Đề án: Thực trạng và giải pháp sử dụng hiệu quả vốn ODA của Nhật Bản tại Việt Nam - Pdf 13



 Luận văn

Thực trạng và các giải
pháp nhằm tăng
cường khả năng quản
lý các dự án ODA

1LỜI GIỚI THIỆU

Lịch sử phát triển các nước trên thế giới đã chứng minh rất rõ:
Vốn đầu tư và hiệu quả vốn đầu tư là một trong những yếu tố quan
trọng nhất tác đọng đến sự phát triển nõi chung và tăng trưởng kinh
tế nói riêng của mỗi quốc gia. Vốn đầu tư bao gồm: vốn trong nước,
vốn thu hút từ nước ngoài chủ yếu dưới hình thức vốn ODA, đầu tư
trực tiếp, các khoản tín dụng nhập khẩu. Đối với những nước nghèo,
thu nhập thấp, khả năng tích luỹ vốn từ trong nước hạn chế thì
nguồn vốn nước ngoài có ý nghĩa quan trọng.
Ngoài tính chất ưu đãi của vốn ODA, một trong những đặc
điểm khác nhau giữa ba loạinguồn vốn trên là: ODA chỉ là sự
chuyển nhượng vốn mang tính chất trợ giúp từ các nước phát triển

thành, xây dựng đề tài, về những chỉ bảo mang tính xác thực cũng
như những sửa chữa mang tính khoa học của cô trong quá trình
hoàn thiện luận văn này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn GS-TS Đặng Văn Thuận, Vụ
Tổng Hợp - Bộ Kế hoạch và đầu tư vì sự hướng dẫn nhiệt tình, đầy
đủ trong quá trình thu thập tư liệu cũng như những ý kiến sửa chữa
phù hợp với yêu cầu thực tế nhằm phục vụ cho đề tài này. Đồng thời
em xin chân thành cảm ơn các cô chú tại Vụ Tổng Hợp - Bộ Kế
hoạch và đầu tư đã tạo điều kiện giúp đỡ trong thời gian em thực tập
tại Vụ Tổng Hợp - Bộ Kế hoạch - đầu tư.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới
TS. Mai Văn Bưu- chủ nhiệm khoa, tới các thầy cô - giảng viên
Khoa Khoa học quản lý những dạy bảo của các thầy, cô trong quá
trình học tập và hoàn thiện các kiến thức chuyên môn của em tại lớp
Quản lý Kinh tế K.38A- Khoa Khoa học quản lý.

Em xin chân thành cảm ơn.
Hà nội ngày tháng năm
Sinh viên
Võ Đình Toàn
3

CHƯƠNG I.
TỔNG QUAN VỀ QUY TRÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN

nước phát triển dành 1% GDP để cung cấp ODA cho các nước đang phát triển
và chậm phát triển.
Quốc tế hoá đời sống kinh tế là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự
phân công lao động giữa các nước. Bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi

4

ích của mình trong việc hợp tác giúp đỡ các nước chậm phát triển để mở rộng
thị trường tiêu thu sản phẩm và thị trường đầu tư. Đi liền với sự quan tâm lợi
ích kinh tế đó, các nước phát triển nhất là đối với các nước lớn còn sử dụng
ODA như một công cụ chính trị để xác định vị trí và ảnh hưởng tại các nước
và khu vực tiếp cận ODA. Mặt khác, một số vấn đề quốc tế đang nổi lên như
AIDS/ HIV, các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo, đòi hỏi sự nỗ lực của cả
cộng đồng, quốc tế không phân biệt giàu nghèo.
Các nước đang phát triển đang thiếu vốn nghiêm trọng dễ phát triển
kinh tế xã hội. Vốn ODA là một trong các nguồn vốn ngoài nước có ý nghĩa
hết sức quan trọng. Tuy nhiên, ODA không thể thay thế được vốn trong nước
mà chỉ là chất xúc tác tạo điều kiện khai thác sử dụng các nguồn vốn đầu tư
trong và ngoài nước. ODA có hai mặt: Nếu sử dụng một cách phù hợp sẽ hỗ
trợ thật sự cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội, nếu không đó sẽ là một
khoản nợ nước ngoài khó trả trong nhiều thế hệ. Hiệu quả sử dụng ODA phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, mà một trong số đó là công tác quản lý và điều phối
nguồn vốn này. Nghị đinh 20/ CP khẳng định ODA cho Việt Nam là một
trong những nguồn quan trọng của ngân sách Nhà nước được sử dụng cho
những mục tiêu ưu tiên của công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội.
Tính chất ngân sách của ODA thể hiện ở chỗ nó được thông qua Chính phủ và
toàn dân được thụ hưởng lợi ích do các khoản ODA mang lại.
Việc cung ODA được thực hiện thông qua các kênh sau đây:
- Song phương:
+ Trực tiếp Chính phủ với Chính phủ.

ế5

- Các tổ chức phi chính phủ cung cấp ODA trực tiếp cho Việt Nam. 2. Các loại hình ODA.
2.1. Xét theo mục đích ODA gồm các hình thức chủ yếu sau:
- Hỗ trợ cán cân thanh toán:
Thương là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ nhưng đôi khi
là hiện vật hoặc hỗ trợ nhập khẩu. Ngoại tệ và hàng hoá chuyển trong nước
qua hình thức này được chuyển hoá thành hỗ trợ ngân sách.
- Hỗ trợ chương trình (còn gọi là viện trợ phi dự án) là viện trợ khi đạt
được một hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA
cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định để thực hiện nhiều nội
dung khác nhau của một chương trình.
Hỗ trợ dự án:
Là hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm hỗ trợ
cơ bản và hỗ trợ kỹ thuật. Trên thực tế có trường hợp một dự án kết hợp cả
hai loại hình hỗ trợ cơ bản và hỗ trợ kỹ thuật.
2.2. Xét theo hình thức tiếp nhận vốn, ODA được phân ra Viện trợ
không hoàn lại và viện trợ cho vay ưu đãi:
+ Đối với loại hình Viện trợ không hoàn lại thường là hỗ trợ kỹ thuật,
chủ yếu là chuyển giao công nghệ, kiến thức, kinh nghiệm thông qua các hoạt
động của chuyên gia quốc tế. Đôi khi viện trợ này là hoạt động nhân đạo như

chức quốc tế

6

+Đối với các khoản vay ưu đãi ODA có thể sử dụng cho mục tiêu đầu
tư phát triển. Tính chất ưu đãi của khoản vay này thể hiện ở khía cạnh sau:
 Lãi suất thấp : chẳng hạn các khoản vay ODA được tính bằng hàng hoá
trị giá 45,5 tỷ yên nhật cho Việt Nam vay năm 1992 có lãi suất 1% khoản vay
ngân hàng thế giới cho dự án cải tạo quốc lộ 1A không lãi chỉ có 0,75%.
 .Thời gian vay dài: nhật bản cho ta vay trong thời gian 30 năm WB cho
vay trong thời gian 40 năm.
 . Thời gian ấn hạn từ khi vay đến khi trả vốn gốc đầu tiên khá dài
thường khoảng 5-10 năm trở lên.
Thông thường các nước tiếp nhận ODA để đầu tư vào các dự án kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi cho sản xuất và
đời sống, tạo môi trường hạ tầng cơ sở để tiếp tục thu hút vốn đầu tư.
3. Vai trò của ODA trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các
nước đang phát triển.
Đối với tất cả các quốc gia tiến hành công nghiệp hoá đất nước thì vốn
là một yếu tố một điều kiện tiền đề không thể thiếu. Nhất là trong điều kiện
hiện nay, với những thành tựu mới của khoa học và công nghệ cho phép các
nước tiến hành công nghiệp hoá có thể rút ngắn lịch sử phát triển kinh tế khắc
phục tình trạng tụt hậu và vận dụng được tối đa của lợi thế đi sau.
Nhưng để làm được những điều đó thì nhu cầu về nguồn vốn là vô cùng
lớn trong khi đó ở giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hoá thì tất cả các
nước đều dựa vào nguồn vốn bên ngoài mà chủ yếu là ODA và FDI.
Trong đó ODA là nguồn vốn của các Chính phủ, các quốc gia phát triển
, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi Chính phủ hoạt động với mục tiêu trợ
giúp cho chiến lược phát triển của các nước đang và chậm phát triển. Do vậy
nguồn vốn này có những ưu đãi nhất định, do những ưu đãi này màcác nước

đã sử dụng nguồn vốn ODA.
Ở Việt Nam ODA đóng vai trò rất quan trọng trong chương trình đầu tư
công cộng, làm nền tảng cho hoạt động phát triển kinh tế - xã hội gần đây của
Việt Nam. Đầu tư phát triển kinh tế xã hội đã phát triển mạnh ở Việt Nam
trong thập kỷ qua nhờ công cuộc đổi mới với mức tăng trưởng GDP bình
quân đạt 7,5%/ năm. Đầu tư của Chính phủ và nguồn vốn nước ngoài đống
vai trò hết sức quan trọng. Tổng cam kết các nguồn vốn ODA đạt mức tương
đương khoảng 15 tỉ USD. Do vẫn là một nước trong những nước nghèo nhất
thế giới hoạt động quản lý kinh tế - xã hội ở Việt Nam cho thấy đất nước ta
tiếp cận rất tốt nguồn ODA ưu đãi dưới hình thức viện trợ không hoàn lại và
tín dụng có lãi suất thấp. Sự khan hiếm nguồn FDI hiện nay do cuộc khủng
hoảng tài chính Đông Nam Á đã cũng gây ra suy giảm trong tiến trình tiến
hành cải cách kinh tế ở Việt Nam, đã tạo thêm căng thẳng cho các nguồn lực
đầu tư công cộng hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng trong khi vẫn đảm bảo thúc đẩy
các dịch vụ xã hội. Do đó ODA ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc
tài trợ các chi tiêu phát triển của chính phủ. Kể từ khi cộng đồng tài trợ quốc
tế nối lại sự giúp đỡ của mình cho Việt Nam, mức giải ngân ODA hàng năm
đã tăng một cách vững chắc từ mức 272 triệu USD vào năm 1994 ( khoảng

8

26% chi tiêu xây dựng cơ bản của chính phủ) lên khoảng 1.120 triệu USD vào
năm 1998 (xấp xỉ 80%).
Trên thực tế do tính chất ưu đãi của vốn ODA mà các quốc gia sử dụng
nó thường e ngại về gánh nặng nợ nần nhưng thực tế thì đó là nỗi lo sợ của
với các nước quản lý và sử dụng nguồn vốn này không hiệu quả. Gánh nặng
nợ nần sẽ được giảm rất nhiều nếu biết quản lý để đem lại hiệu quả sử dụng
ODA cao.
Thứ hai: ODA dưới dạng viện trợ không hoàn lại giúp các nước nhận
viện trợ tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển

một khi được cải thiện sẽ tăng sức hút đồng vốn nước ngoài. Mặt khác việc sử
dụng nguồn vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho
các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh
doanh có khả năng mang lại lợi nhuận.
4. Vài nét về quản lý và sử dụng ODA trên thế giới.
4.1 Các nhà tài trợ ODA chủ yếu trên thế giới.
Nói chung không có tiêu thức chung để phân lọai các nhà tài tạ ODA
tuy nhiên chúng ta có thể phân chia thành hai nhóm chính sau: nhóm các nước
và các nhà tổ chức quốc tế.
a. Các nhóm nước.
- Các nước thành viên của Uỷ ban hỗ trợ phát triển DAC thuộc tổ chức
OECD: tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển được thành lập từ năm 1961 có
tiền thân là tổ chức hợp tác kinh tế Châu Âu OEEC.
OECD có mục tiêu chủ yếu là:
+ Thúc đẩy phát triển kinh tế với nhịp độ cao và bền vững, nâng cao
mức sống của nhân dân các nước thành viên, duy trì nền tài chính ổn định và
nhờ vậy đóng góp vào sự phát triển kinh tế thế giới.
+ Góp phần mở rộng quá trình phát triển kinh tế ở cá nước thành viên
cũng như không phải thành viên.
+ Góp phần mở rộng thương mại quốc tế đa biên trên cơ sở không kỳ
thị và phù hợp với tập quán quốc tế.
- Nhật Bản: Đây là một quốc gia hàng năm cung cấp một lương vốn
ODA rất lớn đặc biệt là một trong những quốc gia đứng đầu trong danh sách
những nhà tài trợ cho Việt Nam.
b. Các tổ chức quốc tế.
- Ngân hàng phát triển Châu Á: ADB.
Được thành lập năm 1966 do 31 chính phủ thành viên nhằm xúc tiến
quá trình giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội trong khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương. Trong hơn 33 năm qua các thành viên đã tăng lên rất nhiều
ADB chú trọng đến nhu cầu của các nước nhỏ và các nước kém phát triển và

đầu. Tuy nhiên tình hình thực hiện đã được cải thiện vững chắc một phần do
các cơ quan chủ quản đã quen hơn với công tác dự án. Trong năm 1999 cả
cma kết hàng năm và giải ngân đều đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Tỷ lệ
giải ngân đã được cải thiện năm 1995, tiến độ thực hiện ngắn hơn so với tiêu
chuẩn của JBIC, tuy nhiên phần lớn các dự án đều chậm từ 1-2 năm so với kế
hoạch đặt ra ban đầu. Các nguyên nhân đã được xác định trong đó quá trình

11
phê duyệt nội bộ của phía Việt Nam đối với các quyết định, thay đổi hoặc
điều chỉnh của dự án thường kéo dài, đặc biệt những quyết định về đấu thầu
và chỉ định tư vấn. Mặt khác sự chậm trễ trong việc thanh toán theo tiến độ đã
được phần nào giảm bớt.
Ngân hàng thế giới WB: hiện có 21 dự án đang hoạt động và dự án đã
kết thúc thể hiện tổng mức các cam kết 2,25 tỷ USD tron gđó khoảng 35% đã
được giải ngân. Mức giải ngân từ tài khoá 1994 là rất hài lòng nhưng tốc độđã
giảm và mức thực hiện giờ đây thấp hơn mức trong khu vực. Hiện nay mới
chỉ đạt khoảng 70% tổng mức giải ngân dự kiến trong danh mục các dự án
đang hoạt động. Tổng mức cam kết đã giảm từ năm 1997 và tỷ lệ giải ngân
cho thấy chiều hướng giảm bắt đầu từ năm 1996. Có mức tăng về khối lượng
cam kết chưa được giải ngân mặc dù tốc độ tăng đã giảm dần. Ngoài các vấn
đề liên quan đến việc thực hiện dự án được mô tả dưới đây, một số nguyên
nhân xuất phát từ việc sửa đổi trong các quy định thực hiện của chính phủ đã
làm chậm quá trình thực hiện, ngoài ra còn do sự chuyển đổi về cơ cấu trong
danh mục dự án hiện nay. Số lượng những dự án có quy mô lớn, giải ngân
nhanh trong khi những dự án mới có xu hướng hoạt động phức tạp, phân tán,
phải trải qua giai đoạn khởi động lâu hơn so với dự kiến.
Ngân hàng phát triển Châu Á: (ADB) có 25 dự án đang thực hiện ở
Việt Nam trong đó có 21 dự án đầu tư đã có hiệu lực với tổng nợ ròng là 1,7
tỷ USD đã giải ngân được 30%. Trong khi cam kết hàng nưm giảm từ mức
cao nhất vào năm 1997, một phần chậm trễ trong việc xử lý các khoản vay dự


1219
Tỉ lệ giải ngân (%) 28 11 28 22 21 15
ADB
Cam kết hàng năm 61 233 217 360 284 220
Giải ngân hàng năm 3 48 29 149 128 191
Phần cam kết chưa giải ngân 320 545 732 1024

1180

1253
Tỉ lệ giải ngân (%) 1,1 8,4 4,8 15,8 14,8 16,0
Tổng
Cam kết hàng năm 779 1166

1374 1422

1324

1311
Giải ngân hàng năm 68 62 196 358 641 761
Giải ngân hàng năm, % thay đổi - - 10 215 82 79 19
Phần cam kết chưa giải ngân 1058 1800

2895 4131

4859

5412
Phần cam kết chưa giải ngân, %

ODA hơn 1% song khối lương ODA tuyệt đối của các nước này không lớn.
Thêm vào đó tình hình phục hồi kinh tế chậm ở các nước phát triển cũng là
một trở ngại gia tăang ODA.
Ngoài ra các nước phát triển đang phải đối đầu với hàng loạt vấn đề xã
hội trong nước và chịu sức ép của dư luận đòi giảm viện trợ cho nước ngoài
để tập chung giải quyết các vấn đè trong nước.
II. QUY TRÌNH QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA.
Theo quy định chung về quản lý và sử dụng, một dự án ODA thường
bao gồm các bước sau:
- Xác định dự án.
- Chuẩn bị đầu tư.
- Thực hiện đầu tư.
- Nghiệm thu và đánh giá.

SƠ ĐỒ QUY TRÌNH QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA.
1. Xác định dự án và đánh giá ban đầu. 14 2. Chuẩn bị và thiết kế dự án.
Xác định
mục tiêu
chiến
lược
quốc gia
Xem xét
đãnh giá
những đề
xuất
chính
thức
Đưa ra
những đề
xuất
chính
thức (dự
án đề
xuất)
Dự án đề
xuất
được
giám đốc
quản lý
chương
trình
quốc gia
xem xét
Phê
duyệt
dự án

trong quá
trình thực
hi

n

Nhà thầu
chuẩn bị
báo cáo
hoàn
thành dự
án
Đánh giá
sau hoàn
thành đối
với một số
dự án
được lựa
ch

n

Rút ra
bài học
kinh
nghiệm

15
Khi nhận được yêu cầu chính thức đề án sẽ được Văn phòng của nước
viện trợ đánh giá và xen xét xem của dự án đề xuất có nắm trong chiến lược


16
phương biết được tình hình thực hiện sự án có tốt không, nhà thầu thực hiện
so với hợp đồng ra sao, liệu có đạt được các mục tiêu đặt ra?

4. Hoàn thành và đánh giá dự án.
Giai đoạn này bao gồm: Việc chuẩn bị báo cáo hoàn thành dự án (PCR)
đối với tất cả các dự án và tiến hành đánh giá sau dự án đối với một số dự án
được lựa chọn. Nhà thầu thực hiện cần chuẩn bị PCR trước khi kết thúc dự án.
PCR mô tả thiết kế dự án từ khi xây dựng dự án giai đoạn chuẩn bị đến khi bổ
sung trong giai đoạn thực hiện. Sự chấp thuận báo cáo này của nhà tài trợ
song phương đánh dấu thời điểm kết thúc dự án.
Sau khi dự án kết thúc có thể phải tiến hành đánh giá sau dự án, mô tả
lịch sử của dự án, những thành công của dự án, những thiếu sót và xác định
những bài học đúc kết trong khâu thiết kế và thực hiện dự án phân tích độc
lập của nhà tài trợ song phương cùng các văn kiện dự án khác có thể rút ra
những bài học và đưa vào cơ sở dữ liệu về bài học kinh nghiệm của nhà tài
trợ, tạo cơ sở để phản hồi thông tin vào hoạch định chính sách và chuẩn bị các
dự án trong tương lai.
Trên đây là tóm tắt sơ lược chu kỳ quản lý một dự án ODA.


hết tháng 9-1998 và bằng 80% tổng nguồn vốn ODA đã được cam kết trong
thời kỳ 1993-1997.
Trong số các hiệp định đã ký hết trong 9 tháng đầu năm 1998 có nhiều
dự án quan trọng, nhất là các dự án trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển
nông thôn như đa dạng hoá nông nghiệp, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, y
tế, giáo dục đại học
Giải ngân nguồn vốn ODA được coi là thước đo năng lực tiếp nhận và
sử dụng hỗ trợ phát triển chính thức, do vậy thường xuyên được Chính phủ
Việt Nam và các nhà tài trợ quan tâm. Năm 1996 giải ngân được 900 triệu
USD, năm 1997 con số này lên tới 1 tỷ USD và năm 1998 đạt 1.430 triệu
USD.
Như vậy trong thời kỳ trên mức giải ngân hàng năm bình quân đạt
1.110 triệu USD, bằng 74% mức giải ngân bình quân năm của kế hoạch 1996-

18
2000 (1.500 triệu USD/ năm). Xu thế giải ngân trong thời gian qua tiến bộ
điều này được các nhà tài trợ khẳng định.
Nhìn chung lại tình hình giải ngân vốn ODA trong năm 1998 tương đối
tốt đó là do về cơ bản các dự án ODA đã được bố trí đủ nguồn vốn đối ứng
đồng thời Chính phủ không điều chỉnh tiến độ xây dựng cơ bản đối với các dự
án ODA đã được cam kết với các nhà tài trợ. Cho đến nay nhiều nhà tài trợ đã
xây dựng hoặc cập nhật chiến lược quốc gia về hợp tác phát triển với Việt
Nam, đây là cơ sở quan trọng để tăng cường đối ngoại giữa Chính phủ Việt
Nam với các nhà tài trợ. Trong thời gian qua Chính phủ Việt Nam đã tiến
hành các cuộc đối thoại về hợp tác phát triển với một số nhà tài trợ như ngân
hàng thế giới (chiến lược hỗ trợ quốc gia của WB cho Việt Nam 1999 - 2002),
Nhật Bản (trao đổi ý kiến cấp cao về quan hệ kinh tế và hợp tác phát triển)
Tại các cuộc trao đổi ý kiến nói trên, các nhà tài trợ đánh giá cao những nỗ
lực của Việt Nam duy trì đã tăng trưởng trong bối cảnh tình hình trong và
ngoài nước có nhiều khó khăn khẳng định tiếp tục cam kết hỗ trợ quá trình

(triệu USD/ năm)

Năm 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Cam kết hàng năm 228 314 508 389 392 318
Giải ngân hàng năm 65 17 129 181 220 189
% giải ngân / cam kết 28,5 5,4 25,3 46,5 56,1 59,4

Ta thấy rằng cam kết hàng năm đạt mức độ cao nhất vào năm 1996
(508 triệu USD) thấp nhất 1994 (228 triệu USD) nhìn vào đây ta thấy mức
cam kết đã giảm dần từ năm 1997 còn tình hình giải ngân mỗi năm một tăng
nhưng đạt cao nhất vào năm 1992 (220 triệu USD). Qua bảng trên ta thấy
được rằng tuy mức cam kết có giảm từ năm 1997 nhưng tỷ lệ giải ngân so với
mưchính sách cam kết vẫn có xu hướng tăng qua các năm.
(3) Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB).
(triệu USD/ năm)

Năm 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Cam kết hàng năm 3 48 29 149 128 191
Giải ngân hàng năm 4,9 20,6 13,3 41,4 45,1 86,8
% giải ngân / cam kết 61 233 217 360 284 220

Mức cam kết tăng từ năm 1994 cao nhất vào năm 1997 (360 triệu USD)
và sau đó giảm dần vào các năm sau và mức giải ngân nhìn chung có xu
hướng tăng qua các năm và có đạt mức giải ngân cao nhất vào năm 1999 (191

20
triệu USD) còn phần trăm giải ngân so với cam kết nó chỉ giảm năm 1996
(13,3%) nhìn chung nó cũng có xu hướng tăng lên qua các năm và tỷ lệ này
đạt cao nhất vào năm 1999 (86,8%).
(4) Tổng thể của 3 nước này.

- Nhìn vào từng dự án nhiều sự án có hiệu quả đã đem lại những lợi ích
kinh tế, xã hội nhất định, kể cả chất xám cho đất nước ta. Tuy nhiên nhìn một

21
cách toàn diện thì chúng ta chưa có chiến lược lâu dài trong việc sử dụng
nguồn viện trợ không hoàn lại. Nguồn viện trợ bị phân tán dàn trải quá nhiều
chưa tập trung vào một số lĩnh vực có lợi thế tương đối và có khả năng tác
động thúc đẩy sự phát triển các ngành khác của nền kinh tế. Trong năm 1996
ta tiếp nhận 143 triệu USD của gần 300 chương trình, dự án viện trợ. Nguồn
viện trợ dàn trải làm cho nguồn trong nước cũng dàn trải theo.
- Tư tưởng coi viện trợ là của trời cho vẫn còn nặng, các bộ, các ngành,
địa phương chưa nhận thức được rằng mọi nguồn viện trợ dù là không hoàn
lại, là một nguồn thu ngân sách Nhà nước và phải được quản lý và sử dụng
như các nguồn thu khác cấp ra từ ngân sách Nhà nước. Vì vậy việc quản lý và
sử dụng ODA thường không đảm bảo đúng chế độ tài chính thậm chí hết sức
lãng phí và phát sinh tiêu cực.
- Cho đến nay bộ máy quản lý viện trợ ở các bộ, ngành, địa phương
chưa có sự thống nhất từ khâu xác định dự án, xây dựng tổng hợp trình các
cấp có thẩm quyền phê duyệt ký kết, tiếp nhận và sử dụng đến thanh tra, kiểm
tra, báo cáo ở hầu hết các bộ, vụ tài vụ kế toán không nắm được nguồn viện
trợ đã tiếp nhận và sử dụng ở bộ mình, các sở tài chính không nấm được
nguồn viện trợ đã được sử dụng ở địa phương mình, chưa nói đến thực hiện
công tác quản lý tài chính. Việc không tập chung thống nhất quản lý nguồn tài
chính viện trợ cộng đến trình độ, năng lực và số lượng cán bộ quản lý các
nguồn viện trợ còn yếu là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho công
tác quản lý và sử dụng viện trợ kém hiệu quả, có nơi lãng phí, tiêu cực.
2. Kế hoạch hoá nguồn vốn ODA.
Kế hoạch hoá ODA là kế hoạch hoá một nguồn vốn ngân sách chủ yếu
dùng để đầu tư phát triển quốc gia. Theo các quy định hiện hành một dự án
ODA được kế hoạch hoá ở cả ba phương diện: nhu cầu vốn, đầu tư xây dựng

- Kế hoạch thực hiện dự án bao gồm các hoạt động xây dựng, mua sắm
và lắp đặt máy móc, thiết bị đoà tạo, chạy thử có tải, bàn giao dự án đưa váo
sử dụng.
Điều kiện để được đưa vào kế hoạch thực hiện là dự án phải được thiết
kế và tổng dự toán được duyệt. Đối với dự án đầu tư lớn có nhiều công trình
hoặc có phân đoạn thi công trình hạng mục nào khởi công trong kế hoạch phải
có thiết kế và dự toán được duyệt.
Một dự án không được phép vừa ghi vào kế hoạch chuẩn bị đầu tư vừa
ghi vào kế hoạch chuẩn bị thực hiện.
2.3 Kế hoạch hoá tài chính dự án.
Kế hoạch hoá giải ngân các dự án ODA gắn liền với kế hoạch đầu tư
xây dựng của dự án và thường được xác định ngay trong báo cáo tiền khả thi.
- Vào tháng 6 hàng năm Bộ kế hoach và đầu tư thông tin cho các bộ các
địa phương khả năng nguồn vốn ODA thực hiện trong kỳ kế hoạch, những

23
chương trình dự án cần đẩy mạnh chuẩn bị các điều kiện, thủ tục xây dựng
mục tiêu ưu tiên đầu tư bằng vốn ODA của kỳ kế hoạch.
- Các chủ dự án lập kế hoạch rút vốn và sử dụng vốn ODA theo kế
hoạch căn cứ tiến độ thực hiện các dự án, các mục tiêu ưu tiên đã được hướng
dẫn các bộ, địa phương tính toán các nguồn vốn đầu tư trong kỳ kế hoạch cho
từng dự án, làm rõ khoản vốn nước ngoài, vốn đảm bảo trong nước báo cáo
lên Bộ Kế hoạch và đầu tư và Bộ tài chính vào tháng 8 hàng năm.
- Bộ Kế hoạch và đầu tư đề xuất tổng mức và cơ cấu vốn đầu tư của
toàn bộ nền kinh tế trong đó có vốn nước ngoài và vốn trong nước bảo đảm
thực hiện các cam kết quốc tế (dưới đây là vốn bảo đảm trong nước) cho các
dự án ODA. Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 9 hàng năm.
- Thủ tướng Chính phủ giao cho các bộ, địa phương chỉ tiêu tổng mức
vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước, có chia ra vốn trong nước vốn nước
ngoài và phân cho các kế hoạch.

 ODA là nguồn ngân sách quan trọng của Nhà nước.
Điều đó đòi hỏi một mặt lợi ích của các khoản ODA thuộc về toàn dân và
mặt khác việc phân phối và sử dụng ODA cho có hiệu quả thuộc quyền hạn
và trách nhiệm của Chính phủ theo luật ngân sách và các quy định hiện hành
của Chính phủ về quản lý ngân sách.
 Các dự án đầu tư phát triển vốn ODA phải chị quản lý Nhà nước.
Về đầu tư xây dựng thông qua các chiến lược phát triển kinh tế xã hội, các
quy hoạch và kế hoạch 5 năm, hàng năm cũng như các quy định của Chính
phủ về đầu tư và xây dựng.
 Đối với các dợ án ODA khả năng thu hồi vốn.
Chính phủ áp dụng cơ chế cho vay lại với các điều kiện không ưu đãi
hơn điều kiện chính phương cuẩ nước ngoài vừa góp phần tạo sự bình đẳng
trong cạnh tranh, vừa tạo ra nguồn vốn Chính phủ có thể chủ động tài trợ chéo
cho các dự ánkhác. Trên tinh thần đó Chính phủ đã ban hành một số văn bản
pháp quy có liên quan đến vai trò và trách nhiệm của các cơ quan Chính phủ
khác nhau và về các thủ tục cơ chế liên quan đến ODA. Dưới đây là nội dung
của các văn bản đó:
- Nghị định 20 CP ra ngày 15/3/1994 ban hành quy chế quản lý và sử
dụng ODA nội dung chủ yếu là:
+ Giao trách nhiệm giúp Thủ tướng Chính phủ trong quản lý ODA ở
tầm vĩ mô cho Uỷ bn kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế hoach và đầu tư ), Bộ
tài chính, Bộ ngoại giao, Ngân hàng Việt Nam và văn phòng Chính phủ trong
đó Bộ Kế hoạch và đầu tư là cơ quan đầu mối trong việc điều phối, quản lý và
sử dụng ODA.
+ Quy định các lĩnh vực ưu tiên sử dụng ODA.
Vốn ODA không hoàn lại được ưu tiên sử dụng cho phát triển cơ sở hạ
tầng xã hội (y tế, giáo dục ) vốn ODA vay ưu đãi được dùng để xây dựng cải
tạo hạ tầng kinh tế (điện, giao thông vận tải, thuỷ lợi).
+ Với tư cách là cơ quan đầu mối Bộ kế hoach và đầu tư phối hợp với
các bộ và cơ quan có liên quan soạn thảo quy hoạch định hướng ODA, xác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status