đáp
15
ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp
ứng các nhu cầu của các thế hệ mai sau
"2
.
Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ cao, liên
tục trong một thời gian dài.
Tại các Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ
chức ở Rio De Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị thượng đỉnh Thế giới
về phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm
2002 đã xác định "phát triển bền vững" là quá trình phát triển có s
tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Các nhân tố kinh tế tác động đến khả năng sản xuất (hay các nhân tố
đầu vào của sản xuất) là: tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, vốn, khoa
học và công nghệ, được quan niệm là các nguồn lực kinh tế.
Các nhân tố kinh tế có nguồn gốc hình thành khác nhau: Tài nguyên
thiên nhiên đượ
c hình thành một cách khách quan do tự nhiên ban tặng;
nguồn lao động gắn với bản thân con người; trong khi đó vốn, khoa học và
công nghệ là do con người sáng tạo ra.
Các nguồn lực kinh tế tham gia vào các quá trình tăng trưởng và phát
triển kinh tế với những vai trò khác nhau. Tài nguyên thiên nhiên là đối tượng
của lao động là lực lượng vật chất cơ bản, ban đầu của các sản phẩm hoặc là
nguồn “năng lượng”, hay lực lượng trợ giúp cho hoạt độ
ng sản xuất các sản
phẩm và dịch vụ. Các loại vốn, khoa học và công nghệ là các loại công cụ ,
phương tiện và phương thức khác nhau để lao động của con người tác động
vào các yếu tố để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ. Lao động của con người với
tư cách là chủ thể sáng tạo có vị trí trung tâm trong việc tổ chức và sử dụng
có hiệu quả cao nhất các nguồn lự
c kinh tế.
Quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng sử dụng các nguồn lực kinh tế
bị tác động bởi nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm cả những yếu tố tự nhiên và
kinh tế - xã hội, trong đó trình độ phát triển kinh tế - xã hội có ý nghĩa quyết
định. Chính vì vậy, sự khác nhau về sự giàu có của các nguồn tài nguyên thiên
nhiên và trình độ phát triển kinh tế, xã hội giữa các quốc gia làm cho quy mô,
cơ cấu, chấ
t lượng và trình độ sử dụng các nguồn lực kinh tế khác nhau. Từ đó
tác động của chúng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế là khác nhau.
Ngày nay, đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, để
tăng trưởng kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá được coi là con
“Theo nghĩa hẹp, nguồn lực được hiểu là các nguồn lực vật chất cho phát
triển, ví dụ như tài nguyên thiên nhiên, tài sản vốn bằng tiền… Theo nghĩa
rộng, nguồn lực hiểu gồm tất cả các lợi thế, tiềm năng vật chất để phục vụ
cho một mục tiêu phát triển nhất định nào đó… Nguồn lự
c phát triển của một
quốc gia được hiểu là khả năng cung cấp các yếu tố cần thiết cho việc phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước”
5
.
3
GS.TSKH Lê Du Phong chủ biên, Nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, 2005, tr.12.
4
Viện Chiến lược phát triển "Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”. Nxb
Chính trị quốc gia. H. 2004, tr.70.
5
Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Chu Tiến Quang (chủ biên) Huy động và sử dụng các nguồn
lực trong phát triển kinh tế nông thôn. Thực trạng và giải pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, 2005.
18
Các Mác đóng góp lớn vào lý thuyết tăng trưởng với công trình nổi
tiếng “Tư bản”. Theo Mác, “Nguồn lực của tăng trưởng kinh tế là sự tích lũy
tư bản, trong đó là các yếu tố tác động đến quá trình này là đất đai, lao động,
vốn và tiến bộ kỹ thuật. Xét trên quy mô toàn xã hội, nguồn gốc của tư bản
tích lũy là giá trị thặng dư do lao động làm thuê tạo ra”
6
.
Theo chúng tôi quan niệm về nguồn lực có phạm vi, quy mô rất rộng,
nó không chỉ chứa đựng những yếu tố, nhân tố sẵn có, đã và đang tạo ra sức